Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

TÁC DỤNG KHÔNG NGỜ CỦA VỎ HOA QUẢ


Thông thường, hạt và vỏ trái cây và rau được vất vào thùng rác nhưng hóa ra chúng có rất nhiều vitamin và khoáng chất …
1/- Táo : Nhiều người tin rằng, cần phải gọt sạch vỏ táo trước khi ăn nhưng tốt nhất là không làm như vậy. Vỏ táo bao gồm chủ yếu là cellulose, có tác dụng thanh lọc cơ thể khỏi chất độc. Đây cũng là bộ phận chứa pectin một chất giúp hệ tiêu hóa hoạt động ổn định và làm giảm mức độ cholesterol có hại. Vitamin và các nguyên tố vi lượng cũng chủ yếu có trong vỏ táo, do đó, nếu bạn ăn một quả táo gọt vỏ nhớ rằng bạn đã đánh mất một lượng lớn các chất có lợi.
6 Vo hoa qua 1Trong số các chất đó phải kể đến vitamin C (thiếu nó làm suy yếu hệ miễn dịch và lão hóa sớm), vitamin B (chất có lợi trên da, tóc và niêm mạc), vitamin P (chống các biểu hiện mệt mỏi, trầm cảm, dễ cáu gắt và mất ngủ), kali (cần thiết cho tim và mạch máu), magiê (ổn định quá trình trao đổi chất, giảm stress và chắc xương) và sắt (có ảnh hưởng tích cực lên hệ thần kinh, cải thiện máu, tăng cường trí nhớ). Dưới vỏ táo chứa nhiều axit hữu cơ giúp ngăn chặn quá trình lên men trong ruột và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, táo phải được rửa cẩn thận trước khi ăn và ngoài ra, vỏ của nó cũng là cũng gây trở ngại cho những người có vấn đề về tiêu hóa.
Đối với phần ruột táo cần phải được gậm thật kỹ vì càng gần hạt táo càng nhiều chất fintonxit. Chất này là một loại thuốc kháng sinh tự nhiên chống lại vi khuẩn và cải thiện khả năng miễn dịch. Một số người tin rằng cần ăn hết sạch phần ruột táo vì hạt táo chứa rất nhiều I-ốt. Ngoài ra, còn có thông tin hạt táo có thể được sử dụng để phòng chống ung thư.
Tuy nhiên, khi thông tin trên còn chưa được kiểm chứng nhưng mọi người đêu biết rằng hạt táo có chứa axit prussic có hại cho cơ thể. Vì vậy, tốt hơn là nên vứt bỏ hạt táo còn i-ốt có thể được lấy từ các sản phẩm khác.
6 Vo hoa qua 22/- Bắp cải : Vitamin và các yếu tố vi lượng (vitamin C, PP, magiê và axít folic) được phân phối không đều trong cây cải bắp. Hầu hết tất cả các chất hữu ích ở trong các lõi và phần lá màu xanh thẫm của bắp cải. Trong lõi cải bắp có nhiều chất xơ có thể giúp đưa độc tố tích lũy trong cơ thể ra ngoài, mang lại cảm giác no mà không thừa calo.
Ngoài ra, nó còn chứa những chất có bình thường hóa quá trình trao đổi chất. Đó là lý do tại sao nhiều nhà dinh dưỡng khuyên ăn trưa và ăn tối với các món ăn từ lõi cải bắp hay món salad bắp cải. Nếu bạn không quá lạm dụng chất bột và chất ngọt thì với chế độ ăn nêu trên bạn có thể dễ dàng giảm một vài cân chỉ trong một tháng. Thực tế là cây cải bắp đặc biệt rất nhiều choline, chất giúp tiêu hóa chất béo mà không gây hại đến gan và túi mật.
3/- Mơ : Hương vị của quả mơ giống với hạnh nhân và nó thường thay thế hạnh nhân trong công thức nấu ăn. Hạt mơ có chứa các loại dầu hữu ích giúp làm chậm quá trình lão hóa, bảo vệ tim và các mạch máu, cũng như vitamin  B, tuy nhiên, không phải hạt nào cũng đều là hữu ích. Hãy nếm thử hạt của nó, nếu bạn cảm thấy đắng thì tốt nhất bỏ hạt đi vì vị đắng cho thấy lượng amygdalin cao trong hạt. Đây là chất có thể gây ngộ độc.
4/- Cam, quýt : Vỏ quả họ cam quýt cũng rất hữu ích. Nghiên cứu của các nhà khoa học Canada cho thấy cam, chanh và vỏ bưởi có chứa rất nhiều flavon. Chất này làm chậm quá trình lão hóa và đẩy nhanh sự bài tiết cholesterol có hại. 6 Vo hoa qua 3Trong các thí nghiệm trong được tiến hành trên chuột đồng, khi bổ sung vào chế độ ăn uống của loài này 1 lượng flavon 1% thì lượng lipoprotein mật độ thấp và cholesterol giảm lên đến 35-40%.
Theo các nhà nghiên cứu, trong vài năm tới họ sẽ có thể tạo ra một loại thuốc tự nhiên dựa trên flavon của các trái cây có múi có thể cạnh tranh với các loại thuốc chống xơ vữa động mạch hiện nay. Hiện tại thì bạn có thể chuẩn bị các thức uống ngon bổ được làm từ bưởi hoặc vỏ cam chỉ với 1muỗng canh vỏ bưởi tươi cắt nhỏ đổ thêm 1 cốc nước đun sôi để ngâm nửa giờ sau đó đem lọc.
6 Vo hoa qua 45/- Bí đỏ : Hạt bí đỏ còn gọi bí ngô – không chỉ ngon, mà còn hữu ích. Trong hạt bí ngô có chứa rất nhiều chất cần thiết như vitamin A, vitamin E chất chống oxy hóa, Vitamin D rất cần thiết cho xương chắc khỏe, ngoài ra còn có vitamin B, magiê, kẽm (tốt cho da, giúp tóc, móng tay và một hệ thống miễn dịch khỏe mạnh).
Hạt bí còn giúp cải thiện sự ngon miệng và tăng tốc độ chữa lành vết thương. Tuy nhiên, trong quá trình nấu ăn hầu hết các chất dinh dưỡng có trong các hạt bí ngô bị phá hủy. Vì vậy, phơi khô hạt bí trước khi sử dụng sẽ tốt hơn nhiều so với đem rang nó.
6/- Dưa hấu : Hạt dưa hấu có thể phơi khô như bí ngô hay hạt hướng dương. Vị của nó cũng ngon và cũng không kém phần hữu ích. Trong hạt dưa hấu có chứa tinh dầu hữu ích được sử dụng để ngăn ngừa sỏi thận, cải thiện sự trao đổi chất và chống viêm.
Nhưng vỏ dưa lại không mang lại lợi ích nào mà trái lại còn gây hại. Vỏ dưa hấu, hấp thụ các chất có hại, bao gồm cả các kim loại nặng. Vỏ dưa hấu thường được phun và hấp thụ một lượng lớn các chất hóa học cho nên tốt nhất là không nên ăn quá vào phần vỏ dưa.
7/- Nho : Các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện ra rằng trong hạt nho có đến 10 lần nhiều hơn chất dinh dưỡng hơn so với quả nho. Trong hạt nho cũng có nhiều chất ảnh hưởng đến nội tiết tố nữ estrogen tác động đến ham muốn tình dục. Các hợp chất này được gọi là phytoestrogens. Các hợp chất này giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và cục máu đông trong động mạch.
6 Vo hoa qua 5Ngoài ra, phytoestrogens bảo vệ chúng ta khỏi ung thư và cải thiện chức năng sinh sản ở phụ nữ. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bạn phải ăn nhiều hạt nho. Ngoài các chất có lợi, hạt nho cũng có chứa acid prussic. Tuy nhiên, các acid prussic trong hạt nho hoàn toàn không có nhiều và do đó một vài hạt sẽ không gây ra tác hại.
Một số tác dụng có lợi của vỏ rau củ khác
8/- Vỏ khoai tây điều trị mụn trứng cá và loại bỏ túi dưới mắt. Nó chứa các enzym có lợi, vì vậy các làm mặt nạ vỏ khoai tây hữu ích để làm nhẵn mặt hoặc sử dụng chúng như một miếng gạc đắp trên mí mắt.
9/- Vỏ dứa, thơm làm có thể làm mặt nạ cho da nhờn (trước đó bạn nên thử nó trên cổ tay, bởi vì nếu bạn có làn da nhạy cảm dứa có thể gây kích ứng da). Hãy cắt vỏ dứa thành miếng nhỏ và đặt chúng trên mặt, tránh vùng mắt và môi. Giữ mặt nạ từ 10-15 phút, sau đó rửa sạch mặt với nước khoáng bạn sẽ có làn da khô ráo không bị nhờn.
6 Vo hoa qua 6
10/- Vỏ kiwi có thể giúp bạn loại bỏ tế bào chết và làm mới khuôn mặt. Chỉ cần lau sạch da bằng vỏ của loại quả này
Đinh Mỹ Chơn chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 28/1/2014

TINH TẾ MÂM CỖ TẾT CỔ TRUYỀN MIỀN BẮC

TINH TẾ MÂM CỖ

TẾT CỔ TRUYỀN MIỀN BẮC

Mâm cỗ Tết của người miền Bắc không chỉ đa dạng về món mà còn chú trọng đến hình thức, màu sắc với mong muốn một năm mới nhiều may mắn cho cả gia đình.
Trong đời sống tinh thần của người Việt, Tết Nguyên Đán là khởi đầu cho một năm mới, vận hội mới của gia đình, cộng đồng và cả dân tộc. Thế nên gia đình dù còn khó khăn, người ta vẫn gắng sắm sửa mâm cỗ Tết thịnh soạn để tưởng nhớ ông bà, Tổ tiên, mong Tổ tiên phù hộ cho con cháu sức khỏe, học hành tấn tới, làm ăn phát tài phát lộc.
7 Mam co 1Ai đó, nếu đã biết qua về mâm cỗ cổ truyền hẳn sẽ thấy mâm cỗ miền Bắc, đặc biệt là mâm cỗ Tết của người Hà Nội thường rất bài bản theo đúng nét cổ truyền của dân tộc. Mâm cỗ Tết miền Bắc thường có 4 bát, 4 đĩa tượng trưng cho tứ trụ, bốn mùa và bốn phương. Cỗ lớn thì 6 bát 6 đĩa hoặc 8 bát 8 đĩa tượng trưng cho phát lộc, phát tài. Có khi mâm cỗ lớn phải xếp cao đến 2, 3 tầng. Cỗ ngày xưa phải bày lên mâm gỗ hoặc mâm đồng, đi cùng với bát chiết yêu và đĩa cây mai.
Bốn bát gồm một bát chân giò lợn hầm măng lưỡi, một bát bóng thả, một bát miến và một bát mọc nấm thả. Ngoài ra, nhiều gia đình còn chuẩn bị thêm một bát su hào thái chỉ ninh kỹ, một bát chim hầm để nguyên cả con, một bát gà tần hay nhiều gia đình giàu có xưa còn bày thêm bào ngư,7 Mam co 2 vi cá để mâm cỗ thêm đầy đặn, sang trọng.
Bốn đĩa gồm một đĩa thịt gà, một đĩa thịt lợn, một đĩa giò lụa, một đĩa chả quế. Thậm chí nhiều gia đình còn bày thêm đĩa thịt đông – món ăn đặc trưng cho những ngày lạnh miền Bắc, đĩa giò thủ, đĩa xào hạnh nhân, đĩa cá kho riềng, đĩa nộm su hào hoặc nộm rau cần và nem rán. Món tráng miệng có mứt sen, mứt quất, mứt gừng, chè kho… Tuy là nhiều món nhưng mỗi món chỉ bày vào một bát hay đĩa nhỏ nên mâm cỗ Tết vừa đa dạng, hài hòa, lại đẹp mắt.
Ngoài ra, mâm cỗ Tết đầy đủ không thể thiếu được bánh chưng, xôi gấc và đĩa dưa hành nén. Chính vì thế nên mỗi độ 7 Mam co 3Tết đến xuân về lòng người lại xốn xang rạo rực với:
“Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo bánh chưng xanh”
Ngày nay do cuộc sống bận rộn, phần lớn các gia đình đều làm giản tiện, rất ít người nấu đủ mâm cỗ như xưa. Tuỳ theo mỗi gia đình mà người ta chuẩn bị những món khác nhau, nhưng không thể thiếu các món chính như: bánh chưng, dưa hành, giò lụa, giò thủ, nem, nộm su hào, canh bóng bì, canh măng chân giò, miến nấu và một đĩa xào… để mâm cỗ ngày Tết luôn trọn vẹn ý nghĩa đoàn viên, may mắn. (theo Đỗ Linh)
Kiều Đắc Thềm chuyển tiếp 


Mâm cỗ Tết truyền thống của người Việt Nam

(TTXVN) 
Mâm cơm cúng Tất niên. Mâm cơm cúng Tất niên.
Cỗ là một bữa ăn có nhiều món ngon, đặc biệt mà ngày thường không có. Tết người Việt Nam nhất thiết phải có mâm cỗ, nếu không có cỗ thì không thể gọi là Tết.

Mâm cỗ Việt Nam bao giờ cũng thịnh soạn, nhiều màu sắc, với các bát đĩa cao, thấp, đầy, vơi khác nhau. Màu xanh của bánh chưng chen lẫn màu xôi gấc đỏ tươi, miếng măng màu vàng, chiếc nấm hương như chiếc dù xinh xinh, đĩa giò lụa hồng hồng...

Người Việt Nam có từ ghép là ăn cỗ, bởi có nghèo đến đâu, Tết cũng phải có mâm cỗ. Trước hết là để cúng ông bà, tổ tiên, sau nữa là để vui vầy sum họp, có cái "nâng lên đặt xuống" cho con cháu đỡ tủi. Dù ngày nay, ở thành phố lớn, Tết đến, người ta "chơi" Tết còn quan trọng hơn ăn Tết.

Thông thường một mâm cỗ có tám bát và tám đĩa chính, không kể đĩa dưa hành, rau xà lách, bánh chưng, xôi gấc. Nhưng tùy theo hoàn cảnh mỗi gia đình mà thêm món này, bớt món khác, vào thời bao cấp, mâm cỗ được rút xuống thành 4 bát 6 đĩa. Những món đặc sản, cao cấp đắt tiền được phép "cho qua" nhưng cái chính là mâm cỗ phải đầy đặn, ngon mắt, ngon miệng để người ăn được no nê.

Tám bát nước nấu thông thường là bát măng lưỡi lợn hầm châm giò, nhừ tơi, đặt lên lưỡi nó đã muốn tan ra, trên mặt bát còn trang trí mấy sợi miến tàu trong vắt, vài củ hành đã chín nhưng vẫn còn giữ nguyên màu xanh lục và lồng khồng vài sợi rau mùi. Gắp một miếng măng đã nhừ ấy còn ngon ngọt hơn miếng chân giò và khi chan thìa nước măng sẽ cảm thấy chất ngọt của xương thịt đã tan vào trong đó như thế nào.

Bát thứ hai là bát bóng bì, đó là thứ bì lợn phơi khô, rang lên cho nở phồng, được ngâm, được tẩy, cắt thành những hình quả trám, trong suốt mọng nước, nổi lập lờ trên là su hào, cà rốt tỉa thành hình hoa lá có trắng, có vàng, có da cam, tất cả ngập chìm trong thứ nước dùng ngọt lịm.

Bát thứ ba là mực nấu, su hào thái chỉ ninh kỹ, mực khô thái ngang thớ và cũng thái chỉ, xào riêng xong đặt lên chân tẩy là su hào trắng muốt, cũng thêm vài ba sợi rau mùi làm gia vị và cũng để trang trí cho hấp dẫn.

Bát thứ tư là nấm thả, đó là những cây nấm hương đã cắt hết chân, bây giờ nó nằm trong thứ nước dùng ngọt thanh, mỗi cây nấm ôm lấy một viên giò sống mang vị ngọt đậm.

Bát thứ năm là vây cá thủ trong suốt giòn sần sật, trông hơi giống sợi miến nhưng là sụn cá được tẩy kỹ, giả làm yến xào. Nhà bình dân ít có món này.

Bát thứ sáu là một con chim hầm, để nguyên cả con, nhồi vào bụng nó những cốm non, hạt sen, ý dĩ, thịt nạc, nấm hương, mộc nhĩ, thịt lợn vai băm nhỏ, được hầm nhừ tơi, cầm cái cánh con chim mà gỡ có thể tuột hết cả bộ xương chim xuống.

Cũng tương tự, một bát thứ bảy là gà tần, công thức gần giống với chim hầm.
Bát thứ tám là miến nấu lòng gà, miếng mề tỉa thành hoa, cong cong những tia nhỏ như cánh hoa khô bừng nở, nằm trên những sợi miến tầu không nát chút nào mà còn giữ nguyên vị giòn của bột đỗ xanh làm miến...


Tám đĩa được xếp quanh mâm cỗ, đĩa nọ xen đĩa kia, trước hết là đĩa thịt gà úp xấp sau khi bày, phô ra màu vàng của da gà béo ngậy, dưới lớp lá chanh thái chỉ xanh óng và lấp lánh màu cây lá vườn quê.

Đĩa thứ hai và thứ ba là giò lụa và chả quế. Giò lụa phơn phớt màu phấn hồng, còn chả quế có một mặt là màu da cam do bột quế và được nướng trên than hoa. Một đĩa thịt đông chất thạch trong suốt làm mát tê đầu lưỡi, trong khi đĩa cá kho mặn mòi, một khúc giữa thân con cá chép hay trắm, đặt vừa hết lòng đĩa, cái ruột rỗng, bây giờ nó là một hình con thoi màu cánh gián.

Một đĩa gà rán hay lạp xường hấp thái mỏng tang, mỗi miếng là một hình ô van xinh xinh sẽ làm cho bánh chưng đỡ ngán. Một đĩa giò thủ, tức giò xào. Đó là miếng tai miếng thủ thái xô xào lên rồi ép chặt bằng hai thanh tre suốt một đêm, khi gỡ ra nó quyện vào nhau thành một khối và mang hình gần giống con số 8 hay chiếc đàn vĩ cầm...

Ấy là không kể một khuôn bánh chưng xanh, vuông thành sắc cạnh, đặt trong lòng đĩa to đã cắt thành 8 miếng như khuôn hình ô tướng sĩ trong bàn cờ tướng. Và còn đĩa xôi gấc màu đỏ tươi lùm lùm như nửa hình cầu, điểm xuyết một vài chấm đen huyền là hạt gấc lẫn vào. Một đĩa dưa hành nén, tuy đóng vai phụ nhưng nó quan trọng vì nó là chất gây thèm ăn, không làm ngán cái lưỡi và làm đồ ăn dễ tiêu hơn vì toàn những món ăn "nặng". Có gia đình còn làm nem rán có màu nâu cánh gián, đi kèm với xà lách, hoặc đĩa nộm rau câu, nộm sứa chua cay, nộm ngó sen thi vị.

Tết thường trùng vào cữ đại hàn, rét đậm nên món thịt đông luôn xuất hiện, cũng như món cá kho Tết không phải là cá tạp kho tương như ngày thường mà cuối năm tát ao, con cá chép to nhất thường để dành để ăn Tết. Nó được kho với nước mắm ngon, lót nồi bằng thịt ba chỉ cho miếng cá không bị khô. Và ăn nó với bánh chưng thì không có cảm giác bứ một chút nào vì nó đậm miệng.

Mâm cỗ Việt Nam bao giờ cũng ngon lành, thịnh soạn. Không những thế, nó còn đẹp nữa với nhiều màu sắc, với các bát đĩa cao thấp đầy vơi khác nhau. Đó là cỗ xưa, Nhiều năm nay mâm cỗ Tết đã khác cả về số lượng và chất lượng.

Bữa cỗ ngày nay không còn nhiều ranh giới giữa nông thôn và thành thị, giữa người giàu và nghèo nữa. Đâu đâu cũng là giò nem ninh mọc, thịt gà thịt bò tôm mực, bia lon.... Người ta còn mua thêm cả đồ Tây như dăm bông xúc xích, đồ Tầu như lạp sường xá xíu....

Theo đà phát triển của nền kinh tế, nhân dân ta ăn tết to hơn trước. Tuy có pha một tý Tây Tàu, nhưng cái cốt lõi phong tục ngàn đời là: Tống cựu nghinh tân, cúng bái tổ tiên, kính già quý trẻ, giao tiếp thanh lịch, vui chơi văn nghệ thể thao, du Xuân năm mới và bánh chưng, thịt lợn, dưa hành vẫn còn nguyên. Âu đó cũng là một phần quốc hồn quốc túy vậy./.
Vĩnh Bảo sưu tầm 28/1/2014

HOA MAI NGÀY TẾT



9 Hoa mai 1AHOA MAI NGÀY TẾT

Trên đất nước Việt Nam, người ta thường biết đến hoa mai qua loại hoa mai vàng năm cánh đặc trưng xưa nay mà người ta còn gọi là mai rừng, mai tự nhiên hay mai thiên nhiên chỉ có năm cánh, hoa nhỏ và thân cao to có khi đạt đến chiều cao hơn chục mét, hương thơm thoang thoảng, lây lất mùi gỗ rất dễ chịu và mát, không nồng và đậm như một số loài hoa khác.
Nhưng thật ra trên thế giới có tất cả hai mươi bốn loài mai thuộc họ mai, tức là chi họ Ochna (Ochnaceae) khác với loài mai mơ gần giống như hoa đào của Trung quốc có màu trắng hoặc trắng hồng, cánh nhỏ, nhụy rậm và dày thường mọc thành chùm và hoa rậm, thân giống cây hoa đào, đoạn xù xì, đoạn trơn láng, màu xanh, da bóng và mọc cao to như cổ thụ.
9 Hoa mai 1BHoa mai tại Việt Nam mọc phổ biến ở miền Trung và miền Nam, đa phần là mai rừng tự nhiên. Sau này người ta sử dụng một số loại mai ghép lại với nhau và cho ra đời một loại mai nhân tạo đó chính là mai giảo nhiều cánh, số lượng cánh có thể lên đến hàng chục cho đến hàng trăm cánh xếp chồng lên nhau thành một đóa hoa dày và lớn. Nhưng thật ra hoa mai vàng trong tự nhiên cũng có loài đạt đến số lượng cánh rất cao (từ 12 cho đến 18 cánh). Mai tự nhiên có mùi hương tự nhiên rất thơm và thường nực nồng vào buổi sáng và dần dần mất mùi vào những khoảng thời gian còn lại trong ngày. Có lẽ vì buổi sáng sớm, nhiệt độ còn thấp, sương chưa tan nên hương thơm còn giữ lại trong không khí, đến khi mặt trời lên, nhiệt độ tăng dần, sương tan hết cũng là lúc hương hoa cũng tản ra trong không khí nên chúng ta nghĩ là hoa mất mùi sau khi mặt trời lên cao.
Hoa mai tại Việt Nam có mười tám loại như sau:
1/– Mai năm cánh: Loại mai vàng mọc phổ biến tại miền Trung (từ Đà Nẵng, Quảng Nam cho đến Khánh Hòa) và trên dãy trường Sơn, trong những khu rừng già. Đây là loại mai năm cánh tự nhiên, hoa nhỏ, thân vừa và nở hoa không nhiều và rậm như một số loài mai khác mà nở thưa thớt. Nhưng nếu lạc vào rừng mai này vào mùa xuân thì chúng ta sẽ thấy sắc hoa vàng rực rỡ cả một khu rừng, cả một triền núi và xác hoa rơi có khi vàng cả một dòng suối. Hương thơm ngập tràn và lan tỏa cả một vùng rộng lớn. Ở một số ngọn núi thuộc đồng bằng sông Cửu Long như tại vùng Thất sơn (bảy núi) cũng 9 Hoa mai 3có loại mai này nhưng ít hơn và rải rác không tập trung.
2/– Mai núi: Cũng là một loại mai rừng nhưng có số lượng cánh nhiều hơn từ 12 cho đến 18 cánh, có khi còn hơn thế nữa. Mai này mọc trên những núi đá khô khốc và sống chủ yếu bằng hơi sương, nước mưa và nước ngầm trong lòng đất cộng với khí hậu ẩm thấp của miền núi. Loài mai này thường xuất hiện nhiều tại các vùng núi thuộc Tây Nguyên và nước Campuchia.
3/– Mai chủy: Cũng là một loại mai rừng nhưng thân cây rất to, hoa nhiều, lá rộng, xanh bóng và có hình răng cưa. Loại mai này có hoa mọc thành chùm rất đẹp nên gọi là mai chủy (chủy có nghĩa là chùm, quần thể, quây quần lại, đặc nghẹt).
9 Hoa mai 44/– Mai động, mai sẻ: Là một loại mai chuyên mọc ở những vùng cát trắng gần biển. Loại mai này có thân suôn thẳng và tròn và trổ bông thưa thớt. Nếu chúng trổ năm cánh thì gọi là mai sẻ, còn nếu có hơn năm cánh thì đúng là loa mai động. Mai động và mai sẻ mọc rải rác từ các tỉnh từ Quảng Bình, Quàng Trị vào tận các vùng duyên hải thuộc miền trung và có khi thấy chúng ở các vùng đồi cát trắng thuộc miền nam như Tây Ninh, Đồng Nai, Biên Hòa v..v..
5/– Mai chùm gửi, mai Tỳ bà, mai vương: Là một loại mai sống nhờ trên thân cây khác, nhất là các loại cây cổ thụ to lớn, chúng sống bám vào thân cây, một phần hút chất dinh dưỡng từ đất, một phần hút chất dinh dưỡng từ cây mà chúng bám vào. Không giống các loại chùm gửi khác chỉ bám trên thân cây khác, mai chùm gửi sống phân nửa dựa vào bộ rễ bám vào lòng đất của nó. Mai chùm gửi có thân ghồ ghề, cứng và xù xì cùng với những khối u kì dị. Chồi và tược cũng như hoa đâm ra từ những khối u đó. Hoa trổ khá dày và khít thành từng chùm đặc nghẹt. Có nơi còn gọi nó là mai tỳ bà hay mai vương.
6/– Mai hương, mai thơm hay mai ngự: Là một loại mai vàng có mùi hương rất thơm, thơm hơn tất cả các loài mai khác. Mùi hương của nó rất đặc biệt và có lẽ là nồng nàn hơn tất cả các loài mai nên nó được gọi là mai hương cho đúng với tính chất đặc biệt của loài mai vàng năm cánh này. Ở Bến Tre cũng có rất nhiều loại mai này mà người dân ở đây gọi nó bằng một cái tên rất miệt vườn là “Mai thơm” vì nó rất thơm, thơm hơn những loại mai thông thường mà người dân Nam bộ thường gặp. Ở Huế, loại mai này còn được gọi là “Mai ngự” 9 Hoa mai 5vì nó được trồng trong cung và rất được Hoàng tộc mến chuộng dùng làm quà biếu cao cấp nên nó gọi là “Mai ngự”.
7/– Mai châu (Mai trâu): Là một loại mai trổ hoa rất lớn, hoa của loài mai này lớn một cách lạ thường, cánh to và rộng, màu vàng rực. Mỗi đóa hoa có đường kính hơn 5cm nên người ta gọi nó là mai trâu mà người Nam bộ thường đọc trại ra thành “mai châu”.
8/– Mai liễu: Là một loại mai có cành rất mềm và rũ xuống như cây liễu, hoa trổ rất ít. Lá mai nhọn và nhỏ, thon dài như lá liểu nên được gọi là mai liễu.
9/– Mai nhọn: Là một loại mai có lá dài và nhọn, nụ hoa và cánh hoa cũng có hình dạng tương tự.
10/– Mai Cà Ná: Là loại mai đặc trưng mọc tại vùng biển Cà Ná thuộc tỉnh Ninh Thuận. Loài mai này có thân nhỏ, èo uột, cành rất giòn, dễ gẫy, lá hình bầu dục, trơn láng và có răng cưa quang rìa lá. Người dân ở đây gọi nó là mai rừng Cà Ná.
9 Hoa mai 211/– Mai Vĩnh Hảo: Vào địa phận của tỉnh Bình Thuận, thuộc huyện Tuy Phong, xã Vĩnh Hảo, nơi có nguồn nước khoáng thiên nhiên nổi tiếng nhất Việt Nam là “Nước khoáng Vĩnh Hảo” thì có một loại mai vàng nữa cũng là loài đặc trưng của vùng này, không khác gì mấy so với mai Cà Ná nhưng nó lại được người dân ở đây đặt cho cái tên theo địa danh nơi nó đang sống là “Mai Vĩnh Hảo”. Mai Vĩnh Hảo có thân cứng, lá nhỏ, hoa to và phẳng, đặc biệt rất lâu tàn.
12/– Mai tứ quý: Loài mai đặc trưng của vùng Nam bộ. Mai này cũng trổ hoa vàng nhưng sau khi cánh hoa rụng đi thì đài hoa còn lại năm cánh màu đỏ với nhụy hoa và ba hạt màu đen như hạt đậu. Năm cánh hoa màu đỏ cũng tròn trịa và giống hình một đóa hoa mai. Do tính chất nở hai lần trên cùng một đóa nên người ta còn gọi mai tứ quý là nhị độ mai. Mai này trổ bông lác đác quanh năm nên mới gọi là mai tứ quý (xuân, hạ, thu, đông đều trổ hoa). Mai tứ quý thân sần sùi và đen. Có cây phát triển rất to và cao nhưng đa số là những cây lâu năm. 9 Hoa mai 6Càng lâu năm nhìn nó càng cổ kính và chắc chắn.
13/– Mai giảo: Là loại mai có rất nhiều cánh được ghép lại từ nhiều loại mai khác nhau trên cùng một cây mai. Mai giảo lấy gốc mai vàng làm chủ đạo sau đó ghép nhánh của các loại mai khác vào để cho ra đời một loại mai có rất nhiều cánh, rất nhiều màu sắc trên cùng một cây mai. Loại này là loại mai nhân tạo mà chúng ta thấy rất nhiều hiện nay trên thị trường mai Tết.
Sáu loại mai trên thế giới:
1/– Mai vàng Campuchia (Mai Cao Miên): Tên khoa học là Ochna integerrima. Hoa mai có từ 5 đến 9 cánh, khi nở ra thì úp ngược về phía cuống hoa chứ không xòe rộng như các loại mai Việt Nam, hoa có màu vàng tái (sậm gần như cam đậm). Loại mai này cũng có thấy ở Việt Nam, phần nhiều mọc trong những khu rừng thuộc miền Nam và miền Trung. Chúng là loài cây hoang dã cũng có phân bố ở một số nơi có cồn cát nóng và ven những bờ sông râm mát. 9 Hoa mai 7Mai vàng Campuchia thuộc dạng thân gỗ, nhánh gầy, mảnh và dài. Lá đơn màu xanh nhạt và bóng mọc thưa trên cành, mép lá có răng cưa nhỏ. Hoa mọc ra từ nách lá thành chùm, cuống hoa ngắn, đài hoa xanh bóng và không che kín nụ. Ở Việt nam người ta thường dùng loại mai này để ghép thành mai giảo vì nó có khả năng tăng số lượng cánh lên rất cao. Không những thế mà hiện nay nó còn có ba màu do lai ghép là đỏ, vàng và trắng.
2/– Mai vàng Nam Phi: Có khoảng 12 loài mai thuộc chi họ mai Ochna bao gồm dạng cây lẽ và cây mọc thành bụi. trong đó có hai loài phổ biến là Ochna pretoriensis và Ochna pulchra. Hai loài này xuất hiện rất nhiều tại vùng Koppie. Loài Ochna pulchra cao khoảng 3 7m, vỏ cây thường có hiện tượng tróc ra, lá dễ rụng. Chúng mọc hoang dã ở rừng, vỏ cây màu xám, xù xì ở gốc, nhánh thân cây bị tróc vỏ màu kem nhạt. Mai Châu Phi có hai màu vàng và hồng. Ngoài ra ở Nam Phi còn có các loại mai rất giống với mai tứ quý tại Việt Nam.
3/– Mai vàng Myanmar (Miến Điện): Ở đất nước Phật giáo này có một loài mai mang tên khoa học là Ochna serrulata gần giống với loại mai Nam Phi. Tuy nhiên hình thức của hoa mai có khác đôi chút ở chổ cánh hoa bẹt hoặc có bầu noãn đỏ như mai tứ quý, tồn tại rất lâu trước khi rụng hoàn toàn.
9 Hoa mai 84/– Mai vàng Indonesia: Có tên khoa học là Ochna kirkii Oliv, Ochna serrulata. Tất cả đều có nguồn gốc từ Châu Phi, tuy nhiên do địa chất khác nhau nên chúng có ngoại hình lớn hơn mai Châu Phi. Có loài nở hoa vào mùa xuân, mùa hè hoặc nở cả bốn mùa như mai tứ quý.
5/– Mai vàng Madagascar: Là loại mai có tên khoa học là Ochna greveanum với năm cánh tròn trịa, dúm bèo theo rìa cánh giống như mai cánh dúm ở Việt Nam, lá mai dài và rũ xuống từng chùm.
6/– Mai vàng Châu Phi: Khác với mai vàng Nam Phi vì nó giống mai vàng năm cánh của Việt Nam nhưng có tên khoa học khác là Ochna thomasiana thuộc dạng cây bụi, lá hình oval, đầu lá nhọn và bén dài khoảng 10cm. Hoa rộ trên cành vào mùa xuân, nhưng đôi khi lại bất chợt nở hoa vào mùa hè nhưng số lượng ít hơn. Cánh hoa thon dài khoảng 2cm, đài hoa bung ra rộng và trở thành màu đỏ tía, bên trong có trái non màu xanh giống như mai tứ quý của Việt Nam.
Đó là 19 loại mai của Việt Nam và thế giới, trong đó có loài thứ 4, thứ 6 và thứ 7 đã mang bảy cái tên khác nhau theo cách gọi của dân gian Việt Nam. Nếu tính tổng cộng là có 24 loài mai trên khắp thế giới hoặc có thể còn nhiều hơn nữa. Đúng là hoa mai rất đa dạng và phong phú chủng loại. Ở Trung Quốc họ vẫn gọi cây đào là cây mai vì có nhiều loại rất giống hoa mai nhất là hồng đào và bạch đào mà họ hay gọi là hồng mai và bạch mai, nhưng cánh mai tròn và nhỏ như cánh đào, nhụy hoa rậm và dày, thân cây giống hệt như cây đào nên thường gọi là đào chứ không gọi là mai.
Ngày Tết nói chuyện về sự phong phú của cây mai để chúng ta cùng nhau tìm hiểu về loại hoa đặc trưng của mùa xuân này. Hoa mai là biểu tượng của sự may mắn, tốt đẹp, một sự khởi đầu hoàn hảo và thịnh vượng cho một năm mới. Hoa mai còn có ý nghĩa xua đuổi những điều xấu xa, không tốt đẹp cho một năm luôn được bình an, hanh thông và phát đạt.
Phan Tất Đại chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 28/1/2014

HOA NÀO KHÔNG NÊN CẮM TRÊN BÀN THỜ ?

HOA NÀO KHÔNG NÊN

CẮM TRÊN BÀN THỜ ?

Ông Phạm Quang Tuyến (Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người) hướng dẫn cách chọn hoa cúng như sau :
Ý nghĩa của việc dâng hoa
Với người Việt, trong thờ cúng tổ tiên, lễ chạp, các ngày sóc, vọng (ngày Rằm, mùng Một) và thờ phụng tâm linh… việc dâng hoa cúng thanh khiết, thể hiện tâm thành rất quan trọng (hương, hoa, trà, quả). Dâng hoa cúng có ý nghĩa dâng những điều thiện lành, tốt đẹp đã làm được trong cuộc sống, như là những đóa hoa tươi thắm, thơm tho dâng cúng chư Phật, thánh, gia tiên, là hành động thành kính, bày tỏ tâm biết ơn dù giá trị vật chất không nhiều.
8 Hoa cung 1Đối với các Phật tử, hoa là nhân, sau đó là kết quả. Cúng hoa là thể hiện cho việc tu nhân. Nếu cúng hoa đẹp sẽ hái được quả ngon, mỗi khi thấy hoa là nhớ đến việc tu nhân thiện để tương lai mới nhận được quả báo thiện.
Xưa đĩa hoa cúng có nhiều bông hoa các loại (bông huệ trắng muốt thơm ngát, bông ngọc lan thơm nồng, nhánh hoàng lan thơm mềm mại, nhánh hoa sói, bông hoa cúc, đóa thược dược)… tùy theo mùa. Hoa rất thơm, cúng xong các mẹ thường để khô, đến lần cúng sau mới thay hoa mới.
Hoa dâng cúng nên chọn hoa thơm, tên đẹp, tính chất hoa đẹp. Hoa bây giờ có hàng trăm loại, tùy mùa mà dâng hoa cúng khác nhau, nhưng cơ bản vẫn là cúc, hồng, sen, huệ… Nhiều loài hoa, nhưng chỉ có một số loại dùng để thờ cúng như hoa hồng, hoa huệ dùng để dâng cúng, còn hoa nhài chỉ để chơi và tẩm ướp trà… Do đó, cần biết để chọn hoa cúng phù hợp mới trang nghiêm, thể hiện lòng thành kính của con cháu đối với ông bà tổ tiên.
8 Hoa cung 2Hoa cúng lễ Phật ngoài mẫu đơn nên chọn hoa có màu vàng và đỏ – là những màu tượng trưng cho nhà Phật như cúc vàng, hồng đỏ (hồng không chọn hồng phơn phớt hoặc màu khác). Hoa cúc, hoa hồng không nên chọn những hoa nở to, nên lựa kỹ từng bông. Hoa thờ gia tiên ngày Tết nên cho vào nước vài viên thuốc B1 để có dinh dưỡng nuôi hoa tươi lâu.
Hoa huệ có nhiều loại, nhiều màu, nhưng để cúng thì nên mua huệ ta, trưng được lâu và chỉ nên cúng một màu để tạo sự trang nghiêm cho bàn thờ gia tiên.
Nếu trưng mai, đào trên bàn thờ, nên chọn cành nhiều nụ to, cánh hoa mịn, điểm lá non và nên mua trước Tết khoảng 3-5 ngày thì hoa mới nở rộ đúng dịp Tết.
8 Hoa cung 3Hoa nào không nên cúng ?
Bên cạnh mâm cơm, bát hương, chén nước cúng tổ tiên, lúc nào cũng phải có một bình hoa đẹp đặt lên bàn thờ. Theo ông Phạm Quang Tuyến khi dâng hoa lên bàn thờ cũng cần hiểu ý nghĩa, chọn cho đúng loại để ban thờ được trang trọng.
- Với hoa ly rực rỡ, thơm ngát không nên dâng lễ Phật nhưng có thể dâng gia tiên và nơi thờ thánh (nhất là nơi thờ thánh Mẫu). Một số người kiêng dùng hoa ly (vì sợ ly tán, chia ly) ở ban thờ gia tiên.
Hoa phong lan đẹp, bền được nhiều người mua cắm ban thờ dịp Tết, nhưng dâng Phật không nên dùng phong lan, vì có nhiều màu rực rỡ, chữ “phong” gần nghĩa với chữ phong tình, phóng túng.
8 Hoa cung 4
Hoa địa lan thơm, không rực rỡ (chỉ có màu xanh, vàng), lại trồng ở đất (khác phong lan) nên không có tính chất khác. Dâng Phật, thánh, gia tiên đều được.
Hoa lan móng rồng (phía Nam gọi là lan cua) tuy thơm nhưng không dùng để thờ cúng bởi cánh hoa giống móng rồng và tên gọi cũng không đẹp.
Hoa đại (sứ, chămpa) thơm, màu đẹp, nhưng không dùng cúng trên bàn thờ vì giống bộ phận sinh dục nữ, còn theo tích Lào thì là chuyện tình yêu trai gái nên cũng không dùng.
8 Hoa cung 5
Ngoài ra, có những loại hoa không được đem vào cả lễ Phật, thánh và gia tiên, ví dụ, hoa nhài tuy là biểu tượng trong sạch, tinh khiết nhưng trong dân gian là loại hoa không đứng đắn, hay gặp nghịch cảnh (hoa nhài cắm bãi cứt trâu).
Hoa cúc áo (hoa cứt lợn), tuy bông hoa xinh xắn, màu đẹp, chữa bệnh rất tốt, nhưng chỉ cắm chơi được chứ không thể đặt lên ban thờ nơi có thần linh và gia tiên bởi cái tên của nó không đẹp.
Cúc vạn thọ là loại hoa tên hay, màu vàng, ở miền Trung hay dùng vì dễ trồng dễ sống, có màu vàng tươi tắn, sự may mắn và thịnh vượng. Nhưng ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều địa phương lại không đưa lên ban thờ vì có mùi hôi.
8 Hoa cung 6Hoa râm bụt có màu đỏ, bông cũng đẹp nhưng không dùng thờ cúng vì có chữ “râm” đằng trước. Hoa phù dung tuy tên đẹp nhưng mau tàn, có tích không hay nên cũng không được dùng.
Trong nhà, bàn thờ Phật cần nhất chữ tâm và chữ tịnh, dâng hoa cúng không nên kết hợp nhiều loại vì sẽ giảm mất sự thanh thoát. Bàn thờ gia tiên cũng không nên cúng quá nhiều các loại hoa cùng lúc vì sẽ khiến bàn thờ mất thẩm mỹ. Tùy vùng, tùy nơi mà linh hoạt dùng hoa, không cố chấp quá, cũng không nên thoải mái, phóng túng quá (như phía Nam có nơi dùng hoa cúng là hoa điệp màu vàng, trắng, đỏ), có địa phương hiếm hoa còn cắt cây chuối non, đem vào cắm lục bình thay hoa.
Bàn thờ là nơi thể hiện sự thành kính của con cháu với gia tiên, dâng hoa cúng cần có thái độ kính cẩn, thể hiện nét đẹp hiếu hạnh của người Việt mỗi dịp Tết đến xuân về.
Với hoa giả, quả giả, nhang điện so với phẩm vật tươi thì có phần kém trang nhã, tươi mát hơn khi đưa lên bàn thờ. Cúng đồ giả tuy không mất trang nghiêm, bất kính hay có lỗi, nhưng có thể trưng ngày thường, còn ngày Rằm, mùng Một thì nên mua hoa quả tươi.
Lễ phẩm là biểu hiện của tấm lòng, do đó sẽ không tốt khi dùng lễ giả để mong biểu thị tấm lòng chân thật. Phẩm vật dâng cúng dù nhiều hay ít, tốt hoặc xấu, ngon hay dở nên là thật. (theo thầy Thích Phước Thái, chùa Quang Minh)
Mai Trung Tín chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 27/1/2014

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

HÌNH ẢNH VĂN HÓA TẾT XƯA

HÌNH ẢNH VĂN HÓA TẾT XƯA
Vĩnh Bảo sưu tầm 27/1/2014



TẢN MẠN VỀ TẾT XƯA...TẾT NAY

Không ai rõ người Việt ta bắt đầu ăn tết từ bao giờ nhưng ai cũng biết cứ mỗi độ xuân về khi hoa đào, hoa mai mới khoe những sắc nụ đầu tiên thì hết thảy già, trẻ, gái, trai, người giàu, người nghèo đều háo hức đón Tết đến. Tết không chỉ là dịp để người ta "ăn tết", "chơi tết" mà quan trọng hơn đó còn là cơ hội để mọi người cùng tề tựu bên đại gia đình, thắp cho ông bà, tổ tiên nén hương, thăm hỏi lẫn nhau sau một năm làm ăn xa cách ...

 ***
  Có nhiều người khi nói đến Tết của người Việt – Tết Nguyên Đán thường dẫn dụ người ta lần theo cách giải thích của người Tàu, rồi thì trăm thứ văn hóa Việt Nam cũng cứ lần theo đó mà biện giải, điều đó có phần đúng nhưng thật không công bằng. Chúng ta nên nhớ rằng: Dân tộc Việt Nam là một dân tộc bản địa, có truyền thống lâu đời và tự bản thân mình đã xây dựng nên một bản sắc văn hóa vững chắc. Vì vậy, việc tự mình tính toán và đặt ra cho cộng đồng một dịp lễ tết phù hợp khi mùa màng xong xuôi là điều hoàn toàn nằm trong khả năng của người Việt….nhưng chắc chắn điều đó không còn quá quan trọng, dân ta bao đời nay dù biết nguồn gốc lễ tết hay không thì họ vẫn ăn tết, chơi tết, hưởng tết. Họ vẫn cứ vui vẻ, nô nức chờ đợi thời khắc chuyển giao của đất trời. Tết của người Việt thật quá đỗi quan trọng, quá đỗi thiêng liêng đối với mỗi con người, mỗi gia đình, dòng họ. 
 *** 
 Vậy mà…
  
         
Hôm nay đã là ngày 25 tháng Chạp – 25 tết, khung cảnh chợ búa, phố phường đã tràn ngập những sắc màu sặc sỡ chào đón mừng xuân, hàng hóa với đủ mẫu mã, chủng loại được bày bán khắp nơi như: hoa, cây cảnh, kẹo mứt, bánh trái… Nhưng lạ thay, dòng người vẫn ngược xuôi vội vã như không hề biết đến chỉ 4 ngày nữa thôi là Tết đã về. Cái khung cảnh người đương thời thờ ơ trước thời khắc xuân về ấy khiến không biết bao người phải hoài niệm về những ngày xa xưa, về những ngày mà khi Tết đến – Xuân về không chỉ có trẻ con mà người lớn cũng không khỏi náo nức…. Tôi còn nhớ như in trong cái tiết trời se lạnh của tiết lập xuân, háo hức theo mẹ đi chợ sắm đồ Tết quả là một cảm giác hạnh phúc đến khó tả. Phiên chợ ngày tết đông đúc, nhộn nhịp cảnh bán mua. Cái không khí tết len lỏi khắp phố phường, hiển diện qua tấm áo mới của trẻ thơ, tấm khăn quàng của người già và cả nét vui, mừng lẫn lo âu của người lớn        

Rồi từng ngày cuối đông chạm chạp trôi đi trong con mắt chờ đợi của lũ trẻ thơ. Và, từng ngày sau đó cái không khí Tết càng trở nên nhộn nhịp. Mỗi thành viên trong gia đình đều có một nhiệm vụ riêng, trong khi đó mẹ tôi vẫn đều đặn đi chợ và mua về không biết bao nhiêu là lá dong, gạo nếp, mắm, muối, dưa, hành…Cứ sau mỗi phiên chợ mẹ lại ngồi nhẩm tính xem còn thiếu đủ thứ gì để còn mua cho kịp. Người Việt ta vẫn thường quan niệm “thiếu thì thiếu cả năm chứ không ai thiếu ba ngày Tết”. Chính vì vậy họ phải lo sắm cho thật chu tất trước hết là để thờ cúng ông bà, tổ tiên sau đó là để thiết đãi anh em, bạn bè. Và sâu xa hơn nữa là để cầu chúc cho cả năm sau khi nào cũng dư dả, đầy đủ…


Chiều 30 Tết là một khoảng thời gian hết sức quan trọng và có ý nghĩa đối với người Việt, mọi người tề tựu về bên đại gia đình của mình cùng rước ông bà, tổ tiên về ăn Tết, cùng ăn bữa cơm tất niên chung vui. Đây là mốc thời gian đánh dấu những ngày lễ Tết chính thức được bắt đầu. Đêm 30 Tết, cả nhà quây quần bên nồi bánh chưng cùng chờ đợi thời khắc giao thừa, lũ trẻ con thì chăm chú lắng nghe bà kể chuyện bánh chưng, bánh giầy mà quên đi giấc ngủ thường nhật. Và, cuối cùng thì cái thời khắc giao thừa thiêng liêng ấy cũng đã đến, năm mới, xuân mới cũng đã sang, ông bà phát cho con cháu tiền lì xì mừng tuổi đầu năm, ai hay chữ nghĩa thì khai bút, còn lại thì đi hái lộc, xin lộc đầu năm…

Tết xưa là vậy nhưng Tết nay đã khác lắm rồi. Đồ ăn, thức uống thường ngày có thiếu gì đâu, kẹo mứt, bánh chưng khi nào mà chẳng có trong siêu thị. Chợ búa, hàng hóa thì bán quanh năm, suốt tháng, Tết cũng không nghỉ thì cần gì phải mua nhiều, nấu những món để lâu. Họa chăng ba ngày Tết người ta có thêm chút thời gian để bày đặt làm những món phức tạp, cầu kì… 
 *** 
 Tết nay đã khác lắm rồi…           
Vẫn bánh chưng đấy, kẹo mứt đấy…nhưng có ai tự làm ra đâu. Một trăm người trẻ dù nông thôn hay thành thị thì chắc chắn phải có ít nhất trên chín mươi người biết sử dụng thành thạo internet, nhưng cũng trăm người ấy chưa chắc đã có người nào biết gói bánh chưng chứ chưa nói biết làm những thứ bánh phức tạp ngày Tết khác. Âu cũng buồn vì Việt Nam ta là nước nông nghiệp thuần túy, dân sinh ra bên luống cày, lớn lên bên bếp lửa mà không biết những công việc vừa rất cơ bản nhưng cũng rất thiêng liêng kia.           Tết ngày nay chỉ thấy thiên hạ bàn nhiều đến chuyện thưởng Tết, nghỉ Tết là chính, cái Tết đúng nghĩa ngày xưa đã biến đổi rất nhiều, ngay cả cái lễ nghĩa ngày Tết cũng bị đảo lộn lên cả: Mồng một tết Cha. Mồng hai tết Mẹ. Mồng ba tết Thầy nay phải nhường chỗ cho tết Sếp, tết lãnh đạo lên trước. Chắc có lẽ cái thời nó tạo cái thế, cái quan hệ nó chi phối cái ứng xử của cá nhân…
 *** 
 Bao giờ cho tới ngày xưa…. 

  Tôi nghe câu nói này của một ai đó hoặc đọc được ở đâu đó. Lúc đầu, tôi cảm thấy “chẳng có ý nghĩa gì”, mặt khác cách dùng từ có vẻ “có vấn đề”. Nhưng tôi đã sai ! Học và nghiên cứu nhiều về văn hóa Việt tôi mới nhận ra rằng “người nói câu nói này chắc phải buồn lắm, nhớ lắm cái văn hóa truyền thống, bao giờ cho tới ngày xưa, bao giờ mới có thể được sống lại cái không khí đầm ấm của ngày Tết, cái cảm giác theo mẹ đi chợ, cái mùi vị bánh chưng thơm lừng trong đêm 30, cái cảm giác hạnh phúc tràn đầy khi khoác lên tấm áo mới…nhớ lắm, thương lắm. 

Dẫu biết rằng cuộc sống có nhiều sự thay đổi và con người cũng phải biến đổi để thích ứng. Nhưng có lẽ Tết là một thứ gì đó hết sức đặc biệt cần bảo nguyên, Tết ngoài là dịp để người ta nghỉ ngơi, ăn uống nó còn là cơ hội để anh, em họ hàng tề tựu và thăm hỏi lẫn nhau, là ngày lễ lớn để tri ân tổ tiên, tiền bối. Và, nó còn là dịp để tổ chức các lễ hội, nghi thức truyền thống xưa. Tết người Việt từ ngàn xưa là vậy nhưng có giờ có lẽ đã khác rồi… 

 San Jose, Cali ngày 28 tháng Chạp năm Tân Mão




                                                      Lê Anh Khoa & BBT Votrandaiviet.org
Ngày xuân đọc lại câu đối tết của người xưa

TS NGUYỄN CÔNG LÝ

Trong tâm thức của người phương Đông nói chung, người Việt Nam ta nói riêng, Tết là một lễ hội trọng đại thiêng liêng. Theo chu kỳ tuần hoàn của thiên nhiên đất trời, mỗi dịp xuân về Tết đến từ giả trẻ, lớn bé, gái trai đều nô nức đợi chờ, mỗi người với một nỗi niềm chờ đợi riêng tư. Để đón Tết chỉ ba ngày mà người ta chuẩn bị từ giữa năm, như nuôi lợn gà; trồng cây cảnh v.v.. Để rồi từ hôm 23 tháng chạp, lúc đưa ông táo về trời thì nhà nào cũng dọn dẹp lau chùi trang hoàng nhà cửa, bàn thờ Tổ tiên, đánh bóng đồ thờ cúng v.v.. và đặc biệt là đối với những nhà khá giả, có chữ nghĩa phải có câu đối Tết. Xuân về Tết đến, có câu đối đỏ treo trong nhà thì thật trang trọng, thiêng liêng, mới tỏ rõ không khí Tết. Màu đỏ trong tâm lý của người phương Đông là màu của sự may mắn, hạnh phúc, tốt đẹp.
Câu đối có nguồn gốc ở Trung Hoa, gắn với văn hoá Nho giáo. Về đặc trưng thi pháp, đã là câu đối thì buộc hai vế phải đối nhau cân 

chỉnh, đặt theo lối câu song quan, câu cách cú, câu gối hạc của văn biền ngẫu với niêm luật chặt chẽ. Câu đối được viết ra với nhiều mục đích và ý nghĩa khác nhau. Có thể là ra vế đối để thử tài trí thông minh người khác, hay viết ra để tỏ chí, hoặc viết để chia buồn (phúng điếu) hay chia vui (hỷ sự) trong dịp hiếu hỉ, có khi viết để ca vịnh danh lam thắng cảnh sơn thuỷ hữu tình, hay đề ở nơi tôn nghiêm như lâu đài, đình chùa, miếu mạo, bàn thờ tổ tiên v.v.. và viết trong dịp xuân về Tết đến. Do vậy, về phân loại, có nhiều loại câu đối như câu đối tức cảnh (thấy cảnh gì thì đối ngay cảnh ấy), câu đối sách (lấy ý nghĩa, lấy chữ trong kinh sách mà ra vế đối cũng như đối lại), câu đối chơi chữ (dùng tiếng lóng hoặc chiết tự), câu đối tả chí (bày tỏ chí hướng, tâm sự của mình) v.v.. Vì thế, câu đối phải cô đọng, hàm súc và tinh tế thì mới có hiệu quả và đạt chất lượng nội dung tư tưởng lẫn nghệ thuật. Về hình thức câu đối, thường gặp các dạng: Câu đối đặt theo lối song quan gồmcâu đối vặt và câu đối thơ; còn câu đối đặt theo lối cách cú hay gối hạc (hạc tất) hoặc dài hơn nữa thì gọi là câu đối phú.
Câu đối vặt còn gọi là câu tiểu đối, thường mỗi vế có 3 hay 4, đến 6 tiếng (dù câu đối 5 tiếng có trong thơ ngũ ngôn bát cú nhưng nếu đứng riêng lẻ, người xưa vẫn xếp là câu đối vặt, vì nó ngắn quá, chưa thể hiện hết ý nghĩa trang trọng của nó). Ví dụ như câu đối Trạng Quỳnh khi còn nhỏ đối lại vế đối của ông Tú Cát nêu ra: Trời sinh ông Tú Cát; Đất đẻ con bọ hung (cát: tốt; hung: xấu). Ở đây, ngoài nghệ thuật chơi chữ, vế đối lại của Trạng Quỳnh còn có ý phúng thích nữa.
Câu đối thơ là câu đối mà hai vế của nó phải đặt theo đúng luật của thơ thất ngôn quy định, tức mỗi vế có 7 tiếng như trong cặp câu thực, cặp câu luận của bài thất ngôn bát cú Đường luật. Chẳng hạn đây là câu đối của Tú Xương về cảnh Tết: Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo; Nhân tình bạc thế lại bôi vôi.
Câu đối phú là câu đối mỗi vế dài đến 8, 9, 10 tiếng có khi đến mấy chục tiếng, chẳng hạn như câu đối của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (vế ra) và của Chu Thần Cao Bá Quát (vế đối lại) có 65 tiếng (về câu đối này có tài liệu ghi là của Nguyễn Công Trứ viết ra để tự tổng kết cuộc đời mình); hay câu đối của Tam nguyên Yên Đỗ khóc vợ, có 34 tiếng.

Về câu đối Tết, trong văn chương Trung Quốc và Việt Nam thời trung đại không thiếu. Ở Việt Nam ta, dịp xuân về Tết đến, các cụ nhà Nho thường chuẩn bị giấy bút và mài mực sẵn để viết câu đối. Chỉ nói riêng Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ thì theo tư liệu hiện còn, trong văn học trung đại Việt Nam, có lẽ cụ là người viết câu đối Tết nhiều nhất (hiện còn đến 7 câu). Điều này có lý do bởi hoàn cảnh riêng của tác giả. Cuối năm ngoái (2008), Nhà nước tổ chức lễ kỷ niệm 230 năm ngày sinh và 150 ngày mất của cụ, nên dịp xuân về Tết đến, đọc lại đôi câu đối của cụ cũng là một cách để tưởng nhớ một bậc danh nhân.


Cụ Thượng Trứ hưởng lộc trời đến 81 mùa xuân, hơn nửa đời người (đến 42 năm) sống trong cảnh hàn vi, rồi 28 năm hoạn lộ thăng trầm, có lúc đạt đỉnh cao danh vọng cả văn lẫn võ nhưng cụ vẫn thanh liêm, lúc về hưu trí sĩ với hàm Thượng thư vẫn chỉ một vài tay nải, cưỡi con bò cái vàng từ kinh đô Huế về đến quê nhà Nghi Xuân, Hà Tĩnh chứ không ngựa xe, võng lọng gì. Nói chung, cuộc đời cụ Trứ là cuộc đời của kẻ sĩ thanh bần. Thế nên, những câu đối Tết được viết ra thường gắn với hoàn cảnh sống và cá tính của cụ.  
Về hình thức, những câu đối Tết của cụ viết toàn là câu đối phú, lại thuần Nôm, không có lấy một câu nào viết bằng chữ Hán. Năm cùng tháng tận, rồi Tết đến xuân về, nhà thì nhẵn túi, nhìn cây nêu cao, nghe tiếng pháo nổ, cụ ngậm ngùi:
Đuột giời ngất một cây nêu, hết túi ba mươi ri cũng Tết;
Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một rứa là Xuân.
(Đuột giời: thẳng tuốt lên trời. Ri: thế này. Rứa: thế nọ, thế ấy, như thế. Đây là từ địa phương vùng Nghệ Tĩnh)
            Năm mới, về tâm lý, người đời thường cầu mong những điều tốt đẹp, may mắn đến nhà, cụ Trứ cũng không ngoài những mong ước ấy. Có điều, ngày Tết, nhà cụ có gì đâu ! Không rượu, cũng chẳng trang hoàng sắm sửa gì. Tiền đâu mà sắm sửa? Bầu rượu thì nằm lăn chiêng, nhà cửa thì tuềnh toành trống trải, nên theo cụ, vận may năm mới tha hồ mà ùa về, ngũ phúc mặc sức mà vào đến! Nhưng đằng sau câu chữ kia, dường như có chút gì trào tếu, lại ngậm ngùi, cười ra nước mắt:
Bầu một chiếc lăn chiêng, mặc sức tam dương khai thái;
Nhà ba gian bỏ trống, tha hồ ngũ phúc lâm môn.
(Tam dương khai thái: theo quan niệm xưa là thời vận hanh thông, tốt đẹp. Ngũ phúc lâm môn:năm phúc đến cửa, gồm: phú, quý, thọ, khương, ninh; tức: giàu, sang, sống lâu, khoẻ mạnh, yên ổn; chỉ năm mới được nhiều điều tốt lành, may mắn).
Cụ cũng mong ước như bao người, muốn xua đi cái nghèo, mong gặp nhiều điều tốt đẹp, dù trong hiện trạng nợ đòi khốn khổ:
Chiều ba mươi nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra khỏi cửa;
Sáng mồng một rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông phúc đón vào nhà.
Ai đã từng gặp cảnh xuân về Tết đến, mà không một xu dính túi, nhà chẳng sắm sanh gì, con cái nheo nhóc, lại cảnh nợ đòi eo óc thì mới thấy thấm thía cái cảnh cùng quẫn mà cụ đã ghi lại trong câu đối trên! Chính vì thế mà khi Tết đến, cụ nhấm nháp suông một vài be rượu nhỏ để quên đời, quên nỗi khốn khổ nhọc nhằn, quên chuyện nợ đòi nhẵn mặt:
Tết có cóc gì đâu, uống một vài be củ tỏi;
Nợ đâm ương ra đó, nói ba chuyện cà riềng.
(Be củ tỏi: be đựng rượu có hình dạng như củ tỏi, để rót rượu cho tiện và dễ. Chuyện cà riềng: chuyện bao đồng, lòng dòng, con cà con kê)
            Và đón Tết trong một trạng thái tâm lý hờ hững:
Mồng một Tết, mồng hai Tết, mồng ba Tết, ờ Tết;
Buổi sáng say, buổi trưa say, buổi chiều say, cho say.
            Tuy công nợ rối bời, chủ nợ đòi tít mù nhưng cụ vẫn mong muốn ngày Tết kéo dài ra, và mười năm mới có một lần Tết đến. Sao vậy? Có lẽ là để khỏi bận tâm lo lắng nhiều, bởi lúc này nhà cụ quá nghèo:
Chiều ba mươi công nợ rối Mậu Thìn, những muốn mười năm dồn một Tết;
Sáng mồng một rượu chè say Quý Tỵ, trông cho ba bữa hoá mười ngày.
Còn đây là câu đối có lẽ được cụ viết khi còn là hàn sĩ nơi quê nhà, dù thi cử lận đận, cái nghèo lại lùng nhùng đeo bám, nhưng cụ vẫn không nản chí, trái lại vẫn cứng cỏi, đầy bản lĩnh và có cá tính. Nghèo mà vẫn sạch trong, tiết tháo:
Mua pháo đốt chơi, để anh em nghe có tiếng;
Giật nêu đứng lại, cho làng nước biết không xiêu.
(có tiếng; không xiêu: cần được hiểu theo hai nét nghĩa ; có tiếng: chỉ tiếng pháo nổ, đồng thời cũng là tiếng tăm, danh tiếng ; không xiêu: chỉ cây nêu đứng vững, đồng thời còn chỉ khí tiết cốt cách cứng cỏi vững vàng của nhà nho Nguyễn Công Trứ)
            Nói chung, trong văn chương trung đại Việt Nam, lực lượng tác giả thì nhiều, cũng có nhiều danh sĩ từng sống trong cảnh cùng quẫn nhưng có người nào viết câu đối Tết nói về hoàn cảnh của mình nhiều như cụ Thượng Trứ đâu! Cái lạ, cái riêng của cụ là ở chỗ đó. Sau Nguyễn Công Trứ hơn nửa thế kỷ, nhà Nho hàn sĩ Trần Tế Xương có lẽ còn túng quẫn, bức bách hơn cụ nhiều, và Tú Xương có nhiều bài thơ viết về cảnh nghèo, cảnh “van nợ lắm khi trào nước mắt”nhưng lại không thấy viết câu đối Tết nói về cảnh này. Chỉ có một bài hát nói đủ khổ ghi lại chuyện ngày Tết viết câu đối, còn nội dung câu đối thì nói chuyện phẩm giá hơn người, phong lưu nhất đời của ông, chứ không nói về Tết, cũng không thể hiện niềm mong ước của người viết, của vợ con gia đình trong năm mới. Giọng điệu bài hát nói hóm hỉnh, trào tiếu, vui vui có nét khác đôi chút với giọng thơ trào phúng của ông khi cười đời, cười người. Mở đầu là lời giới thiệu trịnh trọng “Nhập thế cục bất khả vô văn tự” (Vào cuộc đời không thể không có chữ nghĩa), cho nên “Ngày Tết đến cũng phải một vài câu đối”. Câu đối đã viết xong, được dán ngay lên cột, nhà thơ hỏi vợ “Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay?”. Bà khen câu đối hay. Cái độc đáo của câu trả lời là ở chỗ bà Tú không thẩm định, bình giá câu đối được viết ra theo tiêu chuẩn nội dung, chất lượng của câu đối mà lại theo tiêu chuẩn học vị của người viết ra nó “Rằng hay thì thất là hay, Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài.” và theo thói quen của bà “Xưa nay em vẫn chịu ngài”. Dù học vị tú tài ngày ấy chưa đủ để tiến thân, để triều đình bổ dụng chức quan !
            Chuyện câu đối Tết của người xưa thì nhiều. Ở đây chỉ nói lại vài ba câu để góp vui, giúp quý vị giải khuây cho qua ba ngày Tết mà thôi.