Sơ lược các dòng Thiền Việt Nam
Nguyễn Hưng
![]() |
Giới thiệu sơ lược các dòng Thiền Việt Nam, từ Khương Tăng Hội, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Trúc Lâm, Lâm Tế, Tào Động...
1. KHƯƠNG TĂNG HỘI VÀ KHỞI NGUYÊN THIỀN HỌC VIỆT
Khương Tăng Hội theo các nhà nghiên cứu lịch sử Phật giáo, có bố mẹ người Trung Hoa, nhưng sinh ra và lớn lên tại Giao Chỉ, sau đó sinh sống và qua lại nhiều ở Ấn Độ và Trung Quốc, trong khoảng đầu đến giữa thế kỷ 3.
Khương Tăng Hội được coi là đặt nền móng cho Thiền học Việt và góp phần phát huy Thiền học ở Trung Quốc. Theo các nhà nghiên cứu, Khương Tăng Hội đã trước tác và hành đạo tại Luy Lâu, trung tâm Phật giáo của Giao Châu.
Bộ tác phẩm quan trọng nhất được biết đến hiện nay của Khương Tăng Hội là Lục độ tập kinh. Theo Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh được dịch từ tiếng Việt ra tiếng Hán, như vậy, hoạt động học thuật về Phật giáo đã có cơ sở vững chắc và có yếu tố bản địa. Theo Nguyễn Lang, Lục độ tập kinh “không phải dịch từ Phạn ngữ” và “có những đoạn hoàn toàn do Khương Tăng Hội viết”.
Ngoài Lục độ tập kinh, tác phẩm quan trọng cho thấy tư tưởng Thiền của Khương Tăng Hội là “An Ba thủ ý”, diễn giải phép hành Thiền theo ảnh hưởng sâu đậm của giáo lý “không” và “chân như” của đại thừa. Theo Nguyễn Lang, Tăng Hội đã thực sự khơi mở cho Thiền học đại thừa bằng cách nói “tâm như uyên nguyên và chân như của vạn pháp”.
2. THIỀN PHÁI TỲ NI ĐA LƯU CHI
Hành trạng Tỳ Ni Đa Lưu Chi được nói đến ở sách “Thiền uyển tập anh”, ông “gốc ở Nam Thiên Trúc, vân du qua Trung Hoa; năm Nhâm ngọ (562) niên hiệu Đại Kiến thứ sáu nhà Trần đến Trường An.
Vào năm 574 sau khi Phật giáo bị Võ Đế đàn áp, ông đi về đất Nghiệp (Hồ Nam). Hồi đó, tổ thứ ba của Thiền tông Trung Hoa là Tăng Xán đang bị nạn ở đây, ẩn tại núi Tư Không” thì Tỳ Ni Đa Lưu Chi yết kiến Tăng Xán và được Tăng Xán khuyên mau mau đì về phương Nam”, ông liền đến Quảng Châu và vào Giao Châu năm 580, ở tại Pháp Vân Tự, tức chùa Dâu thuộc Luy Lâu.
Tỳ Ni Đa Lưu Chi chọn Pháp Hiến cũng ở chùa Dâu làm đệ tử, lập nên dòng Thiền mang tên mình. Theo các nhà nghiên cứu, dòng Thiền này truyền được 19 đời, từ năm 580 đến 1213.
Tư tưởng Thiền học Tỳ Ni Đa Lưu Chi chịu ảnh hưởng của Tăng Xán, bắt nguồn từ tư tưởng Bát Nhã, Hoa Nghiêm, trong đó có sự tiếp thu và giao thoa của các yếu tố Mật giáo Ấn Độ và coi “tâm ấn” như là một tinh hoa của giáo pháp đại thừa.
Thiền học Tỳ Ni Đa Lưu Chi bắt rễ vào mảnh đất Giao Châu như một hạnh duyên tỏ ra khá hoà đồng với tín ngưỡng bản địa, vốn là nơi dân cư đa thần giáo.
Trong khi diễn tả tư tưởng Thiền, hành pháp của phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi sử dụng sấm vĩ, thuật phong thuỷ và các yếu tố bản địa khác để hoằng dương Phật pháp, khuyến khích nhập thế ít ảnh hưởng Mật giáo Trung Hoa, qua đó ý thức dân tộc được tô đậm.
Theo Nguyễn Lang, “đây là một Thiền phái rất có tính cách dân tộc Việt Nam, vừa biểu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu việt của Phật giáo vừa biểu lộ dược đời sống thực tế và đơn giản của quần chúng nghèo khổ”
3. THIỀN PHÁI VÔ NGÔN THÔNG
Vô Ngôn Thông người Quảng Châu, họ Trịnh, xuất gia tu học tại chùa Song Lâm ở Vũ Châu. Niên hiệu Nguyên Hòa thứ 15 đường Đường (820). Vô Ngôn Thông đến Việt Nam, ở lại chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, nay thuộc Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội.
Vô Ngôn Thông thường thiền tọa, xây mặt vào vách, không nói năng gì. Nhiều năm trôi qua như thế, ít ai để ý, chỉ có sư Lập Đức tiếp nhận được tông chỉ màu nhiệm của Vô Ngôn Thông, được đổi tên là Cảm Thành và được truyền cho tâm pháp. Vô Ngôn Thông tịch vào năm 826; thời gian cư trú tại chùa Kiến Sơ chỉ có 6 năm.
Thiền phái Vô Ngôn Thông truyền được 17 đời, đến đầu thế kỷ 13.
Tư tưởng Thiền của Vô Ngôn Thông ảnh hưởng Phật giáo Trung Hoa sâu đậm hơn Tỳ Ni Đa Lưu Chi, biểu hiện ở việc tổ chức tu viện, sử dụng thoại đầu và đặc biệt là ảnh hưởng Tịnh Độ Giáo.
Kinh điển của Thiền Vô Ngôn Thông không chỉ là bộ Bát Nhã, mà còn nhiều bộ khác như Viên Giác, Pháp Hoa, nhấn mạnh giáo pháp “vô đắc” và “đốn ngộ”.
Nói cách khác, Thiền Vô Ngôn Thông khuyến khích các biện pháp tu chứng, tự cá nhân nhận thức thế giới bằng thiền định (vô đắc), đạt ngộ thì Tâm là Phật, Pháp cũng là Phật (đốn ngộ).
Do nguyên tắc “vô đắc” và giáo pháp “đốn ngộ” mà các thiền sư Vô Ngôn Thông coi trọng thực tế, nhập thế, có ảnh hưởng lớn đến xã hội.
4. THIỀN PHÁI THẢO ĐƯỜNG
Thảo Đường vốn là một nhà sư Trung Hoa tu ở Chiêm Thành, trở thành tù binh trong cuộc chinh phạt Chiêm Thành của vua Lý Thánh Tông vào năm 1069. Khi bị bắt về Đại Việt, do duyên kỳ ngộ mà Thảo Đường được vua Lý Thánh Tông phát hiện, trọng dụng, cho trụ trì chùa Khai Quốc, phong là Quốc sư, lập nên một dòng Thiền mang tên ông và chính vua Lý Thánh Tông là tổ thứ 2.
Thảo Đường là đệ tử Tuyết Đậu, một Thiền phái Trung Hoa, thuộc dòng Vân Môn. Thiền phái Tuyết Đậu có đặc điểm bác học, chuộng thi ca, dung hợp Nho giáo và Phật giáo. Do khuynh hướng đó, tư tưởng Thảo Đường tỏ ra hợp thời, khi mà thời Lý đạo Phật khá phát triển và đang có nhu cầu bắt rễ vào những Phật tử thuộc tầng lớp nho sĩ.
Theo “Thiền uyển tập anh”, có 6 thế hệ Thảo Đường, bao gồm 19 người được tôn là tổ, trong đó chỉ có 10 vị xuất gia, còn 9 vị là cư sĩ, phần lớn là vua quan.
Thảo Đường được đánh giá là dòng Thiền có khuynh hướng bác học, cầu nối quan trọng để dẫn đến sự ra đời của dòng Thiền thuần tuý Việt Nam là Trúc Lâm sau này.
5. THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
Tổ thứ nhất lập nên Thiên phát Trúc Lâm là vua Trần Nhân Tông, sau khi nhường ngôi thì lên núi Yên Tử, tu tại chùa Hoa Yên từ năm 1299.
Theo các nhà nghiên cứu, vua Trần Nhân Tông vốn được sư Huệ Tuệ trao truyền giới pháp. Huệ Tuệ là tổ thứ 5 của sơn môn Yên Tử, một dòng Thiền có tư tưởng bản địa, có ảnh hưởng của dòng Lâm Tế Trung Hoa, có những vị thiền sư nổi tiếng như vua Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ.
Vua Trần Nhân Tông đã đưa sơn môn Yên Tử thành trung tâm Phật giáo, khai mở một dòng Thiền mới “thuần Việt” và trở thành người lãnh đạo “Giáo hội” đầu tiên của Việt Nam.
Tư tưởng của Trúc Lâm là hành đạo giúp đời, đưa đạo đến đời, mọi giáo pháp đều xuất phát từ khuynh hướng “nhập thế”. Do vậy, thực tại cuộc sống là một yếu tố cấu thành giáo pháp, dẫn đến việc hoằng dương Phật pháp trước tiên phải tôn trọng thực tế cuộc sống với đặc điểm dân tộc, làm cho dân tộc trường tồn.
Người được vua Trần Nhân Tông tôn là thày, chính là Tuệ Trung Thượng Sĩ, đã cho rằng hình thức xuất gia và tại gia đã trở thành không quan trọng, đó là nguyên tắc “hoà quang đồng trần”, một danh từ của Lão Giáo mà giới Phật tử đã dùng để diễn tả thái độ dấn thân và hòa mình của các vị bồ tát trong cuộc đời để phụng sự, tiếp nối tư tưởng “Phật tại Tâm” mà nhà vua Trần Thái Tông đã anh hội từ chính các vị tổ của Trúc Lâm Yên Tử.
Về phương diện lịch sử tư tưởng, Thiền phái Trúc Lâm có tầm quan trọng đặc biệt đến sự phát triển tư tưởng dân tộc Việt. Trên nền tảng tư tưởng của những Thiền phái Phật giáo đã có từ trước như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, có tiếp thu các Thiền phái Trung Hoa, đặc biệt là Lâm Tế (với biện pháp hành thiền quyết liệt), Thiền phái Trúc Lâm đã tổng hoà những tư tưởng đó, nâng cao về phương diện bác học, đưa Thiền học vào cuộc sống bằng cách coi trọng yếu tố thực tiễn Việt Nam.
Các tác phẩm cơ sở của Thiền học Trúc Lâm như Khoá hư lục, Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục đã diễn tả tư tưởng và giáo pháp đó.
Thiền sư Trúc Lâm đi thẳng vào thế giới thực chứng bằng cách tháo bỏ mọi hàng rào khái niệm, đó thực sự là biện pháp đốn ngộ mà Vô Ngôn Thông đã nhắc đến, nhưng nhấn mạnh đến yếu tố “tâm”, phá bỏ những ảo tưởng, khuyến thiện bằng cách lấy cá nhân và đời sống thực tại làm trọng. Chính vì vậy, Trúc Lâm thiền phái đã góp phần xây dựng triều đại đương thời, tổ chức xã hội, bồi đắp nhân cách Đại Việt.
Thiền phái Trúc Lâm truyền được 3 đời, sau vua Trần Nhân Tông, đến Pháp Loa, rồi đến Huyền Quang, rồi bị ngắt quãng cùng với thời kỳ Phật giáo suy vi, Nho giáo thống trị xã hội Đại Việt.
Khoảng thời Lê Trung Hưng, có phong trào phục hưng Thiền phái Trúc Lâm, do điều kiện xã hội Nho giáo suy yếu, song nền tảng cơ sở không đủ đưa Trúc Lâm trở lại những ngày rực rỡ như thời thế kỷ 14.
Đến giữa thế kỷ 20, cùng với phong trào chấn hưng Phật giáo, nhiều vị Thiền sư có ý tái lập Thiền Trúc Lâm, nhưng đây còn là vấn đề học thuật đang tranh luận.
6. MỘT SỐ DÒNG PHÁI TRONG PHONG TRÀO PHỤC HƯNG TRÚC LÂM THỜI LÊ - NGUYỄN
6.1. Thiền phái Lâm Tế đến Việt Nam và thiền sư Chuyết Chuyết Lý Thiên Tộ
Thiền sư Chuyết Chuyết tên Thiên Tộ, họ Lý, pháp danh là Hải Trừng, pháp hiệu là Viên Văn, thường được gọi là Chuyết Công, sinh năm 1590, tại quận Thanh Chương thuộc tỉnh Phúc Kiến. Năm 1630, ông rời Trung Hoa đến đất Cao Miên, qua Chiêm Thành sang Đại Việt, đến năm 1633, tới được kinh thành Thăng Long, ông và đệ tử ở lại chùa Khán Sơn và bắt đầu giảng dạy Phật pháp.
Sau khi hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc và công chúa Trịnh Thị Ngọc Duyên xuất gia tại chùa Phật Tích, chúa Trịnh Tráng bắt đầu cho trùng tu lại chùa Ninh Phúc ở Bút Tháp. Khi việc trùng tu hoàn tất, Chuyết Chuyết được mời sang trụ trì chùa Ninh Phước cho đến khi viên tịch. Hiện nay pho tượng nhục thân tại chùa Phật tích được cho là của Thiền sư Chuyết Chuyết.
Ông thuộc thế hệ thứ 34, dòng Lâm Tế ở Trung Quốc, truyền bá Thiền phái này ở Đại Việt. Điều đặc biệt của dòng Lâm Tế là hành pháp theo “tứ liệu giản”; công thức phân biệt và chọn lựa từng cấp bậc nhận thức nhìn theo chủ thể và khách thể.
6.2. Các thiền sư phái Lâm Tế Đàng Trong và môn phái Liễu Quán
Sau thời kỳ Nguyễn Hoàng cai trị phương Nam, từ đầu thế kỷ 17, hình thành trung tâm Phật giáo ở Thuận Hoá. Cùng với việc hùng cứ phương Nam, chống lại ảnh hưởng ngoại lai của các giáo sĩ phương Tây, các chúa Nguyễn chú ý phát triển Phật giáo nên mời nhiều cao tăng Trung Hoa sang Đàng Trong.
Phần lớn các thiền sư thuộc phái Lâm Tế đã trụ trì nhiều chùa quanh khu vực Thuận Hoá, trong đó có Thiền sư Viên Cảnh, Viên Chiếu, Nguyên Thiều... và nhiều Thiền sư khác, dẫn tới ra đời môn phái Liễu Quán.
Liễu Quán vốn là người làng Bạc Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, sinh năm 1670 trong một gia đình nghèo vào chùa từ năm 12 tuổi. Năm 1697, ông học Phật tại Thuận Hoá và sau nhiều năm chiêm bái các tổ đình khác nhau, cuối cùng năm 42 tuổi được Thiền sư Tử Dung nhận làm đồ đệ và hành đạo tại nhiều đạo tràng ở Thuận Hoá và Phú Yên. Ông mất năm 1742.
Theo các nhà nghiên cứu, Liễu Quán đã có công “Việt hoá” Thiền học Lâm Tế, để nó có màu sắc Việt Nam. Trước Liễu Quán, các đạo tràng Đàng Trong nhuôm màu Quảng Đông do các Thiền sư đến từ vùng Lưỡng Quảng Trung Quốc. Sau Liễu Quán, Lâm Tế chỉ còn học thuật phần hành đạo đã hoàn toàn mang tính bản địa; lấy yêu tố Việt để hoàng dương Phật pháp.
6.3. Thiền phái Tào Động ở Việt Nam
Tào Động từ Trung Hoa du nhập vào Việt Nam theo Thiền sư Thủy Nguyệt hiệu là Tông Giác, sinh năm 1936, quê làng Thanh Triều, ở Hưng Nhân, tỉnh Thái Bình. Sau khi du học ở Trung Hoa, ông cư trú tại chùa Vọng Lão ở núi An Sơn, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương và hoằng dương Phật pháp, có nhiều đệ tử, Phật tử.
Theo Nguyễn Lang, ở Đàng Trong Đại Việt, người đầu tiên truyền bá thiền Tào Động là thiền sư Hưng Liên, lập đạo tràng ở chùa Tam Thai Quảng Nam và được tôn làm quốc sư. Sau đó, Thiền sư Thạch Liêm từ Quảng Đông được chúa Nguyễn Phúc Trăn mời sang chùa Thiền Lâm, truyền Thiền phái Tào Động.
Tư tưởng Thiền của Thạch Liêm tiêu biểu của dòng Tào Động hành đạo Thiền Tịnh song tu, phối hợp Thiền định và Tịnh độ, đưa giáo pháp đến quảng đại quần chúng. Càng về sau, Tào Động càng đi gần với Lâm Tế ở Đàng Trong, hình thành xu hướng Lâm Tào song hợp ở các đạo tràng.
6.4 Chân Nguyên phục hưng Thiền phái Trúc Lâm ở Đàng Ngoài
Thiền sư Chân Nguyên họ Nguyễn tên Nghiêm, quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, sinh năm 1646, xuất gia năm 19 tuổi, học với thiền sư Chân Trú tại chùa Hoa Yên, được pháp danh là Tuệ Đăng.
Ông được truyền thừa y bát Trúc Lâm, làm trụ trì chùa Long Động và Quỳnh Lâm. Tư tưởng Thiền của Chân Nguyên lấy cơ sở là phát xuất trực tiếp từ kinh nghiệm về tự tính.
Theo Nguyễn Lang, “về phương diện phương pháp hành đạo, Chân Nguyên chủ trương rằng chìa khóa của sư đạt đạo là nuôi sáng ý thức mình về sự hiện hữu của tự tính “trạm viên”, nguồn gốc chân thật của mình. Ý thức được như vậy thì mọi ý nghĩ, mọi hành động của ta tự nhiên đi vào con đường giác ngộ, và không cử chỉ nào của ta mà không phải là mầu nhiệm thần thông: mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nêm, thân xúc và ý nghĩ. Đó là sự “vận dụng của lục căn” trên căn bản ý thức về tự tính giác ngộ”.
Chân Nguyên tịch năm 80 tuổi. Điều đóng góp quan trọng của Chân Nguyên là cổ suý phong trào học thuật, dịch và san định nhiều bộ kinh, tác phẩm Phật học, trong đó phần lớn những tác phẩm ấy còn đến ngày nay.
6.5. Hương Hải đưa Phật pháp vào đời sống
Thiền sư Hương Hải người làng Áng Độ huyện Chân Phúc (sau đổi là Chân Lộc rồi Nghi Lộc) tỉnh Nghệ An, tổ 4 đời theo chúa Nguyễn vào Đàng Trong, đến ông thì ngụ tại Phủ Thăng Bình (Quảng Nam). Sau nhiều năm tu hành, ông được chúa Nguyễn vời vào cung, sau bị vu cáo, ông bèn trốn ra Bắc năm 1683, năm đó ông 56 tuổi, cuối đời trụ trì chùa Xích Đằng, Kim Động, nay thuộc thành phố Hưng Yên.
Tư tưởng Thiền học của Hương Hải thiền sư là nhập thế, tiếp tục chủ trương lớn của Trúc Lâm nhưng theo giáo pháp mới, trong đó nhận thức luận của ông là đưa Phật đến chúng sinh, liên hệ tâm và cảnh, mê và ngộ, thiện và ác.
Source: phattuvietnam.net
Các tông phái Phật Giáo tại Việt Nam
Ông Trần Văn Soái và Ông Nguyển Giác Ngộ;
Các tông phái Phật Giáo tại Việt Nam
![]() |
I.- Dẫn nhập:
Chúng ta đã biết xưa kia Phật giáo từ Ấn Ðộ truyền thẳng sang Việt Nam; có thể, một số tông phái cũng được truyền sang Việt Nam nhưng không được truyền bá sâu rộng, dần dần bị thất truyền. Các tông phái Phật giáo Trung Hoa truyền sang Việt Nam, có lẽ cũng gần giống như vậy, riêng về Thiền Tông, Tịnh Ðộ Tông, Mật Tông vẫn còn được truyền thừa. Có thể nói, tại Việt Nam có những nét đặc thù, nên có những tông phái phát sinh tại Việt Nam, những tông phái này cả Ấn Ðộ lẫn Trung Hoa đều không có, chúng ta lần lượt tìm hiểu từng tông phái chính tại Việt Nam.
II.- Các tông phái chính:
1- Thiền Tông: Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma là vị Tổ thứ 28 truyền thừa từ đệ nhất Tổ Ca Diếp, từ Ấn Ðộ sang Trung Hoa hoằng dương chánh pháp, Ngài trở thành đệ nhất Tổ Thiền Tông Trung Hoa. Nhiều thiền sư đã sang Việt Nam truyền bá thiền tông, trong số đó có Tỳ Ni Ða Lưu Chi, đệ tử của đệ tam Tổ Tăng Xán sang Việt Nam năm 520, thành lập phái thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi, đệ tử của đệ cửu Tổ Bá Trượng Hoài Hải là Vô Ngôn Thông sang Việt Nam năm 820, thành lập phái thiền Vô Ngôn Thông, đệ tử của thiền sư Tuyết Ðậu Minh Giám (980-1052) thuộc phái Văn Môn, là ngài Thảo Ðường bị bắt làm tù binh khi vua Lý Thánh Tôn chinh phạt Chiêm đem về Thăng Long năm 1069, sau đó phát hiện ngài là thiền sư liền được thả ra, ngài đã thành lập phái Thiền Thảo Ðường và vua đã phong ngài làm Thảo Ðường Quốc Sư. Các phái thiền trên đều thất truyền.
Hậu bán thế kỷ thứ 17, có ngài Nguyên Thiều thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 33, từ Trung Hoa sang Ðồng Nai rồi lần ra Bình Ðịnh, Huế truyền bá Thiền Tông. Tiền bán thế kỷ thứ 18, có ngài Liễu Quán Thiệt Diệu đệ tử của ngài Tử Dung Minh Hoằng cũng thuộc dòng Lâm Tế truyền thừa do nguồn gốc của hai vị Thiền Sư này, có hai bài kệ truyền thừa, theo đó có thể biết được vị nào thuộc đời thứ mấy của dòng Lâm Tế.
Ngày nay ở nước ngoài, có thiền sư Nhất Hạnh rất nổi tiếng không những trong cộng-đồng người Việt ở hải ngoại mà cả ở người ngoại quốc nữa, thiền sư Nhất Hạnh có du học ở Mỹ, vào thập niên 60 thiền sư lập dòng tu "Tiếp Hiện". Ngài là giám đốc Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, thuộc viện Ðại Học Vạn Hạnh, về địa hạt văn học nghệ thuật Ngài còn được biết như một nhà văn lớn, những hoạt động chống chiến tranh của Thiền sư và cho một nền hòa bình ở Việt Nam đã được nhà lãnh tụ da đen của Mỹ, Martin Luther king, Jr. đề nghị giải Nobel về Hoà Bình, thiền của ngài thuộc Như Lai Thiền.
Ở trong nước có thiền sư Thanh Từ, trước ngài ở trong đoàn Như Lai sứ giả của Giáo Hội tăng già Nam Việt, cùng với ngài Huyền Vi đi thuyết pháp khắp lục tỉnh. Sau này thiền sư Thanh Từ chuyên giảng dạy về thiền. Ngài lập ra những tu viện Chơn Không, Thường Chiếu, Linh Chiếu... Thiền của Ngài có khuynh hướng Tổ sư Thiền. Cả hai vị thiền sư Nhất Hạnh và Thanh Từ, thập niên 50 và 60 đều có ở chùa Ấn Quang, và có am thất ở vùng Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
2- Tịnh Ðộ Tông: Là một tông phái lấy pháp môn niệm danh hiệu A Di Ðà, để cầu được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc do Ðức Phật A Di Ðà là Giáo Chủ, tông này lấy Kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, và Tiểu Bản A Di Ðà làm căn bản.
Ngài Tuệ Viễn (334-416) là đệ nhất Tổ Tịnh Ðộ Tông Trung Hoa, tại Lư Sơn ngài dựng chùa Ðông Lâm và trụ trỉ ròng rã 30 năm không hề xuống núi, nơi đây ngài lập ra hội Niệm Phật gọi là Bạch Liên Xã, có 123 người, trong đó có 18 vị gọi là "Ðông Lâm Thập Bát Hiền".
Những vị Tổ Tịnh Ðộ Tông Trung Hoa lần lượt được tôn vị như sau: 1) Tuệ Viễn, 2) Thiện Ðạo, 3) Thừa Viễn, 4) Phát Chiếu, 5) Thiếu Khương, 6) Diên Thọ, 7) Tỉnh Thường, 8) Châu Hoằng, 9) Ngẩu Ích, 10) Hành Sách, 11) Tỉnh Am, 12) Triệt Ngộ, 13) Ấn Quang.
Ở miền Nam, có cư sĩ Minh-Trí thành lập "Tịnh Ðộ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam", tổ đình đặt tại Minh Hưng Tự số 101 đường Lý Chiêu Hoàng, quận 6, thành phố Sài gòn, xây cất năm 1934. Hội này chọn phương pháp Phước Huệ song tu lấy pháp môn niệm Phật làm căn bản, mỗi chùa thuộc hội đều có một phòng thuốc Nam để hốt thuốc chữa bệnh miển phí cho đồng bào. Ngài Minh Trí được tôn xưng là Giáo chủ Tịnh Ðộ Cư Sỉ Phật Hội Việt Nam.
Ông Ðoàn Trung Còn, một dịch giả Phật Học nổi tiếng trong nhiều thập kỷ qua. Năm 1955, chư Hòa Thượng Chơn Mỹ trụ trì chùa Giác Hải Phú Lâm Chợ Lớn, Hòa Thượng Chơn Minh, trụ trì chùa Giác Chơn, Chợ Lớn cùng ông Lý Trung Hiếu, Đốc công, Sở Công Chánh Sàigòn đã thành lập Giáo Hội Tịnh Độ Tông Việt Nam, trụ sở đặt tại chùa Giác Hải, sau dời về Liên Tông Tự, 145 đường Ðề Thám, quận I, thành phố Sàigòn, Vào thập niên 60, ông Đoàn Trung Còn xuất gia, trở thành tu sĩ, pháp danh Hồng Tại, ông giữ chức vụ Trị sự trưởng của Giáo Hội nầy, ông đã viên tịch năm 1988.
Các chùa thuộc hệ phái Non Bồng của Hòa Thượng Thích Thiện Phước, ở tổ đình Linh Sơn Cổ Tự trên núi Dinh, gần Thị Trấn Bà Rịa, cũng thuộc giáo hội Tịnh Ðộ Tông này, Hòa Thượng Thiện Phước đã viên tịch năm 1986, nay do ni sư Huệ Giác thống lãnh Tăng, Ni của gần 50 ngôi chùa khắp Miền Nam và Nam Trung Phần. Tông môn này thực hành rốt ráo theo pháp môn Niệm Phật. Ngoài những thời công phu, chấp tác, vào 11 giờ đêm đều dành riêng một thời niệm Phật A Di Ðà. Riêng Nhất Nguyên Bửu Tự ở Xã Vĩnh Phú (Lái Thiêu), huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé, hàng năm đều có tổ chức Khóa Bá Nhật Niệm Phật (100 ngày đêm liên tục niệm Phật). Từ năm 1964 bắt đầu tổ chức khóa Niệm Phật này, khai kinh vào đêm mồng 7 tháng 8 và hoàn kinh vào đêm 16 rạng ngày 17 tháng 11, nhằm ngày vía Ðức A Di Ðà Phật. Bất cứ ai cũng có thể đến đây niệm Phật 1 thời (2 giờ), một buổi, một ngày, nhiều ngày hay cả khóa, việc ăn ở do chùa cung cấp, phật tử chỉ có chuyên dùng thì giờ niệm Phật mà thôi. Mỗi năm phật tử Biên Hòa, Bình Dương, Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Vĩnh Long, Long Xuyên... đều về đây tham gia khóa Niệm Phật, người ta thường nói "cửa chùa rộng mở", đặc biệt chùa này không có cánh cửa để đóng hay mở.
Quan Âm tu viện, ở phường Bửu Hòa (gần Cầu Hang, Biên Hòa), thành phố Biên Hòa, tỉnh Ðồng Nai, do ni sư Huệ Giác làm viện chủ, Phật tử đi hành hương, viếng chùa, nhằm giờ thọ trai, đều được dọn một phần ăn như phần thọ trai của chư Tăng Ni ở chùa, những năm khó khăn về thực phẩm, chùa vẫn giữ được nề nếp nầy, mặc dù Tăng Ni sáng cháo, trưa cơm, chiều cháo.
Tịnh Độ Tông ngày nay có lẽ hệ phái Non Bồng, là một hệ phái lớn nhất có nhiều chùa từ miền Tây, miền Đông và miền Trung Việt Nam.
3- Mật Tông: Là một tông phái đặc biệt, do ba vị đại học giả của Mật giáo là Thiện Vô Úy, Kim Cương Trí, và Bất Không đem Mật giáo từ Ấn Ðộ truyền sang Trung Hoa gọi là Mật Tông, y vào giáo lý bí mật của Kinh Ðại Nhật, Kinh Kim Cương Ðính gọi là Mật Tông hay Chơn Ngôn Tông.
Mật Tông có "tam mật", nêu về ý thú thực tiễn tu hành, khi tu tới Tam Mật Tương Ứng với nhau, tức là "Tức thân thành Phật", nghĩa là tay thì kiết ấn "Thân mật", miệng đọc chú "Khẩu mật", ý trụ Tam ma địa "Ý mật".
Trong Nam, có Hòa Thượng Nhẫn Tế thế danh Nguyễn Văn Tạo sanh năm 1889 tại thôn An Thánh (nay là thị trấn Lái Thiêu), tỉnh Bình Dương, hâm mộ đạo Phật từ nhỏ, năm 1904, được 16 tuổi ngài đến chùa Thiên Tôn trong vùng, quy y với Hòa Thượng Ấn Thành - Từ Thiện, pháp danh Chơn Phổ. Sau khi học hành xong, Ngài đi làm việc nhưng vì có bệnh nên xin nghỉ dưỡng bệnh.
Năm 1926, chùa Thiên Thai ở Bà Rịa có giới đàn, Ngài đến xin thọ giới do Đầu đàn Hòa Thượng Huệ Đăng truyền giới, Ngài được ban pháp danh Trừng Liễn, pháp hiệu Minh Tịnh thuộc đời thứ 42 Thiên Thai Thiền Giáo Tông.
Năm 1933, chùa Thiên Tôn mở Đại giới đàn, Ngài xin thọ giới do Đầu dàn Hòa Thượng Ngộ Định - Từ phong truyền giới, Ngài được ban pháp hiệu Nhẫn Tế, đệ tử nối pháp đời thứ 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh chùa Thiên Tôn.
Ngày 17-4-1935, Ngài lên tàu đi sang Ấn độ, chiêm bái và học Phật, có sang Népal nhận được Xá lợi Phật, rồi sang Tây Tạng ngày 28-6-1936, được yết kiến Nhiếp chánh Quốc vương Tây Tạng, được Lạt ma Nhiếp chánh nhận là tu sĩ Tây Tạng, ban cho pháp danh Thubten Osall Lama (Huệ Phát), ngài đắc pháp Mật Tông Tây Tạng. Đến ngày 29-10-1936, Ngày rời khỏi Tây Tạng, trở lại Ấn độ học hỏi thêm một thời gian rồi mới trở về xứ. Ngài đặt chân lại am thất cũ của mình tại Bình Dương ngày 30-6-1937.
Tại Phú Cường có ngôi chùa Bửu Hương, Phật tử tại đây quy ngưỡng nên dâng cúng chùa cho Ngài, Ngài đổi tên là Tây Tạng tự, từ đó Ngài tu và truyền bá Mật tông, nhưng vì Phật giáo thời đó, nên Mật Tông của ngài Nhẫn Tế không lan rộng, không lập nên Giáo Hội.
Hòa thượng Nhẫn Tế viên tịch ngày 17-5-1951, thọ 63 tuổi đời, đắc 25 hạ lạp, là một Lama Việt Nam đầu tiên, được chính Nhiếp chánh quốc vương Tây Tạng ấn chứng.
Ở Huế có Mật tông lưu truyền, thập niên 60, Hội Phật Học Nam Việt có thỉnh chư Tăng từ Huế vào chùa Xá Lợi làm lễ Trai Ðàn Cứu Tế, những vị Tăng nầy đã hành lễ theo nghi thức Mật Tông Trung Hoa.
Thích Viên Ðức có dịch một BỘ MẬT TÔNG gồm những sách : Hiển Mật Viên Thông Thành Phật Tâm yếu, Kinh Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương, Kinh Chuẩn Ðề Ðà La Ni Hội Thích (hay Kinh Thất Cu Chi Phật Mẫu Sở Thuyết), Kinh Mạt Pháp Nhất Tự Ðà La Ni.
4- Phật giáo Nguyên Thủy: Phái này do Hòa Thượng Hộ Tông lập ra, ngài tục danh là Lê văn Giảng, sanh năm 1893 tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Ðốc, ngài có bằng Bác sĩ thú y và lập nghiệp tại Kampuchea. Năm 1914, được 21 tuổi, ngài lập gia đình, nhưng đến năm 1925, được 32 tuổi, ngài phát tâm tìm đạo. Sau khi tu tập qua nhiều pháp môn, đến năm 1936, ngài quyét chí thực hành Lục Ðộ Ba La Mật, có thì giờ thì dành cho thiền định và có của cải là bố thí. Ngài bỏ tiền ra xây trường học để dạy tiếng Pali, cất một ngôi chùa ở Kampuchea để cho Việt kiều có nơi thọ Bát quán trai.
Ðến năm 1939, theo lời thỉnh cầu của cư sĩ kỹ sư Nguyễn văn Hiếu, Ngài Hộ Tông về Tịnh Xá ở Gò Dưa, Thủ Ðức mở đạo và năm 1949 ngài Hộ Tông cùng ông Nguyẽn văn Hiếu đứng ra xây chùa Kỳ Viên Tự, 610 đường Nguyễn Ðình Chiểu, quận 3, thành phố Saigon. Năm 1950 Kỳ Viên Tự hoàn thành như ngày nay. Chùa có tên là Jetavana Vihara Kỳ Viên Tự, sân trước bên phải chùa, ngay góc đường Nguyễn Ðình Chiểu, Bàn Cờ có trồng cây Sa La, lấy gốc từ Ấn Ðộ (Sa La Song Thọ, nơi đức Thế Tôn nhập diệt), hoa trổ quanh năm, màu phơn phớt tím như hoa sen nhỏ, trông rất đẹp, tỏa hương thơm. Chánh điện ở trên 2 tầng tượng Phật có tôn trí Xá Lợi Phật do Ðại Ðức Narada tặng.
Ông Nguyễn văn Hiếu sanh năm 1896 tại làng Tân An, tổng Ðịnh Bảo, hạt Cần Thơ, ông đậu bằng Cao Ðẳng kỹ thuật Công Chánh của trường Cao Ðẳng Công Chánh Hà Nội năm 1919, ông được bổ đi làm việc ở Kampuchea. Năm 1925 đổi về làm ở sở Hỏa Xa Saigon. Năm 1930, nhân đọc cuốn La Sagesse de Bouddha (Tuệ Giác của Phật), ông phát tâm đem Phật giáo Nguyên Thủy vào Việt Nam. Khởi đầu, ông cất "cốc" ở Vườn Xoài, khu Trương Minh Giảng để tập thiền, có số thân hữu tham gia đông, ông cất một chòi lá lớn ở Tân Sơn Nhất, để huynh đệ có nơi tu Thiền và luận đạo. Năm 1938, ông dở chòi lá về Gò Dưa dựng thành Tịnh Xá. Năm 1939, ông thỉnh đại đức Hộ Tông, Thiện Luật, Huệ Nghiêm và một vị sư Kampuchea về tịnh xá mở đạo, đồng thời ông thỉnh đại đức Vua Sãi Chuôn Nath và 30 vị sãi Kampuchea đến làm lễ Sima (Kiết giới) đặt tên chùa là Batana Hamayarama (Bửu Quang Tự) Ông thật là một vị Hộ Pháp, nhờ đó giáo phái Nguyên Thủy Việt Nam được thành lập và có nguồn gốc từ Kampuchea truyền sang.
Phật giáo Nguyên Thủy tức là Giáo Phái Tiểu Thừa, kinh điển theo Pali tạng, ăn mặn mỗi ngày một bữa ăn vào giờ Ngọ (12 giờ trưa) cũng tụng kinh và ngồi thiền.
Năm 1958 Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy được thành lập, ngài Hộ Tông giữ chức Tăng Thống đầu tiên, đến năm 1971, ngài đã 80 tuổi lại đãm nhiệm chức vụ này thêm 2 nhiệm kỳ đến năm 1974. Gíáo Hội Phật giáo Nguyên Thủy và Hội Phật giáo Nguyên Thủy đều có tham gia thành lập Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất vào ngày 20 tháng 11 năm 1963 tại chùa Xá Lợi Saigon.
5- Giáo Phái Khất Sĩ: Giáo phái này do Tổ Sư Minh Ðăng Quang thành lập. Tổ sư thế danh là Nguyễn Thành Ðạt tự Lý Huờn, sanh ngày 26 tháng 9 năm Quý Hợi (nhằm 4-11-1923) tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Con ông Nguyẽn Toàn Hiếu và bà Phạm Thị Ngà, bà thọ thai 12 tháng mới sanh ra ngài, 9 tháng sau bà mất.
Năm 1937, được 14 tuổi, Ngài xin phép phụ thân lên Phnom Pênh tầm sư học đạo. Ngài tu học ở đây đến năm 1941, được 4 năm rồi trở về nhà lập gia đình để lo tròn chữ hiếu, lúc ấy Ngài được 18 tuổi, năm sau vợ con đều mất vì bệnh. Năm sau 1943, được 20 tuổi, Ngài quyết chí đi tu, vân du vùng Thất Sơn tầm sư học đạo. Mùa Xuân năm 1944, Ngài ở Hà Tiên tham thiền, thâm nhập lý pháp. Ðến rằm tháng Bảy năm này chủ chùa Linh Bửu Tự làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho, thỉnh ngài về trụ trì, Ngài khai đạo từ đó.
Năm 1946, Ngài bắt đầu dẫn đoàn Du Tăng đi hành đạo ở Mỹ Tho, Gò Công, Long An, Thủ Thừa, Bến Lức, Phú Lâm, Chợ Lớn, Bà Chiểu, và các tỉnh miền Ðông. Năm 1953, một tịnh xá đầu tiên được xây dựng tại Ðồng Ông Cộ (Bà Chiểu, tỉnh Gia Ðịnh). Ðến mồng một tháng hai năm Giáp Ngọ (5-3-1954) từ Vĩnh Long du hóa sang Cần Thơ, đến Bình Minh, địa phận của tướng Trần văn Soái. Ngài bị bắt cùng với một chú tiểu, chú tiểu về sau được thả ra, còn Tổ sư mất tích từ đó.
Tổ sư Minh Ðăng Quang đã dung hợp Nam và Bắc Tông, định ra hạnh Sa Môn Khất Sĩ:
Nhất biểu thiên gia phạn,
Cô thân vạn lý du.
Dục cùng sanh tử thọ,Khuất hóa độ xuân thu.
Có nghĩa:
Một bầu cơm ngàn nhà,
Riêng mình vạn dậm xa.
Muốn thoát vòng sống chết,
Xin hóa tháng ngày qua.
Theo tôn chỉ của giáo phái này, người Du Tăng khất sĩ: Với bộ áo vàng choàng một bên, đầu đội trời, chân đạp đất, trong người không giữ tiền bạc, tay bưng bỉnh bát, nhà sư đi khắp nẽo đường đất nước hành đạo, hóa duyên.
Năm 1965, bên Tăng chúng thành lập năm đoàn du tăng so Trưởng Lão Giác Tánh và các Thượng Tọa Giác Chánh, Giác An, Giác Nhơn, Giác Lý làm trưởng đoàn. Bên Ni chúng cũng có 5 đoàn do quý Ni Cô Huỳnh Liên, Ngân Liên, Trí Liên, Diệu Liên, Tạng Liên làm trưởng đoàn. Các đoàn đã du hóa khắp Nam phần và Miền duyên hải Trung phần. Năm 1966, Giáo Hội tăng Gìa Khất Sĩ Việt Nam được thành lập, có pháp viện Minh Ðăng Quang ở ngã ba Cát Lái, xa lộ Biên Hòa. Hội đồng lãnh đạo trung ương gồm Viện Chỉ Ðạo do Thượng Tọa Giác Nhiên làm Tổng Trị Sự. Gần đây các giáo đoàn không còn đi khất thực nữa vì Cộng Sản không cho phép.
Giáo phái khất sĩ mặc y và du hóa như Nam Tông. Tăng Ni trường chay, kinh điển viết theo lối văn vần. Sau 10 năm hành đạo, tổ sư Minh Ðăng Quang lưu lại giáo lý gồm có: Bồ Tát Giáo, và bộ sách CHÂN LÝ. Ngài dạy Tăng chúng: Sống là sống chung, biết là học chung, linh là tu chung.
Ngày nay, vì các ngài Giác Chánh tuổi cao nẻn Thượng Tọa Giác Toàn điều hành giáo hội khất sĩ. Trụ sở tại Trung Tâm Tịnh Xá Gia Ðịnh. Có khoảng 300 ngôi tịnh xá khắp miền Nam, ở hải ngoại Hòa Thượng Giác Nhiên là Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Gìa Khất Sĩ Thế Giới, có trên 20 tịnh xá thuộc giáo phái này ở Hoa Kỳ.
6- Phật Giáo Hòa Hảo: Tông phái này do Ðức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng, Ngài tên thật là Huỳnh Phú Sổ, sinh năm Kỷ Mùi 1919, tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, Tỉnh Châu Ðốc. Thân sinh ngài là ông Huỳnh Công Bộ. Thuở thiếu thời, ngài học đến bậc tiểu học (ngày trước) ở trường tiểu học Tân Châu, trước Ngài từng vân du vùng Thất Sơn, đến ngày 19-5- năm Kỷ Mão (nhằm 5-7-1939), Huỳnh Phú Sổ khai đạo tại làng Hòa Hảo, thuở đó tín đồ tôn xưng là Thầy hay Ðức Thầy, Ngài có biệt hiệu là Hồng Vân Cư Sĩ và Hòa Hảo. Sấm giảng Thi Văn toàn bộ của ngài dày 500 trang.
Phật giáo Hòa Hảo (PGHH) có truyền thống của Bửu Sơn Kỳ Hương, truyền bá phật giáo trong giới nông dân, tu tại gia, có tôn chỉ "Học Phật, Tu Nhân", thực hành tứ ân: 1) Ân Tổ tiên cha mẹ 2) Ân Ðất Nước 3) Ân Tam Bảo 4) Ân Ðồng Bào Nhân loại. Triệt để bài trừ mê tính như đốt vàng mã, thầy bùa, thầy pháp...không cất chùa mới, chỉ cất Ðộc Giảng đường để ngày rằm, mồng một, tín đồ đọc Sấm giảng, đó là những lời răn dạy, khuyến tu của Ngài theo thể văn vần.
Tín đồ PGHH cũng quy y tam bảo, giữ ngũ giới, ăn tứ trai, thập trai và trường trai, đàn ông để búi tóc và râu, trong nhà có một bàn thờ Cửu Huyền thất tổ, bên trên là tấm trần điều, tượng trưng cho tịnh độ, ngoài sân có bàn thờ thông thiên phải lạy bốn phương, bài nguyện, Ðức Thầy đặt theo thể văn vần. Cúng lạy ở bàn thờ trong nhà thì khởi đầu cầm hương xá 3 xá, quỳ xuống chấp tay ngay trán nguyện:
Cúi kính dưng hương trước Cửu Huyền,
Cầu trẻn Thất Tổ chứng lòng thiềng.
Con nay tỉnh ngộ quy y Phật,
Chí dốc tu hành đạo phước duyên.
Cắm hương rồi đứng ngay thẳng, chắp tay vào ngực đọc tiếp:
Cúi đầu lạy tạ Tổ Tông,Báo ơn sanh dưỡng dày công nhọc nhằn.
Rày con xin giữ đạo hằng,
Tu cầu Tông Tổ siêu thăng Phật đài.
Nguyện làm cho đẹp mặt mày,
Thoát nơi khổ hải Liên đài được lẻn.
Mong nhờ Ðức Cả bề trên,
Ðộ con yên ổn vững bền cội tu. (Lạy 4 lạy)
Thời gian hành đạo, Ðức Thầy đi khắp miền Hậu Giang giảng đạo, tín đồ đi nghe giảng đông hàng nghìn, cho nên thường tổ chức nơi công cộng như ở nhà lồng chợ hay nhà Tín đồ có sân rộng, thực dân Pháp sợ ảnh hưởng của Ngài, năm 1940, đem an trí Ngài trong nhà thương Chợ Quán, giữa năm 1941 đưa Ngài đi biệt xứ ở Bạc Liêu, đến cuối năm 1942 lại đưa Ngài trở về Saigon. Vào ngày 21-9-1946, Ngài lập đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội, gọi tắt là Việt Nam Dân Xã Ðảng. Ngài tham gia Uỷ ban Hành Chánh Nam Bộ, vào mật khu ở Miền Ðông với lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn.
Ngài đã đi dự Hội Nghị với Việt Minh (Nay là cộng sản Việt Nam) do Bửu Vinh mời, họp tại làng Tạ Phú, Ðốc Vàng, tỉnh Long Xuyên, ngay trong phiên họp, họ đã tắt đèn và nổ súng, cận vệ của Ngài chạy thoát về báo lại, ngay đêm đó, có thủ bút của Ngài viết, gửi cho các Tư lệnh Lực lượng PGHH:
Ông Trần Văn Soái và Ông Nguyển Giác Ngộ;
Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu Vĩnh, bỗng có sự biến cố xảy ra, tôi và ông Vĩnh xuýt chết, chưa rõ nguyên nhân, còn điều tra, trong mấy anh em phòng vệ không biét chết hay chạy đi, nếu có ai về báo cáo rằng tôi bị bắt hay mưu sát thì các ông đừng náo động.
Cấm chỉ đồn đãi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu, hảy đóng quân y tại chỗ.
Sáng ngày, tôi sẽ cùng ông Bửu Vĩnh điều tra kỹ lưỡng rồi sẽ về sau.
Phải triệt để tuân lịnh.
Ngày 16-4-1947 : 9 giờ 15 đêm
Ký tên: S
Từ đó người ta không có tin tức về Ngài, có lẽ Cộng Sản đã hảm hại Ngài sau khi đã viết lá thư đẻm đó. Ngài mới có 27 tuổi. Ngài chẳng những là một vị giáo chủ PGHH mà còn là một lãnh tụ quốc gia chân chính, tiến bộ, nhiệt tâm yêu nước.
Ðức Huỳnh Giáo Chủ tổ chức PGHH có quy củ từ thôn ấp đến làng, quận, tỉnh và trên hết là Ban Trị Sự Trung Ương đặt trụ sở tại Tổ Ðình An Hòa Tự nơi Thánh Ðịa Hòa Hảo.
Ðảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội, có một lực lượng quân sự, là một tổ chức kháng chiến chống Pháp, chống chế độ độc tài khủng bố của Cộng Sản Việt Minh, lực lượng này gồm quân đội củ Tướng Trần Văn Soái tự Năm Lửa, Tổng Tư Lịnh Lực Lượng PG Hoà Hảo, Tổng Hành Dinh ở Cái Vồn, Cần Thơ. Tướng Lâm Thành Nguyên tự Hai Ngoán, Phó Tổng Tư Lệnh, tổng hành dinh ở Cái Dầu, Châu Ðốc. Tướng Nguyễn Giác Ngộ, tự Nguyễn Trung Trực, tổng hành dinh ở Chợ Mới, Long Xuyên. Tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt, tổng hành dinh ở Thốt Nốt, Long Xuyên. Các lực lượng võ trang trên, năm 1954 đều về hợp tác với chánh phủ Ngô Ðình Diệm. Riẻng tướng Lê Quang Vinh sau khi Hội Nghị với đại sứ Nguyễn Ngọc Thơ vùng Ðồng Tháp Mười trở về, đã bị một đồn Bảo An ở Hòa Bình Thạnh (Chắc Cà Ðao) bắt, giải về nhà lao Cần Thơ, ra Tòa Án binh, bị xử tử hình tại sân vận động Cần Thơ.
PGHH dưới chế độ Ngô Ðình Diệm cũng bị đàn áp như các tôn giáo khác, phải đợi sau cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 thành công, trung tướng Nguyển Giác Ngộ là Ủy viên đặc trách tôn giáo trong Hội Ðồng tướng lãnh, từ đó PGHH có cơ hội phục hồi tổ chức. Ngày 18-11-1964, Hội Ðồng Trị Sự trung ương Giáo Hội PGHH được thành lập. Theo kiểm kê năm 1965, PGHH chỉ có một ít chùa, có 390 Ðộc giảng đường, tín đồ chừng 4 triệu ở khắp các tỉnh Nam Phần, đặc biệt các tỉnh có đông đảo tín đồ là Châu Ðốc, Long Xuyên, Sa Ðéc, Rạch Gía, Cần Thơ, Vĩnh Long.
III.- Kết Luận:
Hiểu được những tông phái chính của Phật Giáo Việt Nam hiện nay, giúp chúng ta biết rõ nguồn gốc, pháp môn tu tập, để chọn lựa cho mình tông phái thích hợp, nhờ đó sự tu học ngày càng tinh tấn.
Sách tham khảo:
- THÍCH THANH KIỀM Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Vạn Hạnh ,Saigon, 1964.
- Linh Sơn Phật học nghiên cứu Hội, Ðặc san, Phật Học Tùng Thơ, Saigon, 1958.
- The Quest, The Theosophical Publishing house, Wheaton, IL, Winter 1991.
- VIETNAM NEWS, Nguyệt san số 7, Việt Nam Publishing Inc. Atlanta, GA, 1994.
- Ðức Huỳnh giáo chủ, Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ, vppghhHn, Ấ n tống lần 2, năm 1984.
- Linh Sơn Phật học nghiên cứu Hội, Ðặc san, Phật Học Tùng Thơ, Saigon, 1958.
- The Quest, The Theosophical Publishing house, Wheaton, IL, Winter 1991.
- VIETNAM NEWS, Nguyệt san số 7, Việt Nam Publishing Inc. Atlanta, GA, 1994.
- Ðức Huỳnh giáo chủ, Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ, vppghhHn, Ấ n tống lần 2, năm 1984.
Vĩnh Bảo sưu tầm 18/12/2013





