Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013

Sơ lược các dòng Thiền Việt Nam

Sơ lược các dòng Thiền Việt Nam
Nguyễn Hưng
Giới thiệu sơ lược các dòng Thiền Việt Nam, từ Khương Tăng Hội, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Trúc Lâm, Lâm Tế, Tào Động...

1. KHƯƠNG TĂNG HỘI VÀ KHỞI NGUYÊN THIỀN HỌC VIỆT
Khương Tăng Hội theo các nhà nghiên cứu lịch sử Phật giáo, có bố mẹ người Trung Hoa, nhưng sinh ra và lớn lên tại Giao Chỉ, sau đó sinh sống và qua lại nhiều ở Ấn Độ và Trung Quốc, trong khoảng đầu đến giữa thế kỷ 3.
Khương Tăng Hội được coi là đặt nền móng cho Thiền học Việt và góp phần phát huy Thiền học ở Trung Quốc. Theo các nhà nghiên cứu, Khương Tăng Hội đã trước tác và hành đạo tại Luy Lâu, trung tâm Phật giáo của Giao Châu.
Bộ tác phẩm quan trọng nhất được biết đến hiện nay của Khương Tăng Hội là Lục độ tập kinh. Theo Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh được dịch từ tiếng Việt ra tiếng Hán, như vậy, hoạt động học thuật về Phật giáo đã có cơ sở vững chắc và có yếu tố bản địa. Theo Nguyễn Lang, Lục độ tập kinh “không phải dịch từ Phạn ngữ” và “có những đoạn hoàn toàn do Khương Tăng Hội viết”.
Ngoài Lục độ tập kinh, tác phẩm quan trọng cho thấy tư tưởng Thiền của Khương Tăng Hội là “An Ba thủ ý”, diễn giải phép hành Thiền theo ảnh hưởng sâu đậm của giáo lý “không” và “chân như” của đại thừa. Theo Nguyễn Lang, Tăng Hội đã thực sự khơi mở cho Thiền học đại thừa bằng cách nói “tâm như uyên nguyên và chân như của vạn pháp”.
2. THIỀN PHÁI TỲ NI ĐA LƯU CHI
Hành trạng Tỳ Ni Đa Lưu Chi được nói đến ở sách “Thiền uyển tập anh”, ông “gốc ở Nam Thiên Trúc, vân du qua Trung Hoa; năm Nhâm ngọ (562) niên hiệu Đại Kiến thứ sáu nhà Trần đến Trường An.
Vào năm 574 sau khi Phật giáo bị Võ Đế đàn áp, ông đi về đất Nghiệp (Hồ Nam). Hồi đó, tổ thứ ba của Thiền tông Trung Hoa là Tăng Xán đang bị nạn ở đây, ẩn tại núi Tư Không” thì Tỳ Ni Đa Lưu Chi yết kiến Tăng Xán và được Tăng Xán khuyên mau mau đì về phương Nam”, ông liền đến Quảng Châu và vào Giao Châu năm 580, ở tại Pháp Vân Tự, tức chùa Dâu thuộc Luy Lâu.
Tỳ Ni Đa Lưu Chi chọn Pháp Hiến cũng ở chùa Dâu làm đệ tử, lập nên dòng Thiền mang tên mình. Theo các nhà nghiên cứu, dòng Thiền này truyền được 19 đời, từ năm 580 đến 1213.
Tư tưởng Thiền học Tỳ Ni Đa Lưu Chi chịu ảnh hưởng của Tăng Xán, bắt nguồn từ tư tưởng Bát Nhã, Hoa Nghiêm, trong đó có sự tiếp thu và giao thoa của các yếu tố Mật giáo Ấn Độ và coi “tâm ấn” như là một tinh hoa của giáo pháp đại thừa.
Thiền học Tỳ Ni Đa Lưu Chi bắt rễ vào mảnh đất Giao Châu như một hạnh duyên tỏ ra khá hoà đồng với tín ngưỡng bản địa, vốn là nơi dân cư đa thần giáo.
Trong khi diễn tả tư tưởng Thiền, hành pháp của phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi sử dụng sấm vĩ, thuật phong thuỷ và các yếu tố bản địa khác để hoằng dương Phật pháp, khuyến khích nhập thế ít ảnh hưởng Mật giáo Trung Hoa, qua đó ý thức dân tộc được tô đậm.
Theo Nguyễn Lang, “đây là một Thiền phái rất có tính cách dân tộc Việt Nam, vừa biểu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu việt của Phật giáo vừa biểu lộ dược đời sống thực tế và đơn giản của quần chúng nghèo khổ”
3. THIỀN PHÁI VÔ NGÔN THÔNG
Vô Ngôn Thông người Quảng Châu, họ Trịnh, xuất gia tu học tại chùa Song Lâm ở Vũ Châu. Niên hiệu Nguyên Hòa thứ 15 đường Đường (820). Vô Ngôn Thông đến Việt Nam, ở lại chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, nay thuộc Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội.
Vô Ngôn Thông thường thiền tọa, xây mặt vào vách, không nói năng gì. Nhiều năm trôi qua như thế, ít ai để ý, chỉ có sư Lập Đức tiếp nhận được tông chỉ màu nhiệm của Vô Ngôn Thông, được đổi tên là Cảm Thành và được truyền cho tâm pháp. Vô Ngôn Thông tịch vào năm 826; thời gian cư trú tại chùa Kiến Sơ chỉ có 6 năm.
Thiền phái Vô Ngôn Thông truyền được 17 đời, đến đầu thế kỷ 13.
Tư tưởng Thiền của Vô Ngôn Thông ảnh hưởng Phật giáo Trung Hoa sâu đậm hơn Tỳ Ni Đa Lưu Chi, biểu hiện ở việc tổ chức tu viện, sử dụng thoại đầu và đặc biệt là ảnh hưởng Tịnh Độ Giáo.
Kinh điển của Thiền Vô Ngôn Thông không chỉ là bộ Bát Nhã, mà còn nhiều bộ khác như Viên Giác, Pháp Hoa, nhấn mạnh giáo pháp “vô đắc” và “đốn ngộ”.
Nói cách khác, Thiền Vô Ngôn Thông khuyến khích các biện pháp tu chứng, tự cá nhân nhận thức thế giới bằng thiền định (vô đắc), đạt ngộ thì Tâm là Phật, Pháp cũng là Phật (đốn ngộ).
Do nguyên tắc “vô đắc” và giáo pháp “đốn ngộ” mà các thiền sư Vô Ngôn Thông coi trọng thực tế, nhập thế, có ảnh hưởng lớn đến xã hội.
4. THIỀN PHÁI THẢO ĐƯỜNG
Thảo Đường vốn là một nhà sư Trung Hoa tu ở Chiêm Thành, trở thành tù binh trong cuộc chinh phạt Chiêm Thành của vua Lý Thánh Tông vào năm 1069. Khi bị bắt về Đại Việt, do duyên kỳ ngộ mà Thảo Đường được vua Lý Thánh Tông phát hiện, trọng dụng, cho trụ trì chùa Khai Quốc, phong là Quốc sư, lập nên một dòng Thiền mang tên ông và chính vua Lý Thánh Tông là tổ thứ 2.
Thảo Đường là đệ tử Tuyết Đậu, một Thiền phái Trung Hoa, thuộc dòng Vân Môn. Thiền phái Tuyết Đậu có đặc điểm bác học, chuộng thi ca, dung hợp Nho giáo và Phật giáo. Do khuynh hướng đó, tư tưởng Thảo Đường tỏ ra hợp thời, khi mà thời Lý đạo Phật khá phát triển và đang có nhu cầu bắt rễ vào những Phật tử thuộc tầng lớp nho sĩ.
Theo “Thiền uyển tập anh”, có 6 thế hệ Thảo Đường, bao gồm 19 người được tôn là tổ, trong đó chỉ có 10 vị xuất gia, còn 9 vị là cư sĩ, phần lớn là vua quan.
Thảo Đường được đánh giá là dòng Thiền có khuynh hướng bác học, cầu nối quan trọng để dẫn đến sự ra đời của dòng Thiền thuần tuý Việt Nam là Trúc Lâm sau này.
5. THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
Tổ thứ nhất lập nên Thiên phát Trúc Lâm là vua Trần Nhân Tông, sau khi nhường ngôi thì lên núi Yên Tử, tu tại chùa Hoa Yên từ năm 1299.
Theo các nhà nghiên cứu, vua Trần Nhân Tông vốn được sư Huệ Tuệ trao truyền giới pháp. Huệ Tuệ là tổ thứ 5 của sơn môn Yên Tử, một dòng Thiền có tư tưởng bản địa, có ảnh hưởng của dòng Lâm Tế Trung Hoa, có những vị thiền sư nổi tiếng như vua Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ.
 Vua Trần Nhân Tông đã đưa sơn môn Yên Tử thành trung tâm Phật giáo, khai mở một dòng Thiền mới “thuần Việt” và trở thành người lãnh đạo “Giáo hội” đầu tiên của Việt Nam.
Tư tưởng của Trúc Lâm là hành đạo giúp đời, đưa đạo đến đời, mọi giáo pháp đều xuất phát từ khuynh hướng “nhập thế”. Do vậy, thực tại cuộc sống là một yếu tố cấu thành giáo pháp, dẫn đến việc hoằng dương Phật pháp trước tiên phải tôn trọng thực tế cuộc sống với đặc điểm dân tộc, làm cho dân tộc trường tồn.
Người được vua Trần Nhân Tông tôn là thày, chính là Tuệ Trung Thượng Sĩ, đã cho rằng hình thức xuất gia và tại gia đã trở thành không quan trọng, đó là nguyên tắc “hoà quang đồng trần”, một danh từ của Lão Giáo mà giới Phật tử đã dùng để diễn tả thái độ dấn thân và hòa mình của các vị bồ tát trong cuộc đời để phụng sự, tiếp nối tư tưởng “Phật tại Tâm” mà nhà vua Trần Thái Tông đã anh hội từ chính các vị tổ của Trúc Lâm Yên Tử.
Về phương diện lịch sử tư tưởng, Thiền phái Trúc Lâm có tầm quan trọng đặc biệt đến sự phát triển tư tưởng dân tộc Việt. Trên nền tảng tư tưởng của những Thiền phái Phật giáo đã có từ trước như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, có tiếp thu các Thiền phái Trung Hoa, đặc biệt là Lâm Tế (với biện pháp hành thiền quyết liệt), Thiền phái Trúc Lâm đã tổng hoà những tư tưởng đó, nâng cao về phương diện bác học, đưa Thiền học vào cuộc sống bằng cách coi trọng yếu tố thực tiễn Việt Nam.
Các tác phẩm cơ sở của Thiền học Trúc Lâm như Khoá hư lục, Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục đã diễn tả tư tưởng và giáo pháp đó.
Thiền sư Trúc Lâm đi thẳng vào thế giới thực chứng bằng cách tháo bỏ mọi hàng rào khái niệm, đó thực sự là biện pháp đốn ngộ mà Vô Ngôn Thông đã nhắc đến, nhưng nhấn mạnh đến yếu tố “tâm”, phá bỏ những ảo tưởng, khuyến thiện bằng cách lấy cá nhân và đời sống thực tại làm trọng. Chính vì vậy, Trúc Lâm thiền phái đã góp phần xây dựng triều đại đương thời, tổ chức xã hội, bồi đắp nhân cách Đại Việt.
Thiền phái Trúc Lâm truyền được 3 đời, sau vua Trần Nhân Tông, đến Pháp Loa, rồi đến Huyền Quang, rồi bị ngắt quãng cùng với thời kỳ Phật giáo suy vi, Nho giáo thống trị xã hội Đại Việt.
Khoảng thời Lê Trung Hưng, có phong trào phục hưng Thiền phái Trúc Lâm, do điều kiện xã hội Nho giáo suy yếu, song nền tảng cơ sở không đủ đưa Trúc Lâm trở lại những ngày rực rỡ như thời thế kỷ 14.
Đến giữa thế kỷ 20, cùng với phong trào chấn hưng Phật giáo, nhiều vị Thiền sư có ý tái lập Thiền Trúc Lâm, nhưng đây còn là vấn đề học thuật đang tranh luận.
6. MỘT SỐ DÒNG PHÁI TRONG PHONG TRÀO PHỤC HƯNG TRÚC LÂM THỜI LÊ - NGUYỄN
6.1. Thiền phái Lâm Tế đến Việt Nam và thiền sư Chuyết Chuyết Lý Thiên Tộ
Thiền sư Chuyết Chuyết tên Thiên Tộ, họ Lý, pháp danh là Hải Trừng, pháp hiệu là Viên Văn, thường được gọi là Chuyết Công, sinh năm 1590, tại quận Thanh Chương thuộc tỉnh Phúc Kiến. Năm 1630, ông rời Trung Hoa đến đất Cao Miên, qua Chiêm Thành sang Đại Việt, đến năm 1633, tới được kinh thành Thăng Long, ông và đệ tử ở lại chùa Khán Sơn và bắt đầu giảng dạy Phật pháp.
Sau khi hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc và công chúa Trịnh Thị Ngọc Duyên xuất gia tại chùa Phật Tích, chúa Trịnh Tráng bắt đầu cho trùng tu lại chùa Ninh Phúc ở Bút Tháp. Khi việc trùng tu hoàn tất, Chuyết Chuyết được mời sang trụ trì chùa Ninh Phước cho đến khi viên tịch. Hiện nay pho tượng nhục thân tại chùa Phật tích được cho là của Thiền sư Chuyết Chuyết.
Ông thuộc thế hệ thứ 34, dòng Lâm Tế ở Trung Quốc, truyền bá Thiền phái này ở Đại Việt. Điều đặc biệt của dòng Lâm Tế là hành pháp theo “tứ liệu giản”; công thức phân biệt và chọn lựa từng cấp bậc nhận thức nhìn theo chủ thể và khách thể.
6.2. Các thiền sư phái Lâm Tế Đàng Trong và môn phái Liễu Quán
Sau thời kỳ Nguyễn Hoàng cai trị phương Nam, từ đầu thế kỷ 17, hình thành trung tâm Phật giáo ở Thuận Hoá. Cùng với việc hùng cứ phương Nam, chống lại ảnh hưởng ngoại lai của các giáo sĩ phương Tây, các chúa Nguyễn chú ý phát triển Phật giáo nên mời nhiều cao tăng Trung Hoa sang Đàng Trong.
Phần lớn các thiền sư thuộc phái Lâm Tế đã trụ trì nhiều chùa quanh khu vực Thuận Hoá, trong đó có Thiền sư Viên Cảnh, Viên Chiếu, Nguyên Thiều... và nhiều Thiền sư khác, dẫn tới ra đời môn phái Liễu Quán.
Liễu Quán vốn là người làng Bạc Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, sinh năm 1670 trong một gia đình nghèo vào chùa từ năm 12  tuổi. Năm 1697, ông học Phật tại Thuận Hoá và sau nhiều năm chiêm bái các tổ đình khác nhau, cuối cùng năm 42 tuổi được Thiền sư Tử Dung nhận làm đồ đệ và hành đạo tại nhiều đạo tràng ở Thuận Hoá và Phú Yên. Ông mất năm 1742.
Theo các nhà nghiên cứu, Liễu Quán đã có công “Việt hoá” Thiền học Lâm Tế, để nó có màu sắc Việt Nam. Trước Liễu Quán, các đạo tràng Đàng Trong nhuôm màu Quảng Đông do các Thiền sư đến từ vùng Lưỡng Quảng Trung Quốc. Sau Liễu Quán, Lâm Tế chỉ còn học thuật phần hành đạo đã hoàn toàn mang tính bản địa; lấy yêu tố Việt để hoàng dương Phật pháp.
6.3. Thiền phái Tào Động ở Việt Nam
Tào Động từ Trung Hoa du nhập vào Việt Nam theo Thiền sư Thủy Nguyệt hiệu là Tông Giác, sinh năm 1936, quê làng Thanh Triều, ở Hưng Nhân, tỉnh Thái Bình. Sau khi du học ở Trung Hoa, ông cư trú tại chùa Vọng Lão ở núi An Sơn, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương và hoằng dương Phật pháp, có nhiều đệ tử, Phật tử.
Theo Nguyễn Lang, ở Đàng Trong Đại Việt, người đầu tiên truyền bá thiền Tào Động là thiền sư Hưng Liên, lập đạo tràng ở chùa Tam Thai Quảng Nam và được tôn làm quốc sư. Sau đó, Thiền sư Thạch Liêm từ Quảng Đông được chúa Nguyễn Phúc Trăn mời sang chùa Thiền Lâm, truyền Thiền phái Tào Động.
Tư tưởng Thiền của Thạch Liêm tiêu biểu của dòng Tào Động hành đạo Thiền Tịnh song tu, phối hợp Thiền định và Tịnh độ, đưa giáo pháp đến quảng đại quần chúng. Càng về sau, Tào Động càng đi gần với Lâm Tế ở Đàng Trong, hình thành xu hướng Lâm Tào song hợp ở các đạo tràng.
6.4 Chân Nguyên phục hưng Thiền phái Trúc Lâm ở Đàng Ngoài
Thiền sư Chân Nguyên họ Nguyễn tên Nghiêm, quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, sinh năm 1646, xuất gia năm 19 tuổi, học với thiền sư Chân Trú tại chùa Hoa Yên, được pháp danh là Tuệ Đăng.
Ông được truyền thừa y bát Trúc Lâm, làm trụ trì chùa Long Động và Quỳnh Lâm. Tư tưởng Thiền của Chân Nguyên lấy cơ sở là phát xuất trực tiếp từ kinh nghiệm về tự tính.
Theo Nguyễn Lang, “về phương diện phương pháp hành đạo, Chân Nguyên chủ trương rằng chìa khóa của sư đạt đạo là nuôi sáng ý thức mình về sự hiện hữu của tự tính “trạm viên”, nguồn gốc chân thật của mình. Ý thức được như vậy thì mọi ý nghĩ, mọi hành động của ta tự nhiên đi vào con đường giác ngộ, và không cử chỉ nào của ta mà không phải là mầu nhiệm thần thông: mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nêm, thân xúc và ý nghĩ. Đó là sự “vận dụng của lục căn” trên căn bản ý thức về tự tính giác ngộ”.
Chân Nguyên tịch năm 80 tuổi. Điều đóng góp quan trọng của Chân Nguyên là cổ suý phong trào học thuật, dịch và san định nhiều bộ kinh, tác phẩm Phật học, trong đó phần lớn những tác phẩm ấy còn đến ngày nay.
6.5. Hương Hải đưa Phật pháp vào đời sống
Thiền sư Hương Hải người làng Áng Độ huyện Chân Phúc (sau đổi là Chân Lộc rồi Nghi Lộc) tỉnh Nghệ An, tổ 4 đời theo chúa Nguyễn vào Đàng Trong, đến ông thì ngụ tại Phủ Thăng Bình (Quảng Nam). Sau nhiều năm tu hành, ông được chúa Nguyễn vời vào cung, sau bị vu cáo, ông bèn trốn ra Bắc năm 1683, năm đó ông 56 tuổi, cuối đời trụ trì chùa Xích Đằng, Kim Động, nay thuộc thành phố Hưng Yên.
Tư tưởng Thiền học của Hương Hải thiền sư là nhập thế, tiếp tục chủ trương lớn của Trúc Lâm nhưng theo giáo pháp mới, trong đó nhận thức luận của ông là đưa Phật đến chúng sinh, liên hệ tâm và cảnh, mê và ngộ, thiện và ác.

Source: phattuvietnam.net

Các tông phái Phật Giáo tại Việt Nam
I.- Dẫn nhập:
Chúng ta đã biết xưa kia Phật giáo từ Ấn Ðộ truyền thẳng sang Việt Nam; có thể, một số tông phái cũng được truyền sang Việt Nam nhưng không được truyền bá sâu rộng, dần dần bị thất truyền. Các tông phái Phật giáo Trung Hoa truyền sang Việt Nam, có lẽ cũng gần giống như vậy, riêng về Thiền Tông, Tịnh Ðộ Tông, Mật Tông vẫn còn được truyền thừa. Có thể nói, tại Việt Nam có những nét đặc thù, nên có những tông phái phát sinh tại Việt Nam, những tông phái này cả Ấn Ðộ lẫn Trung Hoa đều không có, chúng ta lần lượt tìm hiểu từng tông phái chính tại Việt Nam.
II.- Các tông phái chính:
1- Thiền Tông: Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma là vị Tổ thứ 28 truyền thừa từ đệ nhất Tổ Ca Diếp, từ Ấn Ðộ sang Trung Hoa hoằng dương chánh pháp, Ngài trở thành đệ nhất Tổ Thiền Tông Trung Hoa. Nhiều thiền sư đã sang Việt Nam truyền bá thiền tông, trong số đó có Tỳ Ni Ða Lưu Chi, đệ tử của đệ tam Tổ Tăng Xán sang Việt Nam năm 520, thành lập phái thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi, đệ tử của đệ cửu Tổ Bá Trượng Hoài Hải là Vô Ngôn Thông sang Việt Nam năm 820, thành lập phái thiền Vô Ngôn Thông, đệ tử của thiền sư Tuyết Ðậu Minh Giám (980-1052) thuộc phái Văn Môn, là ngài Thảo Ðường bị bắt làm tù binh khi vua Lý Thánh Tôn chinh phạt Chiêm đem về Thăng Long năm 1069, sau đó phát hiện ngài là thiền sư liền được thả ra, ngài đã thành lập phái Thiền Thảo Ðường và vua đã phong ngài làm Thảo Ðường Quốc Sư. Các phái thiền trên đều thất truyền.
Hậu bán thế kỷ thứ 17, có ngài Nguyên Thiều thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 33, từ Trung Hoa sang Ðồng Nai rồi lần ra Bình Ðịnh, Huế truyền bá Thiền Tông. Tiền bán thế kỷ thứ 18, có ngài Liễu Quán Thiệt Diệu đệ tử của ngài Tử Dung Minh Hoằng cũng thuộc dòng Lâm Tế truyền thừa do nguồn gốc của hai vị Thiền Sư này, có hai bài kệ truyền thừa, theo đó có thể biết được vị nào thuộc đời thứ mấy của dòng Lâm Tế.
Ngày nay ở nước ngoài, có thiền sư Nhất Hạnh rất nổi tiếng không những trong cộng-đồng người Việt ở hải ngoại mà cả ở người ngoại quốc nữa, thiền sư Nhất Hạnh có du học ở Mỹ, vào thập niên 60 thiền sư lập dòng tu "Tiếp Hiện". Ngài là giám đốc Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, thuộc viện Ðại Học Vạn Hạnh, về địa hạt văn học nghệ thuật Ngài còn được biết như một nhà văn lớn, những hoạt động chống chiến tranh của Thiền sư và cho một nền hòa bình ở Việt Nam đã được nhà lãnh tụ da đen của Mỹ, Martin Luther king, Jr. đề nghị giải Nobel về Hoà Bình, thiền của ngài thuộc Như Lai Thiền.
Ở trong nước có thiền sư Thanh Từ, trước ngài ở trong đoàn Như Lai sứ giả của Giáo Hội tăng già Nam Việt, cùng với ngài Huyền Vi đi thuyết pháp khắp lục tỉnh. Sau này thiền sư Thanh Từ chuyên giảng dạy về thiền. Ngài lập ra những tu viện Chơn Không, Thường Chiếu, Linh Chiếu... Thiền của Ngài có khuynh hướng Tổ sư Thiền. Cả hai vị thiền sư Nhất Hạnh và Thanh Từ, thập niên 50 và 60 đều có ở chùa Ấn Quang, và có am thất ở vùng Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
2- Tịnh Ðộ Tông: Là một tông phái lấy pháp môn niệm danh hiệu A Di Ðà, để cầu được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc do Ðức Phật A Di Ðà là Giáo Chủ, tông này lấy Kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, và Tiểu Bản A Di Ðà làm căn bản.
Ngài Tuệ Viễn (334-416) là đệ nhất Tổ Tịnh Ðộ Tông Trung Hoa, tại Lư Sơn ngài dựng chùa Ðông Lâm và trụ trỉ ròng rã 30 năm không hề xuống núi, nơi đây ngài lập ra hội Niệm Phật gọi là Bạch Liên Xã, có 123 người, trong đó có 18 vị gọi là "Ðông Lâm Thập Bát Hiền".
Những vị Tổ Tịnh Ðộ Tông Trung Hoa lần lượt được tôn vị như sau: 1) Tuệ Viễn, 2) Thiện Ðạo, 3) Thừa Viễn, 4) Phát Chiếu, 5) Thiếu Khương, 6) Diên Thọ, 7) Tỉnh Thường, 8) Châu Hoằng, 9) Ngẩu Ích, 10) Hành Sách, 11) Tỉnh Am, 12) Triệt Ngộ, 13) Ấn Quang.
Ở miền Nam, có cư sĩ Minh-Trí thành lập "Tịnh Ðộ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam", tổ đình đặt tại Minh Hưng Tự số 101 đường Lý Chiêu Hoàng, quận 6, thành phố Sài gòn, xây cất năm 1934. Hội này chọn phương pháp Phước Huệ song tu lấy pháp môn niệm Phật làm căn bản, mỗi chùa thuộc hội đều có một phòng thuốc Nam để hốt thuốc chữa bệnh miển phí cho đồng bào. Ngài Minh Trí được tôn xưng là Giáo chủ Tịnh Ðộ Cư Sỉ Phật Hội Việt Nam.
Ông Ðoàn Trung Còn, một dịch giả Phật Học nổi tiếng trong nhiều thập kỷ qua. Năm 1955, chư Hòa Thượng Chơn Mỹ trụ trì chùa Giác Hải Phú Lâm Chợ Lớn, Hòa Thượng Chơn Minh, trụ trì chùa Giác Chơn, Chợ Lớn cùng ông Lý Trung Hiếu, Đốc công, Sở Công Chánh Sàigòn đã thành lập Giáo Hội Tịnh Độ Tông Việt Nam, trụ sở đặt tại chùa Giác Hải, sau dời về Liên Tông Tự, 145 đường Ðề Thám, quận I, thành phố Sàigòn, Vào thập niên 60, ông Đoàn Trung Còn xuất gia, trở thành tu sĩ, pháp danh Hồng Tại, ông giữ chức vụ Trị sự trưởng của Giáo Hội nầy, ông đã viên tịch năm 1988.
Các chùa thuộc hệ phái Non Bồng của Hòa Thượng Thích Thiện Phước, ở tổ đình Linh Sơn Cổ Tự trên núi Dinh, gần Thị Trấn Bà Rịa, cũng thuộc giáo hội Tịnh Ðộ Tông này, Hòa Thượng Thiện Phước đã viên tịch năm 1986, nay do ni sư Huệ Giác thống lãnh Tăng, Ni của gần 50 ngôi chùa khắp Miền Nam và Nam Trung Phần. Tông môn này thực hành rốt ráo theo pháp môn Niệm Phật. Ngoài những thời công phu, chấp tác, vào 11 giờ đêm đều dành riêng một thời niệm Phật A Di Ðà. Riêng Nhất Nguyên Bửu Tự ở Xã Vĩnh Phú (Lái Thiêu), huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé, hàng năm đều có tổ chức Khóa Bá Nhật Niệm Phật (100 ngày đêm liên tục niệm Phật). Từ năm 1964 bắt đầu tổ chức khóa Niệm Phật này, khai kinh vào đêm mồng 7 tháng 8 và hoàn kinh vào đêm 16 rạng ngày 17 tháng 11, nhằm ngày vía Ðức A Di Ðà Phật. Bất cứ ai cũng có thể đến đây niệm Phật 1 thời (2 giờ), một buổi, một ngày, nhiều ngày hay cả khóa, việc ăn ở do chùa cung cấp, phật tử chỉ có chuyên dùng thì giờ niệm Phật mà thôi. Mỗi năm phật tử Biên Hòa, Bình Dương, Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Vĩnh Long, Long Xuyên... đều về đây tham gia khóa Niệm Phật, người ta thường nói "cửa chùa rộng mở", đặc biệt chùa này không có cánh cửa để đóng hay mở.
Quan Âm tu viện, ở phường Bửu Hòa (gần Cầu Hang, Biên Hòa), thành phố Biên Hòa, tỉnh Ðồng Nai, do ni sư Huệ Giác làm viện chủ, Phật tử đi hành hương, viếng chùa, nhằm giờ thọ trai, đều được dọn một phần ăn như phần thọ trai của chư Tăng Ni ở chùa, những năm khó khăn về thực phẩm, chùa vẫn giữ được nề nếp nầy, mặc dù Tăng Ni sáng cháo, trưa cơm, chiều cháo.
Tịnh Độ Tông ngày nay có lẽ hệ phái Non Bồng, là một hệ phái lớn nhất có nhiều chùa từ miền Tây, miền Đông và miền Trung Việt Nam.
3- Mật Tông: Là một tông phái đặc biệt, do ba vị đại học giả của Mật giáo là Thiện Vô Úy, Kim Cương Trí, và Bất Không đem Mật giáo từ Ấn Ðộ truyền sang Trung Hoa gọi là Mật Tông, y vào giáo lý bí mật của Kinh Ðại Nhật, Kinh Kim Cương Ðính gọi là Mật Tông hay Chơn Ngôn Tông.
Mật Tông có "tam mật", nêu về ý thú thực tiễn tu hành, khi tu tới Tam Mật Tương Ứng với nhau, tức là "Tức thân thành Phật", nghĩa là tay thì kiết ấn "Thân mật", miệng đọc chú "Khẩu mật", ý trụ Tam ma địa "Ý mật".
Trong Nam, có Hòa Thượng Nhẫn Tế thế danh Nguyễn Văn Tạo sanh năm 1889 tại thôn An Thánh (nay là thị trấn Lái Thiêu), tỉnh Bình Dương, hâm mộ đạo Phật từ nhỏ, năm 1904, được 16 tuổi ngài đến chùa Thiên Tôn trong vùng, quy y với Hòa Thượng Ấn Thành - Từ Thiện, pháp danh Chơn Phổ. Sau khi học hành xong, Ngài đi làm việc nhưng vì có bệnh nên xin nghỉ dưỡng bệnh.
Năm 1926, chùa Thiên Thai ở Bà Rịa có giới đàn, Ngài đến xin thọ giới do Đầu đàn Hòa Thượng Huệ Đăng truyền giới, Ngài được ban pháp danh Trừng Liễn, pháp hiệu Minh Tịnh thuộc đời thứ 42 Thiên Thai Thiền Giáo Tông.
Năm 1933, chùa Thiên Tôn mở Đại giới đàn, Ngài xin thọ giới do Đầu dàn Hòa Thượng Ngộ Định - Từ phong truyền giới, Ngài được ban pháp hiệu Nhẫn Tế, đệ tử nối pháp đời thứ 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh chùa Thiên Tôn.
Ngày 17-4-1935, Ngài lên tàu đi sang Ấn độ, chiêm bái và học Phật, có sang Népal nhận được Xá lợi Phật, rồi sang Tây Tạng ngày 28-6-1936, được yết kiến Nhiếp chánh Quốc vương Tây Tạng, được Lạt ma Nhiếp chánh nhận là tu sĩ Tây Tạng, ban cho pháp danh Thubten Osall Lama (Huệ Phát), ngài đắc pháp Mật Tông Tây Tạng. Đến ngày 29-10-1936, Ngày rời khỏi Tây Tạng, trở lại Ấn độ học hỏi thêm một thời gian rồi mới trở về xứ. Ngài đặt chân lại am thất cũ của mình tại Bình Dương ngày 30-6-1937.
Tại Phú Cường có ngôi chùa Bửu Hương, Phật tử tại đây quy ngưỡng nên dâng cúng chùa cho Ngài, Ngài đổi tên là Tây Tạng tự, từ đó Ngài tu và truyền bá Mật tông, nhưng vì Phật giáo thời đó, nên Mật Tông của ngài Nhẫn Tế không lan rộng, không lập nên Giáo Hội.
Hòa thượng Nhẫn Tế viên tịch ngày 17-5-1951, thọ 63 tuổi đời, đắc 25 hạ lạp, là một Lama Việt Nam đầu tiên, được chính Nhiếp chánh quốc vương Tây Tạng ấn chứng.
Ở Huế có Mật tông lưu truyền, thập niên 60, Hội Phật Học Nam Việt có thỉnh chư Tăng từ Huế vào chùa Xá Lợi làm lễ Trai Ðàn Cứu Tế, những vị Tăng nầy đã hành lễ theo nghi thức Mật Tông Trung Hoa.
Thích Viên Ðức có dịch một BỘ MẬT TÔNG gồm những sách : Hiển Mật Viên Thông Thành Phật Tâm yếu, Kinh Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương, Kinh Chuẩn Ðề Ðà La Ni Hội Thích (hay Kinh Thất Cu Chi Phật Mẫu Sở Thuyết), Kinh Mạt Pháp Nhất Tự Ðà La Ni.
4- Phật giáo Nguyên Thủy: Phái này do Hòa Thượng Hộ Tông lập ra, ngài tục danh là Lê văn Giảng, sanh năm 1893 tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Ðốc, ngài có bằng Bác sĩ thú y và lập nghiệp tại Kampuchea. Năm 1914, được 21 tuổi, ngài lập gia đình, nhưng đến năm 1925, được 32 tuổi, ngài phát tâm tìm đạo. Sau khi tu tập qua nhiều pháp môn, đến năm 1936, ngài quyét chí thực hành Lục Ðộ Ba La Mật, có thì giờ thì dành cho thiền định và có của cải là bố thí. Ngài bỏ tiền ra xây trường học để dạy tiếng Pali, cất một ngôi chùa ở Kampuchea để cho Việt kiều có nơi thọ Bát quán trai.
Ðến năm 1939, theo lời thỉnh cầu của cư sĩ kỹ sư Nguyễn văn Hiếu, Ngài Hộ Tông về Tịnh Xá ở Gò Dưa, Thủ Ðức mở đạo và năm 1949 ngài Hộ Tông cùng ông Nguyẽn văn Hiếu đứng ra xây chùa Kỳ Viên Tự, 610 đường Nguyễn Ðình Chiểu, quận 3, thành phố Saigon. Năm 1950 Kỳ Viên Tự hoàn thành như ngày nay. Chùa có tên là Jetavana Vihara Kỳ Viên Tự, sân trước bên phải chùa, ngay góc đường Nguyễn Ðình Chiểu, Bàn Cờ có trồng cây Sa La, lấy gốc từ Ấn Ðộ (Sa La Song Thọ, nơi đức Thế Tôn nhập diệt), hoa trổ quanh năm, màu phơn phớt tím như hoa sen nhỏ, trông rất đẹp, tỏa hương thơm. Chánh điện ở trên 2 tầng tượng Phật có tôn trí Xá Lợi Phật do Ðại Ðức Narada tặng.
Ông Nguyễn văn Hiếu sanh năm 1896 tại làng Tân An, tổng Ðịnh Bảo, hạt Cần Thơ, ông đậu bằng Cao Ðẳng kỹ thuật Công Chánh của trường Cao Ðẳng Công Chánh Hà Nội năm 1919, ông được bổ đi làm việc ở Kampuchea. Năm 1925 đổi về làm ở sở Hỏa Xa Saigon. Năm 1930, nhân đọc cuốn La Sagesse de Bouddha (Tuệ Giác của Phật), ông phát tâm đem Phật giáo Nguyên Thủy vào Việt Nam. Khởi đầu, ông cất "cốc" ở Vườn Xoài, khu Trương Minh Giảng để tập thiền, có số thân hữu tham gia đông, ông cất một chòi lá lớn ở Tân Sơn Nhất, để huynh đệ có nơi tu Thiền và luận đạo. Năm 1938, ông dở chòi lá về Gò Dưa dựng thành Tịnh Xá. Năm 1939, ông thỉnh đại đức Hộ Tông, Thiện Luật, Huệ Nghiêm và một vị sư Kampuchea về tịnh xá mở đạo, đồng thời ông thỉnh đại đức Vua Sãi Chuôn Nath và 30 vị sãi Kampuchea đến làm lễ Sima (Kiết giới) đặt tên chùa là Batana Hamayarama (Bửu Quang Tự) Ông thật là một vị Hộ Pháp, nhờ đó giáo phái Nguyên Thủy Việt Nam được thành lập và có nguồn gốc từ Kampuchea truyền sang.
Phật giáo Nguyên Thủy tức là Giáo Phái Tiểu Thừa, kinh điển theo Pali tạng, ăn mặn mỗi ngày một bữa ăn vào giờ Ngọ (12 giờ trưa) cũng tụng kinh và ngồi thiền.
Năm 1958 Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy được thành lập, ngài Hộ Tông giữ chức Tăng Thống đầu tiên, đến năm 1971, ngài đã 80 tuổi lại đãm nhiệm chức vụ này thêm 2 nhiệm kỳ đến năm 1974. Gíáo Hội Phật giáo Nguyên Thủy và Hội Phật giáo Nguyên Thủy đều có tham gia thành lập Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất vào ngày 20 tháng 11 năm 1963 tại chùa Xá Lợi Saigon.
5- Giáo Phái Khất Sĩ: Giáo phái này do Tổ Sư Minh Ðăng Quang thành lập. Tổ sư thế danh là Nguyễn Thành Ðạt tự Lý Huờn, sanh ngày 26 tháng 9 năm Quý Hợi (nhằm 4-11-1923) tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Con ông Nguyẽn Toàn Hiếu và bà Phạm Thị Ngà, bà thọ thai 12 tháng mới sanh ra ngài, 9 tháng sau bà mất.
Năm 1937, được 14 tuổi, Ngài xin phép phụ thân lên Phnom Pênh tầm sư học đạo. Ngài tu học ở đây đến năm 1941, được 4 năm rồi trở về nhà lập gia đình để lo tròn chữ hiếu, lúc ấy Ngài được 18 tuổi, năm sau vợ con đều mất vì bệnh. Năm sau 1943, được 20 tuổi, Ngài quyết chí đi tu, vân du vùng Thất Sơn tầm sư học đạo. Mùa Xuân năm 1944, Ngài ở Hà Tiên tham thiền, thâm nhập lý pháp. Ðến rằm tháng Bảy năm này chủ chùa Linh Bửu Tự làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho, thỉnh ngài về trụ trì, Ngài khai đạo từ đó.
Năm 1946, Ngài bắt đầu dẫn đoàn Du Tăng đi hành đạo ở Mỹ Tho, Gò Công, Long An, Thủ Thừa, Bến Lức, Phú Lâm, Chợ Lớn, Bà Chiểu, và các tỉnh miền Ðông. Năm 1953, một tịnh xá đầu tiên được xây dựng tại Ðồng Ông Cộ (Bà Chiểu, tỉnh Gia Ðịnh). Ðến mồng một tháng hai năm Giáp Ngọ (5-3-1954) từ Vĩnh Long du hóa sang Cần Thơ, đến Bình Minh, địa phận của tướng Trần văn Soái. Ngài bị bắt cùng với một chú tiểu, chú tiểu về sau được thả ra, còn Tổ sư mất tích từ đó.
Tổ sư Minh Ðăng Quang đã dung hợp Nam và Bắc Tông, định ra hạnh Sa Môn Khất Sĩ:
Nhất biểu thiên gia phạn,
Cô thân vạn lý du.
Dục cùng sanh tử thọ,
Khuất hóa độ xuân thu.
Có nghĩa:
Một bầu cơm ngàn nhà,
Riêng mình vạn dậm xa.
Muốn thoát vòng sống chết,
Xin hóa tháng ngày qua.
Theo tôn chỉ của giáo phái này, người Du Tăng khất sĩ: Với bộ áo vàng choàng một bên, đầu đội trời, chân đạp đất, trong người không giữ tiền bạc, tay bưng bỉnh bát, nhà sư đi khắp nẽo đường đất nước hành đạo, hóa duyên.
Năm 1965, bên Tăng chúng thành lập năm đoàn du tăng so Trưởng Lão Giác Tánh và các Thượng Tọa Giác Chánh, Giác An, Giác Nhơn, Giác Lý làm trưởng đoàn. Bên Ni chúng cũng có 5 đoàn do quý Ni Cô Huỳnh Liên, Ngân Liên, Trí Liên, Diệu Liên, Tạng Liên làm trưởng đoàn. Các đoàn đã du hóa khắp Nam phần và Miền duyên hải Trung phần. Năm 1966, Giáo Hội tăng Gìa Khất Sĩ Việt Nam được thành lập, có pháp viện Minh Ðăng Quang ở ngã ba Cát Lái, xa lộ Biên Hòa. Hội đồng lãnh đạo trung ương gồm Viện Chỉ Ðạo do Thượng Tọa Giác Nhiên làm Tổng Trị Sự. Gần đây các giáo đoàn không còn đi khất thực nữa vì Cộng Sản không cho phép.
Giáo phái khất sĩ mặc y và du hóa như Nam Tông. Tăng Ni trường chay, kinh điển viết theo lối văn vần. Sau 10 năm hành đạo, tổ sư Minh Ðăng Quang lưu lại giáo lý gồm có: Bồ Tát Giáo, và bộ sách CHÂN LÝ. Ngài dạy Tăng chúng: Sống là sống chung, biết là học chung, linh là tu chung.
Ngày nay, vì các ngài Giác Chánh tuổi cao nẻn Thượng Tọa Giác Toàn điều hành giáo hội khất sĩ. Trụ sở tại Trung Tâm Tịnh Xá Gia Ðịnh. Có khoảng 300 ngôi tịnh xá khắp miền Nam, ở hải ngoại Hòa Thượng Giác Nhiên là Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Gìa Khất Sĩ Thế Giới, có trên 20 tịnh xá thuộc giáo phái này ở Hoa Kỳ.
6- Phật Giáo Hòa Hảo: Tông phái này do Ðức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng, Ngài tên thật là Huỳnh Phú Sổ, sinh năm Kỷ Mùi 1919, tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, Tỉnh Châu Ðốc. Thân sinh ngài là ông Huỳnh Công Bộ. Thuở thiếu thời, ngài học đến bậc tiểu học (ngày trước) ở trường tiểu học Tân Châu, trước Ngài từng vân du vùng Thất Sơn, đến ngày 19-5- năm Kỷ Mão (nhằm 5-7-1939), Huỳnh Phú Sổ khai đạo tại làng Hòa Hảo, thuở đó tín đồ tôn xưng là Thầy hay Ðức Thầy, Ngài có biệt hiệu là Hồng Vân Cư Sĩ và Hòa Hảo. Sấm giảng Thi Văn toàn bộ của ngài dày 500 trang.
Phật giáo Hòa Hảo (PGHH) có truyền thống của Bửu Sơn Kỳ Hương, truyền bá phật giáo trong giới nông dân, tu tại gia, có tôn chỉ "Học Phật, Tu Nhân", thực hành tứ ân: 1) Ân Tổ tiên cha mẹ 2) Ân Ðất Nước 3) Ân Tam Bảo 4) Ân Ðồng Bào Nhân loại. Triệt để bài trừ mê tính như đốt vàng mã, thầy bùa, thầy pháp...không cất chùa mới, chỉ cất Ðộc Giảng đường để ngày rằm, mồng một, tín đồ đọc Sấm giảng, đó là những lời răn dạy, khuyến tu của Ngài theo thể văn vần.
Tín đồ PGHH cũng quy y tam bảo, giữ ngũ giới, ăn tứ trai, thập trai và trường trai, đàn ông để búi tóc và râu, trong nhà có một bàn thờ Cửu Huyền thất tổ, bên trên là tấm trần điều, tượng trưng cho tịnh độ, ngoài sân có bàn thờ thông thiên phải lạy bốn phương, bài nguyện, Ðức Thầy đặt theo thể văn vần. Cúng lạy ở bàn thờ trong nhà thì khởi đầu cầm hương xá 3 xá, quỳ xuống chấp tay ngay trán nguyện:
Cúi kính dưng hương trước Cửu Huyền,
Cầu trẻn Thất Tổ chứng lòng thiềng.
Con nay tỉnh ngộ quy y Phật,
Chí dốc tu hành đạo phước duyên.
Cắm hương rồi đứng ngay thẳng, chắp tay vào ngực đọc tiếp:
Cúi đầu lạy tạ Tổ Tông,Báo ơn sanh dưỡng dày công nhọc nhằn.
Rày con xin giữ đạo hằng,
Tu cầu Tông Tổ siêu thăng Phật đài.
Nguyện làm cho đẹp mặt mày,
Thoát nơi khổ hải Liên đài được lẻn.
Mong nhờ Ðức Cả bề trên,
Ðộ con yên ổn vững bền cội tu. (Lạy 4 lạy)
Thời gian hành đạo, Ðức Thầy đi khắp miền Hậu Giang giảng đạo, tín đồ đi nghe giảng đông hàng nghìn, cho nên thường tổ chức nơi công cộng như ở nhà lồng chợ hay nhà Tín đồ có sân rộng, thực dân Pháp sợ ảnh hưởng của Ngài, năm 1940, đem an trí Ngài trong nhà thương Chợ Quán, giữa năm 1941 đưa Ngài đi biệt xứ ở Bạc Liêu, đến cuối năm 1942 lại đưa Ngài trở về Saigon. Vào ngày 21-9-1946, Ngài lập đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội, gọi tắt là Việt Nam Dân Xã Ðảng. Ngài tham gia Uỷ ban Hành Chánh Nam Bộ, vào mật khu ở Miền Ðông với lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn.
Ngài đã đi dự Hội Nghị với Việt Minh (Nay là cộng sản Việt Nam) do Bửu Vinh mời, họp tại làng Tạ Phú, Ðốc Vàng, tỉnh Long Xuyên, ngay trong phiên họp, họ đã tắt đèn và nổ súng, cận vệ của Ngài chạy thoát về báo lại, ngay đêm đó, có thủ bút của Ngài viết, gửi cho các Tư lệnh Lực lượng PGHH:

Ông Trần Văn Soái và Ông Nguyển Giác Ngộ;
Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu Vĩnh, bỗng có sự biến cố xảy ra, tôi và ông Vĩnh xuýt chết, chưa rõ nguyên nhân, còn điều tra, trong mấy anh em phòng vệ không biét chết hay chạy đi, nếu có ai về báo cáo rằng tôi bị bắt hay mưu sát thì các ông đừng náo động.
Cấm chỉ đồn đãi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu, hảy đóng quân y tại chỗ.
Sáng ngày, tôi sẽ cùng ông Bửu Vĩnh điều tra kỹ lưỡng rồi sẽ về sau.
Phải triệt để tuân lịnh.
Ngày 16-4-1947 : 9 giờ 15 đêm
Ký tên: S
Từ đó người ta không có tin tức về Ngài, có lẽ Cộng Sản đã hảm hại Ngài sau khi đã viết lá thư đẻm đó. Ngài mới có 27 tuổi. Ngài chẳng những là một vị giáo chủ PGHH mà còn là một lãnh tụ quốc gia chân chính, tiến bộ, nhiệt tâm yêu nước.
Ðức Huỳnh Giáo Chủ tổ chức PGHH có quy củ từ thôn ấp đến làng, quận, tỉnh và trên hết là Ban Trị Sự Trung Ương đặt trụ sở tại Tổ Ðình An Hòa Tự nơi Thánh Ðịa Hòa Hảo.
Ðảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội, có một lực lượng quân sự, là một tổ chức kháng chiến chống Pháp, chống chế độ độc tài khủng bố của Cộng Sản Việt Minh, lực lượng này gồm quân đội củ Tướng Trần Văn Soái tự Năm Lửa, Tổng Tư Lịnh Lực Lượng PG Hoà Hảo, Tổng Hành Dinh ở Cái Vồn, Cần Thơ. Tướng Lâm Thành Nguyên tự Hai Ngoán, Phó Tổng Tư Lệnh, tổng hành dinh ở Cái Dầu, Châu Ðốc. Tướng Nguyễn Giác Ngộ, tự Nguyễn Trung Trực, tổng hành dinh ở Chợ Mới, Long Xuyên. Tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt, tổng hành dinh ở Thốt Nốt, Long Xuyên. Các lực lượng võ trang trên, năm 1954 đều về hợp tác với chánh phủ Ngô Ðình Diệm. Riẻng tướng Lê Quang Vinh sau khi Hội Nghị với đại sứ Nguyễn Ngọc Thơ vùng Ðồng Tháp Mười trở về, đã bị một đồn Bảo An ở Hòa Bình Thạnh (Chắc Cà Ðao) bắt, giải về nhà lao Cần Thơ, ra Tòa Án binh, bị xử tử hình tại sân vận động Cần Thơ.
PGHH dưới chế độ Ngô Ðình Diệm cũng bị đàn áp như các tôn giáo khác, phải đợi sau cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 thành công, trung tướng Nguyển Giác Ngộ là Ủy viên đặc trách tôn giáo trong Hội Ðồng tướng lãnh, từ đó PGHH có cơ hội phục hồi tổ chức. Ngày 18-11-1964, Hội Ðồng Trị Sự trung ương Giáo Hội PGHH được thành lập. Theo kiểm kê năm 1965, PGHH chỉ có một ít chùa, có 390 Ðộc giảng đường, tín đồ chừng 4 triệu ở khắp các tỉnh Nam Phần, đặc biệt các tỉnh có đông đảo tín đồ là Châu Ðốc, Long Xuyên, Sa Ðéc, Rạch Gía, Cần Thơ, Vĩnh Long.
III.- Kết Luận:
Hiểu được những tông phái chính của Phật Giáo Việt Nam hiện nay, giúp chúng ta biết rõ nguồn gốc, pháp môn tu tập, để chọn lựa cho mình tông phái thích hợp, nhờ đó sự tu học ngày càng tinh tấn.

Sách tham khảo:
- THÍCH THANH KIỀM Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Vạn Hạnh ,Saigon, 1964.
- Linh Sơn Phật học nghiên cứu Hội, Ðặc san, Phật Học Tùng Thơ, Saigon, 1958.
The Quest, The Theosophical Publishing house, Wheaton, IL, Winter 1991.
- VIETNAM NEWS, Nguyệt san số 7, Việt Nam Publishing Inc. Atlanta, GA, 1994.
- Ðức Huỳnh giáo chủ, Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ, vppghhHn, Ấ n tống lần 2, năm 1984.

Vĩnh Bảo sưu tầm 18/12/2013

CẬN CẢNH PHO TƯỢNG KỲ LẠ NHẤT VIỆT NAM





5 Pho tuong 1CẬN CẢNH PHO TƯỢNG

KỲ LẠ NHẤT VIỆT NAM

Có lẽ nhiều người ở Hà Nội không hề hay biết rằng giữa thủ đô có một bức “dị tượng” không giống với bất kì bức tượng Phật nào khác.
Chùa Hòe Nhai (Hà Nội) không quá xa lạ với những cư dân của thủ đô, đất tổ của phái Tào Động Việt Nam, nhưng có lẽ không nhiều người đã từng nhìn thấy bức tượng một ông vua đời Hậu Lê hàng ngày hàng giờ phủ phục, và trên lưng ông, là Phật Thích Ca.
Pho tượng này là kết quả từ một cuộc pháp nạn của các tăng ni Phật giáo Việt Nam năm 1678. Khoảng thời gian hậu Trần đó, Phật giáo không còn được đứng ở vị trí quốc giáo nữa, thay vào đó là Nho giáo thịnh hành hơn bao giờ hết.
Đỉnh điểm là đến thời vua Lê Hy Tông đã có một sắc lệnh đuổi hết các sư sãi lên rừng, ai không đi sẽ bị trừng trị nặng nề. Đạo Phật khi đó đã phải trải qua một thời kỳ nhọc nhằn. Một trong số những hòa thượng đắc đạo pháp danh Tông Diễn, được biết đến với tên Tổ Cua, Tổ Cáy cũng bị buộc phải đi qua con đường hoặc sinh hoặc tử này.
Không cam tâm thấy tăng chúng phải trải qua pháp nạn quá nặng nề đó, hòa thượng Tông Diễn đã tìm cách len lỏi trở lại kinh thành Thăng Long, tìm cách giáo hóa vị vua Lê Hy Tông đầy quyền uy và kì thị, vị vua mà sau này, nguyện phủ phục dưới Phật để sám hối những lỗi lầm đã phạm.
5 Pho tuong 2
Để cảm hóa được vua Lê Hy Tông, hòa thượng Tông Diễn đã cho một tấm biểu viết sẵn vào một chiếc hộp chuyển vào cho vua Hy Tông. Trong biểu chỉ có những điều đơn thuần dễ hiểu như : hãy nhìn vào đời Trần, đời Lý, các vua hết sức coi trọng đạo Phật và rồi quốc gia thịnh trị, đạo Phật khiến người ta biết ăn uống đúng mực, không sân si, không giết người cướp của, nó như một viên ngọc quý của quốc gia, vậy tại sao cho đến giờ đạo Phật lại bị cho rằng không mang lại lợi ích gì cho xã hội…
Vua Hy Tông mở chiếc hộp và đọc chiếu mới bừng tỉnh, cho vời hòa thượng Tông Diễn vào trò chuyện. Sau khi nghe hòa thượng thuyết pháp, bèn rút lại sắc lệnh đã ban. Vua Hy Tông từ đây hết sức sửa mình, tự nguyện đề nghị với hòa thượng Tông Diễn rằng nên làm một bức tượng mà trong đó, vua phủ phục dưới Phật, để thể hiện sự sám hối và sửa mình một cách cẩn trọng của ông.
Đây là bức tượng độc đáo nhất của văn hóa Phật giáo Việt Nam, mang tính cách Việt và lịch sử Việt, không nơi nào trên thế giới có một mã văn hóa như thế. Pho tượng này nằm ở một tầng cao về trí tuệ, một sự sửa mình để sống tốt hơn, một người ở cấp độ cầm quyền cao nhất cũng phải xem lại chính mình. (theo GDVN)
Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp
Phật ngồi trên lưng vua: Pho tượng chỉ có ở Việt Nam
Phật ngồi trên lưng vua
PL - Thoạt nhìn thì thấy một người ngồi trên lưng một người, có vẻ như dữ tợn, như thể đây là một sự trừng phạt đáng thương xót.

Sự giáo hóa của vị Tổ Cua
Vào khoảng thời gian đó, Phật giáo không còn được đứng ở vị trí quốc giáo, thay vào đó là Nho giáo. đến thời vua Lê Hy Tông (1663-1716), một sắc lệnh đuổi hết các sư sãi lên rừng được ban ra. Ai không đi sẽ bị trừng trị nặng nề.
Đạo Phật đã phải trải qua một thời kỳ nhọc nhằn. Một trong số những hòa thượng đắc đạo pháp danh Tông Diễn, được biết đến với tên Tổ Cua, Tổ Cáy cũng bị buộc phải đi qua con đường hoặc sinh hoặc tử này. Ông là thế hệ thứ hai của phái Tào Động tại Việt Nam. Đây là một tông phái Thiền quan trọng tại Trung Quốc, được hai vị Thiền sư sáng lập là Động Sơn Lương Giới và đệ tử là Tào Sơn Bản Tịch lập nên. Người ta ghép hai chữ đầu tên hai vị này và gọi phái là Tào Động. Mặc dù mục đích tu tập của Tào Động giống với một phái khác tên là Lâm Tế, tuy nhiên phương pháp tu tập thể thì có khác biệt. Tào Động tông chú trọng đến phương pháp mặc chiếu thiền, tức là chỉ an nhiên là đủ. Lâm Tế tông chủ trương phương pháp khán toại thiền, là quán công án. Trong thế kỉ 13, Thiền sư Nhật tông là Đạo Nguyên Hi Huyền đưa tông này qua Nhật Bản và Tào Động trở thành môn phái Thiền quan trọng, ngày nay vẫn còn. Trong tông Tào Động tại Nhật Bản, phương pháp Độc tham - một trong những thành phần tu học quan trọng của Thiền tông - đã thất truyền từ thời Minh Trị.
Thiền Tào Động được Thiền sư Thông Giác Thủy Nguyệt (1636-1704) truyền sang Việt Nam giữa thế kỉ thứ 17. Nhà sư này rời Đại Việt năm 1664, cùng với hai đệ tử sang Trung Quốc, đến Hồ Châu học đạo với Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo và ở đó ba năm sau mới về. Thông Giác truyền giáo cho Chân Dung Tông Diễn. Vị hòa thượng Tông Diễn không những đã làm tốt công việc của thầy truyền lại mà còn khiến Tào Động phát triển rực rỡ, giúp tăng chúng vượt qua được pháp nạn lớn của Phật giáo, khi mà Phật giáo không còn được trân trọng như khi còn là quốc giáo nữa.
Khi tăng chúng phải chịu sắc lệnh rời chùa lên rừng, hòa thượng Tông Diễn vì không cam lòng thấy tăng chúng phải trải qua pháp nạn quá nặng nề đó, đã tìm cách trở lại kinh thành Thăng Long, nhằm giáo hóa vua Lê Hy Tông.
Theo nhà sư Tâm Hoan, cuộc gặp gỡ giữa hòa thượng Tông Diễn và vua Lê Hy Tông quả là khó khăn. Việc một vị sư đã bị trục xuất khỏi kinh thành tìm cách để trở lại đã khó, gặp vua lại muôn vàn khó khăn. Cuối cùng Hòa thượng Tông Diễn đã phải dùng một biện pháp, ông tặng nhà vua chiếc hộp, trong đó nói có viên ngọc quý. Tuy nhiên thực chất trong hộp chỉ có một tờ biểu ghi lại những điều lợi mà Phật giáo mang lại cho xã hội. “đời Trần, đời Lý, các vua hết sức coi trọng đạo Phật và rồi quốc gia thịnh trị, đạo Phật khiến người ta biết ăn uống đúng mực, không giết người cướp của, nó như một viên ngọc quý của quốc gia, vậy tại sao cho đến giờ đạo Phật lại bị cho rằng không mang lại lợi ích gì cho xã hội...”, tờ biểu phân tích.
Vua Hy Tông bừng tỉnh, cho vời hòa thượng Tông Diễn vào trò chuyện. Sau khi nghe hòa thượng thuyết pháp, bèn rút lại sắc lệnh đã ban. Vua Hy Tông từ đấy hết sức sửa mình, tự nguyện đề nghị với hòa thượng Tông Diễn rằng nên làm một bức tượng mà trong đó, vua phủ phục dưới Phật, để thể hiện sự sám hối và sửa mình của ngài. Đây là bức tượng độc đáo nhất của văn hóa Phật giáo Việt Nam, mang tích cách Việt và lịch sử Việt, không có nơi nào trên thế giới có một mã văn hóa như thế này.
Vua không chỉ sửa riêng mình
Sự giác ngộ của vua Lê Hy Tông không chỉ khiến ông thấy được sai lầm của mình. Với tư cách là một vị vua mang quyền hành tối cao trong tay, ông đã tự nguyện cúi gập lưng để bày tỏ sự sửa bỏ tuyệt đối, cũng là để thế hệ sau, hoặc chí ít những vị vua sau này hiểu được rằng, sai lầm cần phải được nhận ra và sự giác ngộ không chỉ nằm ở lời nói.
Thoạt nhìn thì thấy một người ngồi trên lưng một người, có vẻ như dữ tợn, như thể đây là một sự trừng phạt đáng thương xót. Tuy nhiên, pho tượng này nằm ở một tầng cao về trí tuệ, một sự sửa mình để sống. Sự ngự trị trong cõi này còn có một cõi ngự trị siêu hùng ưu việt hơn, đó là lực lượng của trí tuệ, một sự tự thân, của bản thể duy nhất.
“Pho tượng này là để muôn đời chứ không phải là để hoài cổ, như một di tích. Vị vua này đã nghĩ đến một mai hậu của tấm lòng con người, rằng muốn phát triển và thúc đẩy thì phải thay đổi, phải nhận ra mình và cung kính sửa bỏ, thành thực và có một thái độ và nghị lực lớn thì mới đạt được trí tuệ để thay đổi nhân quần xã hội”, TS. Cung Khắc Lược nói.
Đây cũng là một pho tượng cho thấy một mối liên hệ rất thú vị giữa tôn giáo và chính trị Việt Nam trung đại. Nó là một điển hình mẫu mực của tâm linh, cho thấy con người phải sửa bỏ thì mới đạt được một kết quả nhất định. Nếu ai muốn đạt được mong muốn tâm linh nào đó thì pho tượng này là bài học tốt nhất mặc dù thoạt nhìn với hiểu biết nhỏ bé thì chúng ta có thể thấy sợ, thấy một điều gì dữ dội, trừng phạt nhân quả nhưng nhìn kĩ thì sẽ thấy rằng con người ai cũng có sai lầm và quan trọng là khi sửa bỏ, người ta được tha thứ. Những người đã có tuổi già, hay những người đã từng trải qua mưa sa gió táp trong cuộc đời, đến và  nhìn lại những cuộc kiểm điểm của đời mình, ai cũng sẽ thấy rằng pho tượng như một vị mặn trên lưỡi. Và hẳn nhiên, sự sửa bỏ ấy đúng cho tất cả mọi người, một ví dụ kì lạ của sự tĩnh lặng sửa bỏ toàn thiện.
“Sống trên đời ai cũng có lỗi lầm nhưng ít người chịu nhận, có nhận thì họ cũng chỉ tự nhận với mình hoặc nhận với nhau, những người sẽ không đánh giá và quy tội họ, hoặc có người nhận thì chỉ là nhận suông thôi, không chịu sửa. Vị vua này, người mang quyền lực tối cao trong một nhà nước đã biết nhận lỗi, sửa lỗi. Sự sám hối này không chỉ cho mình ông, mà còn để răn dạy bao thế hệ về sau nữa”, nhà sư Thích Tâm Hoan chỉ dạy.
Thiệu Phong | Nguồn: Giadinhnet




Vài nét về Thiền phái Tào Động trong lịch sử Phật giáo Việt Nam

Nói tới phái Tào Động là nói tới nguyên tắc 5 địa vị (ngũ vị). Giữa thẳng (chính) và nghiêng (thiên). Ý niệm về địa vị giữa thẳng và nghiêng vốn là của Động Sơn. Tào Sơn đã xếp đặt và trình bày lại ý niệm ấy rồi truyền lại cho những thế hệ kế tiếp.
I.1. PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ
Như chúng ta đã biết, Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ I, II sau Công nguyên thông qua sự giao lưu buôn bán của người Ấn với người Việt. Sau đó là người Trung Hoa tới người Việt. Về đại thể có thể nói rằng sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam cơ bản là hai con đường: đường thuỷ và đường bộ.
Có thể nói rằng, sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam là một quá trình tương đối liên tục. Phật giáo vào Việt Nam đã nhập vào trung tâm Luy Lâu (Thuận Thành- Bắc Ninh ngày nay) từ đây mà Phật giáo được lan toả đi khắp nơi lân cận. Tuy  nhiên, Phật giáo Việt Nam thời kỳ du nhập này đất nước bị quân đô hộ phương Bắc cai trị do vậy Phật giáo đã cùng nhân dân đấu tranh giành lại độc lập, chống lại tư tưởng bành trướng Đại Hán ở phía Bắc.
Năm 938 Ngô Quyền đã đánh tan quân xâm lược Nam Hán giành lại quyền độc lập dân tộc sau hơn 1000 năm Bắc thuộc. Tuy nhiên ngay ở buổi đầu tự chủ trong sự khủng hoảng pháttriển người Việt đã rơi vào loạn cát cứ 12 sứ quân. Phải đến thế ký XI với vương triều Lý, năm 1009 Lý Công Uốn lên ngôi vua, đã ổn định lại tình thế, mở đầu cho một giai đoạn phát triển mới của lịch sử dân tộc: thời kỳ bảo vệ độc lập, xây dựng và phát triển một quốc gia hùng mạnh để đối trọng sánh vai với nhà nước phong kiến Phương Bắc.
Với một nhà nước trung ương tập quyền được thành lập đòi hỏi cần phải có một hệ tư tưởng chung nhằm đoàn kết dân tộc, khơi dậy những tième năng, những truyền thống qúy báu của dân tộc. Khi đó đất nước ta có ba hệ tư tưởng, người Việt đại diện là giai cấp phong kiến Lý Trần đã đề cao Phật giáo và coi đó là “Quốc giáo”. Như một tác nhân đạo Phật đã liên kết dẫn đến sự kết hợp giữa vương quyền với thần quyền là điều không thể tránh khỏi.
Điều đặc biệt trong thời ký Lý Trần này đó là các nhà vua đều là những người tôn sùng Phật giáo và nhìn thấy tinh thần cởi mở, hòa nhập và từ bi của Phật mà đề cao Phật giáo thành quốc giáo. “Quốc giáo” của Phật giáo không phải là tôn giáo độc tôn mà nó hoà chung cùng với các tôn giáo khác. Tính chất “quốc giáo” được thể hiện ở sự lan rộng của Phật giáo trong cộng đồng người Việt và đặc biệt là sự “tham chính” của các thiền sư. Bởi lẽ, chính những người tu sĩ trong Phật giáo này là những người có học, có ý thức về quốc gia, sống gần gũi với quần  chúng và biết được những khổ đau của người dân đang bị một chính sách đô hộ hà khắc bóc lột, họ không phải là những người có ý muốn tranh ngôi vua, không giành quyền binh và địa vị ngoài đời, nên vua tin ở những người tu sĩ Phật giáo,  những người tu sĩ này  không chấp vào thuyết trung quân nên có thể cộng tác với bất cứ ông vua nào có thể đem lại hạnh phúc cho dân, điểm nữa đó là các vua cần sức học của họ nhất là đời Đinh, Lê, các vua đều không phải thuộc giới “trí thứ”. Do vậy mà các vị tu sĩ Phật giáo đã có cống hiến rất lớn và mạnh mẽ cả về văn hoá lẫn chính trị vào thời này.
Có lẽ, cũng chính vì những lý do này mà ngay từ khi lên ngôi, Lý Công Uốn đã có những sắc chỉ cho sự phát triển của Phật Giáo như: làm chùa trong cả nước, độ dân làm sư, sai sứ sang Trung Quốc xin kinh…..
Sau khi rời đô từ Hoa Lư ra định đô ở Thăng Long (nhà Lý đã thoát ra khỏi tính chất nhỏ hẹp của một thủ lĩnh quân sự và đây cũng chính là một bước vươn lên của dân tộc) Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) đã ra lệnh cho nhân dân xây dựng rất nhiều chùa ở đây như:
Chùa Hoè Nhai (Hồng Phúc) xây năm 1010, chùa Sùng Khánh (Báo Thiên) cây năm 1056, chùa Diên Hựu (Một Cột) xây năm 1049, chùa Vạn Tuế xây năm 1110….và rất nhiều các chùa khác nữa.
Nếu như thời Lý Trần, Phật giáo trở thành như một quốc giáo thì đến nhà Lê rõ ràng Phật giáo đã nhường địa vị cho Nho giáo. Giới trí thức hướng về đạo Nho như phương châm cứu nước và dựng nước, đưa Nho giáo lên thành quốc giáo. Các tăng sĩ thời này bị sa thải “cấm thiết lê trung nguyên Phật sự” đặc biệt được thể hiện rõ nét nhất là nhà nước phong kiến đã gạt toàn bộ sự ảnh hưởng Phật giáo ra ngoài chính trị, biểu hiện rõ nhất đó là luật Hồng Đức thời Lê Thánh Tông được ban hành rất nổi tiếng, tuy nhiên trong cả một bộ luật lớn như vậy không hề để lại vết ảnh hưởng nào của Phật giáo. Không những thế Lê Thánh Tông còn tìm tòi mọi biện pháp để gạt bỏ ảnh hưởng của Phật giáo ra mọi hoạt động của xã hội, coi nó như một tệ nạn xã hội cần phải dẹp bỏ. Đến năm niên hiệu Vĩnh Thị (1678) vua Lê Hi Tông thi hành chính sách chống Phật giáo nên đã ra lệnh cho các quan khắp cả nước bất cứ ở đâu tăng ni hoặc già trẻ đều đuổi hết về rừng (Thiên sư Việt Nam - tr. 367).
Có thể nói rằng, sự đi xuống của Phật giáo trong thời kỳ này không có nghĩa là sự giảm thiểu số lượng tu viện và tăng sĩ, mà nó vẫn được tiếp tục lớn lên. Như một chiếc rễ, Phật giáo ngày càng ăn sâu thêm trong nếp sống tình cảm và tín ngưỡng của giới đại chúng bình dân. Đặc biệt khi ta xét cho cùng thì Nho giáo dù sao cũng chỉ là một học thuyết chính trị chứ trên thực tế không phải là một tôn giáo mà giai cấp phong kiến vẫn cần tới tôn giáo để lãnh đạo nhân dân. Hơn nữa, Phật giáo không phải là tôn giáo đối lập với lợi ích của giai cấp phong kiến. Vì vậy Phật giáo bị mất ở đây chính là sự đánh mất vai trò lãnh đạo về văn hoá, chính trị mà thôi. “Phật giáo” đặc biệt là Tịnh độ tông đã từ lâu có cơ sở trong đông đảo quần chúng nhân dân đã được một số người yêu nước vận dụng để hợp lực lượng quần chúng và mặc dù thất bại trước nhiệm vụ lịch sử song tôn giáo này ít ra cũng không làm kìm hãm chủ nghĩa yêu nước như Nho giáo.
Từ thế kỷ XVI trở đi, trải qua cuộc nội chiến Lê - Mạc, rồi cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn xảy ra liên miên khiến cho con người đau khổ triền miên, lúc này Nho giáo không đủ sức làm chỗ dựa tín ngưỡng vào nơi an tâm lập mệnh cho quần chúng nữa. Con người đã tìm đến với Đạo Phật, cho họ thấy cuộc đời là giả tạm, vô thường, là trần ai biển khổ và họ đã thấy ở Đạo Phật niềm an ủi trong tâm hồn. Vì vậy ta thấy trong giới cầm quyền lại cũng tìm về Đạo Phật và giọng chống đối kỳ thị đạo Phật của Nho giáo cũng dịu đi và có cảm tình với Đạo Phật.
Cũng trong thời gian này, phái thiền mới của Phật giáo được truyền vào Việt Nam cả Đàng trong và Đàng ngoài, đó là phái Lâm Tế và phái Tào Động, đã khơi dậy nguồn sức sống mới của Phật giáo trong lòng dân tộc.
Sang đến triều Nguyễn, trong các đời vua Gia Long, Minh Lệnh, Thiệu Trị, Tự Đức….trong Phật giáo phần nào ít bị kỳ thị, song chủ lực chính trị vẫn nằm trong tay Nho giáo. Tuy vậy, các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã tìm đến với cơ sở Phật giáo. Các chùa chiền trở thành những cơ sở kháng chiến quan trọng, tăng sĩ, các vị tu sĩ không ngần ngại đóng góp phần mình vào công nghiệp cứu nước này. Chính điều này càng khẳng định tinh thần dân tộc của tín đồ Phật giáo đối với nhân dân trong mọi tầng lớp và dần dần đã đưa Phật giáo ngày càng phát triển với nhân dân trong mọi tầng lớp và dần dần đã đưa Phật giáo ngày càng phát triển trong lòng dân tộc và đã dẫn tới phong trào “Chấn hưng Phật giáo” vào những năm nửa đầu của thế kỷ XX này.
Sau những năm thăng trầm  của lịch sử dần trôi qua, khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước, trong niềm vui chung ấy, năm 1981 Phật giáo của Việt Nam đã tiến hành đại hội Phật giáo lần đầu tiên để thành lập một tổ chức Phật giáo thống nhất “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”. Giáo hội đã đưa ra phương châm hoạt động: “Đạo pháp - dân tộc và chủ nghĩa xã hội” .
1.2. SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PHÁI TÀO ĐỘNG VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM.
1.2.1. Sự hình thành tư tưởng phái Tào Động
Như đã nói ở trên, đến thế kỷ XVI trở đi đất nước đã xảy ra những cuộc nội chiến triền miên: nội chiến Lê - Mạc, rồi cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn làm cho người dân luôn sống trong cảnh đau thường chết chóc. Hơn nữa xét cho cùng thì Nho giáo cũng chỉ là một học thuyết chính trị chứ trên thực tế chưa phải là một tôn giáo. Cũng chính vì vậy con người tìm đến đạo Phật tìm sự an ủi thanh thản trong tâm hồn. Với một điều kiện như vậy, vào nửa sau thế kỷ XVII có dòng phái Lâm Tế mới được truyền vào nước ta mà chủ yếu là ở Đàng trong với thiền sư Nguyên Thiền là khai tổ. Ở Đàng ngoài, thiền phái Tào Động do thiền sư Thủy Nguyệt hiệu là Thông Giác truyền vào và cũng là khai tổ chùa Hoè Nhai. Ngoài đã từng đến núi Phượng Hoàng ở Hồ Châu (Trung Quốc) học đạo với hoà thượng Nhất Cú Tri Giáo đời thứ 35 dòng Tào Động. Đến năm 1667 Thiền sư trở về Việt Nam hoằng dương tông Tào Động và Ngài cũng chính là tổ sư thứ 36 của dòng Tào Động.
Như vậy, Tào Động là do ghép hai chữ âm đầu của hai chữ Động Sơn Lương Giới và Tào Sơn Bản Tịch mà thành. Trong Động Sơn ngữ lục được viết “Phong thái diệu huyền bao trùm thiên hạ nên các bậc thiền thượng các nơi suy tôn gọi là Động Đào Tôn”. Trước tiên tông này được gọi là Động Tào Tông, sau do quan hệ âm vận về mặt ngôn ngữ, nên đổi gọi là Tào Động tông. Pháp Nhãn trong tổng môn thập quy luận đã nêu lên đặc sắc của Tào Động và xếp ngang hàng với Lâm Tế và Quy ngưỡng. Tác phẩm nói trên được viết giữa khoảng năm 940 và 950 Tây lịch. Trong khoảng thời gian gần 30 năm, Pháp Nhãn đi hành cước các nơi được nghe chư phương tri thức nói đến Tào Động cũng như tên Lâm Tế, tên Quy Ngưỡng vậy. Như thế rõ ràng tên Tào Động đã được dùng để gọi tên thiền phái này từ khoảng 910 hoặc 920 Tây lịch.
Khi Tào Sơn mất năm 901 Tây lịch, sư huynh là Vân Cư Đạo Ứng mất năm sau và sư đệ là Long Nha Cư Độn mất năm 923 tây lịch. Người ta cũng được biết đến tên Tào Động tông đã được dùng để gọi Thiền phái sau khi Tào Sơn và Vân Cư tịch không lâu, vì lúc ấy Long Nha hãy còn sinh tiền. Nói đến sự truyền bá của phái Tào Động người ta thường nói “Lâm Tế tương quân, Tào Động thổ dân”. Câu ấy có nghĩa là Lâm Tế là thiền phái của hàng tướng quân Mạc Phủ, Tào Động là thiền phái của bình dân. Thiền Tào Động được thâm nhập vào đại đa số dân chúng, nên gọi là thứ dân thiền, là một Thiền phái đi thẳng vào tầng lớp thứ dân và ngày nay đã phát triển rất mạnh mẽ.
Thiền Tào Động thâm nhập vào mọi tầng lớp dân chúng, mở bày một lối sống chân thật trong cuộc sống hàng ngày. Như vậy chắc chắc tiền Tào Động không phải là một phương pháp thiền khó được thực hành. Phật giáo nằm vững đường nối trung tạo tách rời hai cực đoan làm tiêu chuẩn cho tất cả đường lối chân thực, xa lìa hai hao hạnh khổ vui và bẻ gãy chấp hữu chấp vô. Đặc biệt thiền Tào Động hành trì nghiêm ngặt vượt lên hai thái cực của nhị biên. Thiền Tào Động là một trong năm thiền phái Trung Quốc kết hợp giữa lý giải và thực hành nhưng đặt nặng về thực hành. Sự hành trì nghiêm mật không cho phép hành gải xao nhãng giải đãi mà phải dốc hết tâm lực và hành trì.
Nét đặc sắc của Thiền Tào Động là:
1/ Tìm ra một sách sâu sắc rằng tất cả mọi người sinh ra vốn đầy đủ Phật tính và có thể giác ngộ bản lai Phật tính ấy.
2/ Do công phu toạ thiền ánh áng trí  tuệ của Phật tính sẽ chiếu phát.
3/ Hành giải tương ứng giữa thực tiễn và tri thức là một.
4/ Hành trì nghiêm mật là tôn chỉ cụ thể hoá qua sinh hoạt hàng ngày.
Giáo nghĩa căn bản của thiền Tào Động có  thể tóm tắt trong mấy luận điểm sau:
1/ Luôn luôn vững lập trường Phật pháp toàn nhất không sa vào đường lối ti tiêu.
2/ Xả bỏ tư dục ngã chấp, lấy ý chí cầu đạo làm trọng.
3/ Xa lánh không nhận cận cửa quyền, sống cuộc đời chân thật chất phác.
4/ Trọng tín tâm tạo sự an tâm bản chứng giáo dục người ta hiểu một thái độ vô sở đắc, vô sở cầu.
5/ An trụ cảnh thiền “Tu chứng nhất như”, “Ngộ hậu tu hành” là điều được nhấn mạnh.
6/ Bất cứ lúc nào ở đâu truyền thụ thiền pháp chính quyền trực tiếp của Phật tổ.
7/ Lý giải và thực hành đi đôi hỗ trợ nhau không thiên bên nào.
8/ Hành trì đầy đủ và nghiêm mật trong sinh hoạt hàng ngày là chân thật báo ân Phật.
Nói tới phái Tào Động là nói tới nguyên mật trong sinh hoạt hàng ngày là chân thật báo ân Phật.
Nói tới phái Tào Động là nói tới nguyên tắc 5 địa vị (ngũ vị). Giữa thẳng (chính) và nghiêng (thiên). Ý niệm về địa vị giữa thẳng và nghiêng vốn là của Động Sơn. Tào Sơn đã xếp đặt và trình bày lại ý niệm ấy rồi truyền lại cho những thế hệ kế tiếp.
Thẳng ở đây tượng trưng cho tuyệt đối còn nghiêng tượng trưng cho tương đối Động Sơn nói rằng: “Có một vật trên thì  chống trời, dưới thì đỡ đất….đen như sơn luôn chuyển dịch và hoạt động”. Đó là cái thẳng, cái thẳng chính là nền tảng của trời đất và muôn loài. Cái thẳng (cái tuyệt đối) ấy vốn không thể nắm bắt bằng khái niệm, không thể diễn tả bằng ngôn ngữ. Còn cái nghiêng là khi cái thẳng đi vào thế giới hiện tượng, thế giới của sự vật tương đối.
Tuy nhiên thẳng và nghiêng không phải là hai vật khác nhau: tương đối là tuyệt với tuyệt đối mà có, tuyệt đối là đối với tương đối mà thành. Cũng như sóng là nước, nước là sóng. Sóng tuy nhiều mà là một, nước tuy một mà là nhiều (thẳng là chân không, nghiêng là diện hữu).
Sự liên hệ giữa thẳng và nghiêng làm thành 5 địa vị sau:
1) Cái thẳng đi vào cái nghiêng (chính trung thiên): Vì cái tuyệt đối nằm trong cái tương đối nên có thể hiểu cái tuyệt đối qua cái tương đối. Động Sơn có nói: “trong cái tuyệt đối đã có cái tương đối rồi, nếu không thì hoá ra cái tuyệt đối có trước cái tương đối sao?”
2) Cái nghiêng đi vào cái thẳng (thiên trung chính): Vì cái tương đối chỉ có thể có do nhờ cái tuyệt đối, cho nên trong cái tương đối phải xáp mặt cho được cái tuyệt đối.
3) Cái thẳng trong tự thân của nó (chính trung lai): Đây là cái tuyệt đối trong tư thế tuyệt đối của nó, không được nhận thức qua liên hệ bản thể - hiện tượng. Đây là pháp thân, là chân như.
4) Cái nghiêng trong tự thân của nó (thiên trung chí): Đây là cái tương đối trong tư thế tương đối của nó không được nhận thức qua liên hệ bản thể - hiện tượng Động Sơn ví trường hợp này như là trường hợp hai người đang đấu kiếm với nhau, không bên nào áp đảo được bên nào hoặc là một bông sen nở trong lò lửa không hể bị lửa cháy xém. Người đạt đến vị trí này là người đã xâm nhập thế giới páp thân trở ra tung hoành nơi thế giới hiện tượng.
5) Cái thẳng và cái nghiêng trong cùng một tự tính (kiên trung đáo) tới vị trí này thì sự phân biệt giữa tuyệt đối và tương đói bản thể và hiện tượng không còn nữa.
Năm vị trí giữa thẳng và nghiêng cũng được giải thích bằng năm sự liên hệ giữa vua và tôi (ngũ vị quân thần) có vua là vì có bầy tôi, có bầy tôi là vì có vua.
1. Vua trông thấy bầy tôi.
2. Bầy tôi hướng về vua
3. Vua (một mình)
4. Bầy tôi (một mình)
5. Vua và bầy tôi (bên nhau)
Sau này trong phái Tào Động những chủ trương sau đây dần dần hình thành.
1. Chỉ cần ngồi thiền mà không cần chủ đề thiền toạ (chỉ quán đả thiền)
2. Ngồi thiền và đạt đạo là một việc chứ không phải là hai (tu chứng nhất như).
3. Không trông chờ sự chứng đắc (vô sở đắc)
4. Không có đối tượng giác ngộ (vô sở ngộ)
5. Tâm và thân nhất như (tâm thân nhất như)
1.2.2. Thiền phái Tào Động ở Việt Nam (Đàng Ngoài)
Như chúng ta đã biết vào khoảng thế kỷ XVII, thì Tào Động Tông được truyền vào Việt Nam trong bối cảnh xã hội có những biến chuyển xã hội không thuận lợi (gặp chính sách chống Phật của Lê Hy Tông) - người đầu tiên truyền tông Tào Động vào Việt Nam chính là  thiền sư Thủy Nguyệt, Ngài đã từng được vua Lê sắc phong: “Đại thánh Đông Sơn Tuệ Nhẫn Tứ Giác Quốc Sư”
Vị đệ tử được Thủy Nguyệt thiền sư truyền pháp tên là Tông Diễn hiệu Chân Dung. Thiền sư Tông Diễn khi đến với Thủy Nguyệt đã là một vị tăng đã trải qua nhiều năm học rồi. Ông vốn là người Đông Sơn nghe Thủy Nguyệt hành đạo ở gần, ông tới tham vấn và liền được giác ngộ, đồng thời được thiền sư Thủy Nguyệt trao truyền tâm ấn truyền thừa mạng mạch của phái Tào Động. Vì vậy hoà thượng Tông Diễn cũng chính là tổ thứ hai của chùa Hoè Nhai và cũng là vị tổ sư thứ hai của phái Tào Động tại Việt Nam.
Năm niên hiệu Vĩnh Trị (1678) vua Lê Hi Tông ra lệnh cho các quan khắp nước bất cứ ở đu tăng ni hoặc già hoặc trẻ đều đuổi hết về rừng. Hoà Thượng Tông Diễn biết được tin này rất đau lòng, tự nghĩ: “Tại sao nhà vua đối với đạo Phật lại cho là vô dụng?” Nếu ở núi rừng du thuyết pháp đá phải gật đầu, giảng kinh được hoa trời rơi loạn cũng chẳng có ích gì cho chúng sinh. Nếu không hoằng dương được chính pháp thì làm sao độ được hàm linh trong bể khổ, thật vậy cổng vào cửa Phật luống trôi qua một đời”. Ngài bèn quyết tâm rời chốn sơn dã về đất kinh thành mong cảnh tỉnh nhà vua cứu vãn Phật pháp trong lúc hoạn nạ. Ngài liền trở về thỉnh thầy để xin phép đến kinh đô và được thiền sư Thông Giác rất ủng hộ.
Theo sách Thiền sư Việt Nam, Hoà thượng Tông Diễn đến kinh đô ba tháng không được vào tiếp kiến vua, Ngài bèn suy nghĩ viết một tờ biểu nói rõ việc tu hành, cách thức làm yên nhà lợi nước một cách giành mạch rõ ràng như: Đạo Phật như là hòn ngọc quý soi ráng mười phương, phá dẹp mọi mây mờ u tối. Viết song Ngài để trong cái hộp dán kín cẩn mật, xin cầu quan Đề lĩnh vào triều tâu lên thành thượng một lần nữa rằng: Xin nhà vua chọn lấy một ông qua văn trung thực thanh liêm, tắm gội và trai giới ba ngày sẽ ra nhận ngọc qúy dân lên vua. Vua nghe xong liền phán cho Viện Hàn lâm chọn một người rất tín cận, thành tâm trai giới ba ngày rồi đến chỗ vị tăng quê nhận lấy họn ngọc dân lên vua. Vị quan văn được đề cử giữ đúng trai giới ba ngày xong liền đến dinh quan Đề lĩnh hỏi vị tăng để nhận ngọc. Sư liền trao cái hộp, dặn dò cẩn thận dâng lên tận tay vua. Vị quan văn bằng hộp ngọc đến trước triều dâng lên vua, khi mở ra xem chỉ là một tờ biểu chứ không có hòn ngọc nào. Vua phán vị quan văn đọc tờ biểu cho vua nghe. Vị quan quỳ đọc xong, vua nghe qua thấy lý lẽ rõ ràng, sự tình đầy đủ, lời văn sáng suốt, ý tứ thâm trầm, bèn ra lệnh quan Đề lĩnh dẫn vị tăng này vào triều. Khi vào triều, vua cho sư nguồi một bên trước mặt vua. Vua hỏi những sách lược trị dân, sư ứng đối sự lý rất dung thông. Khi ấy vua phán: “Đạo Phật là viên ngọc quý, chẳng nhẽ trong nước chúng ta không dùng, tăng ni hay người chuyên làm thiện tại sao lại vứt bỏ đi? Người đem Phật pháp khai hoá dân chúng cũng là phương pháp tốt giúp cho triều đình trị dân”. Vua liền mời sư ở lại chùa Báo Thiện để bàn luận đạo lý.
Thượng hoàng nghe tiếng Sư sai Trung sứ đến nói với vua thỉnh sư vào kinh diễn giải kinh pháp. Vua cũng đến dự nghe thấu hiểu đạo lý, vua liền cho sư được quyền ra vào nội dung để tuyên dương chính pháp, đồng thời ra lệnh thu hồi lệnh trước, để tăng ni tự ý trở về chùa m ình ở đâu tùy duyên giáo hoá. Vua Lê Hy Tông đã thấm nhuần đạo lý, thành tâm sám hối lỗi trước của mình, nên tạc hình vua quì mọp xuống để tương trên lưng, để tỏ lòng thành sám hối. Tượng này hiện còn thờ ở chùa Hoè Nhai (Hồng Phúc). Đã giải được ách nạn của tăng ni (Phật pháp) và giáo hoá được vua chúa trong triều, sư nghĩ đến việc xin vua về núi thăm thầy. Vua bằng lòng liền ban áo gấm cho hoà thượng ở núi để an úy. Tặng tiền bạc để sư làm lộ phí, hẹn thời gian ngắn để gặp lại.
Với sự tích ấy, Vũ Quốc Bằng trong bài giới thiệu về chùa Hoè Nhai có bài thơ như sau:
Cảnh chùa Hồng Phúc tại Thăng Long
Nguồn nước Tào Khê chảy thuận dòng
Biển ngọc chỉ ra đường đạo lý.
Lời vàng dẫn dụ khách mê mông.
Báo Thiên, Khán Lĩnh dù thay đổi.
Thiền uyển tăng già vẫn sáng trong
Năm lá một hoa đời nảy nở
Đạo mầu vang dội khắp non sông

TÔNG TÀO ĐỘNG TRUYỀN SANG MIỀN BẮC VIỆT NAM
(ĐÀNG NGOÀI)

Đời 35: Thiền sư Nhất Cú tri giáo (người Trung Quốc)
Đời 36: Thiền sư Thủy Nguyệt pháp húy Thông Giác Đạo Nam.
Đời 37: Thiền sư Chân Dung pháp húy Tông Diễn.
Đời 38: Thiền sư Tĩnh Giác pháp húy Từ Sơn Hành Nhất.
Đời 39: Thiền sư Bản Lai Thiện Thuận Pháp húy Tỉnh Chúc Đạo Chu.
Đời 40: Thiền sư Viên Thông Lại Nguyên pháp húy Hải Điện Mật Đa.
Thiền sư Tự Đại Pháp húy Hải HoằngTịnh Đức.
Thiền sư thanh Từ Pháp húy Khoan Nhân Phổ Tế.
Đời 41: Thiền sư Đạo Nguyên Thanh Lãng pháp húy Khoan Dục Phổ Chiếu.
Thiền sư Thiện Căn pháp húy Khoan Giáo Như Hoà.
Thiền sư Thanh Quang pháp húy Khoan Thông Chính trị.
Thiền sư Thanh Nguyên pháp húy Giác Bản Minh Nam.
Đời 42: Thiền sư Thanh Đàm pháp húy Giác Đạo Tâm Minh Chính Hoằng Quang.
Đời 43: Thiền Sư Lục Hoà pháp húy Giác Lâm Minh Liễu.
Đời 44: Thiền sư Thanh Như Chiếu pháp húy Đạo Minh Quang Lịch Minh Đạt
Đời 45: Thiền sư Hồng Phúc pháp húy Quang Lư Thích Đường hiệu Như Như.
Đời 46: Thiền sư Hoà Thái pháp húy Chính Bỉnh Thích Bình Minh Vô Tướng.
Đời 47: Thiền sư Tâm Nghĩa Tính Nhân từ.
Những sư trụ trì các chùa Hoè Nhai, Hàm Long,Trấn Quốc ở Hà Nội hiện nay đều thuộc Tông Tào Động.

Vĩnh Bảo sưu tầm 18/12/2013