Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017

Không có duyên thì không gặp mặt, không có nợ thì không thể kết đôi

Không có duyên thì không gặp mặt, không có nợ thì không thể kết đôi

“Tu trăm năm mới đi chung thuyền, tu ngàn năm mới nên duyên chồng vợ”. Trong cuộc đời này, không có duyên thì không gặp mặt, không có nợ thì không thể kết đôi, trân quý cơ duyên vạn cổ ấy cũng chính là trân quý bản thân mình vậy.
Tại huyện Hoằng Nông thời Đường có một viên quan họ Lý, ông có một người con gái đã đến tuổi lấy chồng, muốn gả cho Lư Sinh. Quan huyện Lý đã chọn ngày xong xuôi để đón chàng rể về nhà. Vào ngày tổ chức hôn lễ, bên cạnh các quan khách xa gần, nhà họ Lý còn mời thêm cả một bà đồng cốt vốn đã quen thân với Lý gia từ trước.
Sáng hôm ấy, Lý phu nhân đích thân ra đón tiếp bà đồng cốt, nhân tiện hỏi rằng: “Phiền bà xem giúp con rể Lô Lang nhà ta có đường quan lộ hanh thông thế nào, phúc lộc dày mỏng ra sao?”
Bà đồng cốt hỏi:
“Lô Lang có phải là vị tiên sinh có bộ râu hùm rất dài kia không?”
“Đúng rồi!”
“Nếu là người này thì nhất định không thể làm con rể của phu nhân. Con rể của phu nhân tướng mạo không giống thế này”.
“Thế thì con rể ta cần phải như thế nào?”
“Là một người tầm thước, da trắng, mặt nhẵn nhụi, không có một cọng râu nào”.
Ảnh minh họa. Dẫn theo vietyo.com
Lý phu nhân rất kinh ngạc nói rằng: “Như lời bà nói thì con gái ta hôm nay không thể gả chồng được sao?”.
Bà đồng cốt nói một cách chắc nịch: “Sao lại không? Tối nay nhất định sẽ gả chồng!”
Lý phu nhân nói: “Bà nói lung tung gì vậy, đêm nay đã là ngày gả chồng rồi, lẽ nào không phải là Lô Lang sao?”
“Ngay cả ta cũng chẳng biết sao lại thế!”, bà đồng cốt trả lời.
Vừa dứt lời thì đã thấy bên ngoài tiếng trống tiếng nhạc nổi lên, Lô tân lang bước tới dâng sính lễ rồi quỳ trước lễ đường. Lý phu nhân kéo tay bà đồng cốt, nhìn qua khe cửa phía sau lễ đường, chỉ vào Lô Sinh mà nói mỉa rằng: “Bà xem sính lễ đây này, chắc chắn đêm nay là thành thân rồi, cậu ấy sao có thể không phải là con rể của ta được? Thật là nực cười, nực cười!
Tôi tớ trong nhà Lý phu nhân cũng cười giễu bà đồng cốt, tất cả họ cùng cất tiếng phụ họa theo: “Bà lão này quen thói bốc phét lên tận mây xanh, lần này thì không chuẩn rồi nhé!”. Bà thầy tướng số chỉ im lặng không nói thêm lời nào.
Rất nhanh sau đó, họ hàng và bè bạn đều tụ tập đông đủ tại lễ đường, ai cũng xuýt xoa trước đồ sính lễ thành hôn thịnh soạn. Sau khi hành lễ bái đường xong, Lô tân lang bước vào động phòng hoa chúc. Nhưng thật không ngờ rằng, khi Lô Sinh vừa lật chiếc khăn trùm đầu của tiểu thư Lý, liếc nhìn một cái thì giật nảy người, toàn thân run rẩy, kêu lên thất thanh: “Ai da!”, rồi chạy vụt ra ngoài.
Họ hàng, bạn bè chạy tới hỏi, cậu cũng lắp bắp không trả lời, chỉ cắm đầu chạy thẳng một mạch ra khỏi cửa, leo vội lên lưng ngựa, quất 2 roi liên tiếp rồi phóng đi như bay. Trong số những họ hàng bè bạn có vài người vội vàng đuổi theo hỏi xem đã xảy ra chuyện gì. Lô Sinh không chịu nói rõ nguồn cơn, chỉ xua tay nói: “Không thành rồi, không thành rồi!”. Chẳng còn cách nào khác, họ đành quay trở về kể lại câu chuyện của Lô Sinh.
Quan huyện Lý biết chuyện thì giận giữ hét lớn: “Còn ra thể thống gì nữa! Còn ra thể thống gì nữa!”. Rồi ông nghĩ: Con gái mình xinh đẹp như hoa như ngọc nhường ấy, sao lại đến nông nỗi này? Dứt khoát phải gọi mọi người tới xem xét tỏ tường!
Ông bèn mời họ hàng bạn bè tới trước cửa phòng, rồi gọi con gái ra bái kiến. Quan huyện Lý chỉ vào con gái mình và nói: “Mọi người xem nhé, đây chính là tiểu nữ nhà ta được hứa gả cho họ Lô, phải chăng là con gái ta dung mạo quá xấu xí? Hôm nay họ Lô vừa nhìn thấy đã bỏ chạy, nếu không để mọi người xem thử, thì mọi người sẽ cho rằng con gái ta là thứ quái vật gì đó!”
Quả nhiên dưới tấm khăn lụa đỏ là một tiểu thư dịu dàng, yêu kiều, nhan sắc tuyệt đỉnh có một không hai. Họ hàng, bè bạn thi nhau bàn luận: “Quả là Lô sinh vô phúc”, “Lô lang vô duyên”“Đúng là ngày phạm, phạm phải hung thần”, v.v… Ai nấy cũng bàn luận ngược xuôi không dứt. Quan huyện Lý phẫn nộ mà rằng: “Ta nghĩ rằng cậu Lô đó không không còn cơ hội làm rể nhà ta nữa. Vậy trong số quan khách có mặt tại đây hôm nay, có vị nào muốn đính hôn cùng tiểu nữ nhà ta thì tối nay có thể thành hôn, họ hàng bè bạn tại đây có thể làm chứng cho điều này, mọi người đều là những ông mối, bà mối lớn”.
Dứt lời, một chàng nho sinh họ Trịnh bước ra từ trong đám quan khách, tiến về phía trước và cung kính nói rằng: “Tiểu tử bất tài, mong được làm con rể của ngài”. Mọi người đưa mắt nhìn, người này họ Trịnh, mặt trắng như thoa phấn, môi đỏ như tô son, dưới cằm không có lấy một cọng râu, nhìn rất trang nghiêm mẫu mực.
Mọi người đồng thanh nói: “Một cô nương như thế kia thì phải sánh đôi với công tử này mới đúng!”. Hơn nữa tuổi tác và dung mạo của đôi bên cũng tương đồng, lại môn đăng hộ đối. Lúc đó mọi người bèn đẩy hai vị cao niên ra làm mối, rồi chọn một cậu thanh niên trẻ tuổi làm phù rể và mời cô gái ra ngoài giao bái thành thân, rồi vào động phòng.
Nho sinh bước vào xin được làm con rể. Quả đúng là nhân duyên do trời đã định sẵn. Ảnh dẫn theo tinmoi.vn
Vì bà đồng cốt đã tiên đoán trước nên lần này cả nhà Lý phu nhân đều tin phục, không bao giờ dám chế giễu lời nào nữa. Sau khi thành hôn, Trịnh Sinh gặp lại Lô Sinh, hai người trước kia vốn là bằng hữu thân thiết. Trịnh Sinh hỏi: “Sao tối hôm đó huynh lại như vậy?”. Lô Sinh nói: “Khi lật khăn trùm đầu xuống ta nhìn thấy hai mắt nàng ấy đỏ ngầu, to như hai cái đui đèn, nanh thì dài vài tấc, thò cả sang hai bên miệng, đó đâu phải là hình người? Có khác gì hình con quỷ dạ xoa trong cung đâu, ta nhìn thấy mà tim đập chân run!”.
Trịnh Sinh cười nói: “Cô ấy đã được gả cho đệ rồi”. Lô Sinh không tin hỏi lại: “Đệ không sợ à?” Trịnh Sinh nói: “Mời vãn huynh tới nhà, đệ sẽ mời cô ấy ra gặp huynh”. Họ Lô đi theo Trịnh Sinh về tới nhà, thì thấy tiểu thư Lý trang điểm nhẹ nhàng bước ra ngoài, trông nàng diễm lệ tự nhiên, hoàn toàn khác với dáng vẻ hôm trước cậu gặp trong phòng, khiến Lô Sinh hối tiếc khôn nguôi. Sau này mọi người kể lại lời tiên đoán của bà thầy tướng số, cậu mới hiểu ra nhân duyên là số mệnh, cũng chỉ biết thở dài mà thôi.
***
Trong dân gian có câu rằng: “Hữu duyên thiên ý năng tương ngộ, Vô duyên đối diện bất tương phùng”.
Con người sống ở trên đời, vạn sự đều là tuỳ duyên. Hôn nhân cũng vậy, đều là do Trời định, không phải cứ cưỡng cầu là được. Ngày nay người ta không còn tin rằng nhân duyên là do Trời định, mà giảng thuyết nào là tự do tình ái, tự do yêu đương. Kỳ thực, nói đi nói lại, cuối cùng cũng chỉ tìm được người mà Trời đã định cho mình mà thôi, chỉ là con người không tin, mà cho rằng phải tìm mới thấy, phải theo đuổi mới giành được.
Cũng chính vì đạo đức của nhân loại đang trượt dốc nên mới xuất hiện những chuyện nam nữ bại hoại, tình yêu phóng túng. Hiện nay còn thuyết giảng nào là hôn nhân sét đánh, sống thử, tình một đêm, đây đều là những hành vi bất hảo nhất của con người, không phải là những việc trong phạm trù đạo đức mà Thần đã quy định cho nhân loại. Không tuân theo tiêu chuẩn làm người mà Thần đã đặt định thì con người sẽ không thể cảm nhận được hạnh phúc thực sự là gì. Và hãy thử nhìn lại xem, con người hiện nay có hạnh phúc không khi tỷ lệ ly hôn ngày một tăng cao, bạo lực gia đình ngày một nhức nhối, những mối tình vụng trộm ngày một ngang nhiên, khiến mỗi lần nhắc tới hôn nhân ai nấy đều tái mặt, chỉ e không thể cùng nhau sống tới đầu bạc răng long…
Văn hóa Á Đông 5.000 năm đã đặt định tiêu chuẩn làm người theo Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Những giá trị truyền thống và quy phạm làm người ấy giúp con người hạnh phúc, có được cuộc sống đong đầy niềm vui. Nếu chúng ta có thể lĩnh hội nội hàm sâu sắc thuần chính nền văn hoá huy hoàng của lịch sử ấy, chúng ta có thể nhận ra sự biến dị của văn hóa hiện đại ngày nay, để trở về với quỹ đạo của một con người chân chính và trải nghiệm một cuộc sống hạnh phúc thực sự.
Theo Secretchina
Hiểu Liên biên dịch
Vĩnh Bảo sưu tầm 22/5/2017

Đời người có 7 ngưỡng, biết bạn đang ở ngưỡng nào để được sống bình an

Đời người có 7 ngưỡng, biết bạn đang ở ngưỡng nào để được sống bình an

Đời người bất quá chỉ được vài chục năm, nhân sinh như một giấc mộng ảo. Lời ấy của người xưa nói rất hay. Cứ 10 năm được tính là một ngưỡng, ở mỗi ngưỡng, người ta lại có những cảm nhận và nhận thức sâu sắc hơn về sinh mệnh. Có bao giờ bạn tự hỏi mình đang ở ngưỡng nào trong kiếp nhân sinh?
Dẫu là núi vàng núi bạc thì sau khi chết đi cũng chẳng thể mang theo. Vậy nên sống tốt ngay trong thời khắc hiện tại vẫn là lựa chọn đúng đắn nhất. Trân quý từng giây phút của sinh mệnh, người ta sẽ cảm thấy được dư vị tươi đẹp của cuộc sống này dẫu là đang ở ngưỡng nào đi nữa, lúc tráng niên hay tuổi xế chiều.
10 tuổi, chập chững vào đời
Vào giai đoạn này, đa số người ta sẽ không còn đắn đo về việc được cho bao nhiêu tiền tiêu vặt, không so sánh với những đứa trẻ nhà khác về bộ cánh hàng hiệu hay món đồ chơi đắt tiền. Trẻ nhỏ thường thích so sánh, đặc biệt là trẻ ở thành phố. Nhưng về lý thì đó cũng là chuyện thường tình, có thể thông cảm. Đến độ 10 tuổi, con trẻ đã biết nhận thức, sẽ hiểu chuyện hơn, bắt đầu chập chững vào đời.
Ảnh minh họa. Theo tuxboard.com
20 tuổi, bắt đầu thanh xuân
Vào giai đoạn này, người ta sẽ không còn so sánh về gia đình, xuất thân hay nghề nghiệp của cha mẹ mình, cũng không còn cho rằng gia đình không đối tốt với mình nữa. Khi mười mấy tuổi, nhiều trẻ thường hay so sánh gia đình, xuất thân của mình với những đứa trẻ khác, so sánh xem cha mẹ làm quan chức to hay nhỏ, chỉ ước rằng mình được sinh vào gia đình đế vương, tể tướng. Vốn dĩ đây cũng là chuyện thường tình của con người.
Nhưng nếu một người đến tuổi trao “mũ mềm” (1) (tuổi 20) mà vẫn yếu đuối, không thể ra gió, vẫn không thể tự mình lập chí thì lại là có vấn đề. Có những người tự ti vì xuất thân trong gia đình nghèo khó, luôn cảm thấy mình không sao ngẩng mặt lên được. Cũng có người xuất thân trong gia đình phú quý, lại luôn luôn dựa dẫm cha mẹ, sống sung túc nhàn hạ dưới sự chở che của gia đình. Cả hai kiểu người ấy rồi sẽ chẳng làm nên được gì.
30 tuổi, xây dựng sự nghiệp
Ở tuổi này, người ta đã lập gia đình và xây dựng sự nghiệp, đã trở thành cha mẹ, thậm chí có người còn có rất nhiều kinh nghiệm về cuộc sống gia đình.
Là chồng, lúc này không nên so đo về dung mạo của vợ. Một người vợ hiền thục, hiểu biết quan trọng hơn người chỉ có ngoại hình đẹp. Người vợ biết sống, biết cư xử chính là người mà gia đình có thể trông chờ được. Bởi họ có thể xử lý mọi chuyện một cách trí huệ và hài hòa, chứ không phải dựa vào một dung mạo đẹp.
Là vợ, lúc này không nên so đo về chiều cao, ngoại hình của chồng, hiểu được năng lực của chồng còn quan trọng hơn chiều cao của anh ấy. Người chồng không có khả năng kiếm sống thì dẫu có bảnh bao, thân dài vai rộng cũng không có giá trị bằng Võ Đại Lang bán bánh nướng.
Ảnh minh họa. Theo goodwp.com
40 tuổi, không còn nghi hoặc 
Vào độ tuổi này, người ta không nên tiếp tục so đo về những lời bàn luận của người khác. Hãy để ngoài tai những lời bàn tán của người khác. Họ muốn nói gì, bàn luận gì đều không ảnh hưởng tới lựa chọn cách sống của bản thân. Dù có buông ra bao lời bóng gió, rốt cuộc người khác cũng không thể thay thế sống hộ cuộc đời của chúng ta. Hãy học cách tự có chủ kiến của riêng mình và làm chủ cuộc sống.
Nhưng xã hội quá thăng trầm, danh lợi luôn ràng buộc. Nhiều người nổi tiếng chỉ cần vài hôm không nghe thấy người khác khen mình một câu là đứng ngồi chẳng yên, tưởng rằng xã hội đã quên mất mình. Đối với một người thường mà nói, dù không có khát vọng nổi tiếng mạnh mẽ như các minh tinh, nhưng cũng hết sức mệt mỏi vì theo đuổi danh tiếng.
Cho nên, ở tuổi 40, người ta nhất định phải có chính kiến, không được dễ dàng bị những lời dị nghị của người đời thao túng. Cổ nhân có câu: “Tứ thập nhi bất hoặc” (40 tuổi thì không còn bị mê hoặc). Đạo lý chính là như vậy, đừng để bản thân bị lay động chỉ vì chút lời nói gió bay.
50 tuổi, hiểu mệnh trời
Người ở lứa tuổi này không còn so đo, để tâm vào những chuyện bất bình, không còn so sánh bản thân mình với thành công của người khác, không ngưỡng mộ danh lợi của họ. Bởi những điều này thực tế đều là vật ngoài thân. Dù bạn có ngưỡng mộ họ đến đâu thì vẫn phải có cuộc đời cần phải sống của mình.
Nửa cái trăm năm đời người, con người từng trải qua bao cảnh bãi bể nương dâu, đã từng gặp gỡ vô số người, đã quá quen với gió xuân và trăng thu, không còn cảm thấy điều gì kỳ lạ, đã nếm trải hết thảy những chuyện thành bại thị phi, không còn căm phẫn bất bình, đã có thể thảnh thơi ngắm hoa nở hoa tàn trước sân.
Lúc này dẫu có nhìn thấy người khác khoe khoang gia sản kếch sù, bạn cũng không hề động tâm. Dù nhìn thấy cuộc sống xa hoa, lãng phí bạn vẫn có thể điềm nhiên, trầm ổn, giữ vững tâm tính. Lúc này đối với bạn gia đình là điều quan trọng nhất, cảnh gia đình sum họp, đoàn tụ mới là niềm hạnh phúc lớn nhất.
Ảnh minh họa. Theo weibo.com
60 tuổi, coi nhẹ chuyện đời 
Đời người đến lúc này đã là bước vào cảnh giới có thể coi nhẹ mọi thứ, mở lòng với tất cả. Là người làm quan thì không nên tiếp tục so đo quan chức lớn nhỏ. Tới khi về hưu chức quan dù lớn dù nhỏ cũng như nhau, đều chỉ là dân thường mà thôi.
Những người làm kinh doanh không nên tiếp tục so đo lời lãi ít nhiều. Tiền có kiếm được nhiều hơn nữa thì cũng làm được gì một khi hai mắt khép lại. Tiền của nhiều đến đâu, để lại cho con cháu chắc gì đã là chuyện tốt, có khi còn hại cả con cháu mình. Chỉ có đối đãi với sức khỏe tâm thân của mình bằng một tâm thái bình hòa mới là phương thuốc kỳ diệu nhất cho tuổi già.
Những người có danh tiếng thì nên coi nhẹ danh tiếng. Giống như đạo diễn Dương Khiết trong bộ phim “Tây Du Ký” phiên bản năm 86, dành cả đời dựng nên một bộ phim có tầm ảnh hướng tới vô số người Á Đông nhưng bản thân lại sống một cuộc đời bình dị, âm thầm lặng lẽ.
70 tuổi, nhân sinh xưa nay hiếm 
Khi con người tới tuổi “cổ lai hy” cũng là lúc nửa đôi chân đã đặt vào quan tài. Những phiền muộn âu lo trên thế gian đã không còn liên quan tới bản thân mình nữa. Ngay cả với những chuyện náo nhiệt, muôn màu trong đời cũng chỉ là mỉm cười cho qua trước mắt, còn màng chi thế sự, chuyện đời.
Đời người ngắn ngủi chỉ có mấy chục năm, tranh giành rốt cuộc để làm chi? Những thứ từng tranh đoạt một sống hai chết khi còn trẻ tới khi có được rồi lại coi như đôi giày cũ, giành giật qua lại cũng chẳng ích gì. Tuổi trẻ cảm thấy đủ mọi áp lực dồn nén trong tâm, phải dốc hết tâm huyết mà cò kè, giành giật đến giờ nhìn lại thấy mọi thứ cũng chỉ là “phó mặc nói cười suông”.
Người già ở tuổi này có được 3 điều tích cực này thì không lo tuổi già buồn chán, đó là: thân thể khỏe mạnh, gia đình hài hòa, một danh tiếng tốt, là người già cũng phải ra dáng của một người già.
Ảnh minh họa. Theo songkhoe.vn
***
Con người sống trên đời vốn đã là một quá trình không ngừng đắc được và từ bỏ. Điều ta có được hôm nay đến ngày mai biết đâu không thể bền vững. Nhưng rất nhiều người hoàn toàn không hiểu đạo lý này, thường muốn kiếm được nhiều tiền nhất, trục được nhiều lợi nhất trong những năm còn sống. Họ không dám, cũng không thích buông bỏ.
Danh lợi, địa vị, quyền lực, nữ sắc… thứ nào cũng không thể buông ra thì mãi chỉ như con trâu kéo cày, sống quá ư mệt mỏi. Ngược lại, đối với tiền tài, danh lợi, thứ gì cũng không kì kèo, qua loa đại khái thì cũng khó tránh khỏi có lỗi với bản thân, sống một đời không mấy ý nghĩa, thả mặc theo dòng đời.
Người thông minh, am hiểu lẽ đời có việc phải làm, có việc không làm, chỉ so bì, theo đuổi những thứ quan trọng nhất đối với mình và biết được vào độ tuổi nào nên so đo thứ gì, không nên so đo thứ gì, có được có mất, có nhận có bỏ một cách thản nhiên. Người như vậy mới là người có trí huệ, cuộc sống như vậy mới tràn đầy màu sắc.
Chú thích:
(1) Trao “mũ mềm”: Vào thời xưa tại Trung Quốc con trai đến tuổi 20 sẽ được làm lễ trao “mũ mềm”, chứng tỏ cậu đã được công nhận là người đã trưởng thành.
Hiểu Liên biên dịch 
Vĩnh Bảo sưu tầm 22/5/2017 

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017

Nhà “đại thể” hay vẫn là nhà xác

Nhà “đại thể” hay vẫn là nhà xác? An Chi(Năng Lượng Mới số 84, 30-12-2011).

Nguyên bản ở Facebook của An Chi (Huệ Thiên):
 Bạn đọc : Ở gần nhà tôi có nhà đại thể. Tôi tra trên mạng thấy đó là nhà xác. mà sao lại gọi là “đại thể” vậy ông An Chi?  (L.N.B.).
        An Chi : Vì bất cứ lý do gì mà “thay tên đổi họ” của nhà xác thành “nhà đại thể” thì, theo chúng tôi, cũng cứ là chuyện không cần thiết, và chỉ là nhiễu sự mà thôi. Đúng như bạn nói, nếu gõ ba chữ “nhà đại thể” trên Google, ta sẽ được rất nhiều kết quả: 
  – “Lễ tiễn biệt các thây nhi (thai nhi đã chết) ở Bệnh viện Từ Dũ thường diễn ra vào chiều thứ năm hàng tuần. Hôm nay là một ngày tiễn biệt như thế ở khu nhà đại thể (nhà xác) bệnh viện Từ Dũ.” (“Chuyện ghi ở nhà đại thể” của Kim Liên – Ngọc Hiếu, Sài Gòn giải phóng, 27-10-2009).
        –“Chiều 10-11, với sự giúp đỡ của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an, tất cả 4 xác nạn nhân trongnhà đại thể của Bệnh viện đa khoa Bình Thuận đã được phân biệt danh tính.”( “Tài xế chính xe gây tai nạn trình diện cơ quan công an” của Phong Châu - Lê Nguyễn, Tiền phong ngày 11-11-2011).
– “Tại Perm, thành phố cách Matxcơva hơn 1.000 km về phía đông, từng nhóm những người có thân nhân có mặt ở hộp đêm tụ tập bên ngoài nhà đại thể với vẻ mặt đau buồn, chờ nhận dạng người nhà của mình. Một số người liên tục rít thuốc lá, hoặc nhìn chằm chằm vào bản danh sách với đôi mắt trống rỗng.”(“Bắt 5 người trong vụ cháy hộp đêm ở Nga” của T.Huyền, VnExpress, 6/12/2009).
Nếu tiếp tục “rà”, ta sẽ còn thấy thêm rất nhiều kết quả tương tự, trên rất nhiều tờ báo khác nhau, kể cả báo địa phương, cũng như sẽ thấy danh ngữ nhà đại thể đã được dùng khá nhiều trong một số bệnh viện mà không biết là nhờ sự thông minh của ai. Vì “nhà đại thể” mà người ta đã “bỏ” nhà xác. Còn về thời điểm thì ta có thể biết cái cách gọi chẳng hay ho gì này đã ra đời cách đây ít nhất là 7 năm, theo bài “Sống bên cạnh người chết” của Thu Hà trên báo Thanh Niên mà Việt Báo.vn ngày 20-7-2006 đã đăng lại: 
“Trước đây, ở Bệnh viện Đà Nẵng, nhà để quàn những bệnh nhân – hoặc những nạn nhân – vừa qua đời được gọi là Nhà xác và những người phục vụ được gọi bằng một tên nghe đến “rợn người”: nhân viên Nhà xác. Tên gọi của nơi để quàn những người quá cố nghe quá nặng nề nên từ năm 2004, nơi đây được đổi tên là Nhà Đại thể và nghiễm nhiên, những nhân viên phục vụ tại đây cũng được gọi bằng một cái tên khác: nhân viên Nhà Đại Thể.”
Về cái tên lạ lẫm này, Người lao động, ngày 15-05-2011 cho biết, theo bác sĩ Nguyễn Đát Lý, Trưởng Khoa Giải phẫu bệnh, đơn vị quản lý nhà đại thể của Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương, thì hai chữ “đại thể” dùng để chỉ toàn bộ cơ thể, vốn được dùng để phân biệt với “vi thể”, tức các bộ phận nhỏ, lẻ trong “đại thể”. Chúng tôi chưa thực sự yên tâm về cách giải thích này vì thể ở đây không phải là thân hình con người, mà là thể thức, phương cách. Theo Giải phẫu đại cương  Nhập môn giải phẫu học do TS Trịnh Xuân Đàn chủ biên thì:
“Giải phẫu học người (human anatomy) là môn khoa học nghiên cứu cấu trúc cơ thể con người. Tuỳ thuộc vào phương tiện quan sát, giải phẫu học được chia ra thành 2 phân môn: giải phẫu đại thể (gross anatomy hay macroscopic anatomy) nghiên cứu các cấu trúc có thể quan sát bằng mắt thường; giải phẫu vi thể (microscopic anatomy hay histology) nghiên cứu các cấu trúc nhỏ chỉ có thể quan sát dưới kính hiển vi.”
Cứ như trên thì “các cấu trúc có thể quan sát bằng mắt thường” trong giải phẫu đại thể đâu có phải là “toàn bộ cơ thể”. Nhưng, nói cho cùng, dù ta có hiểu như thế nào thì hai tiếng đại thể trong danh ngữnhà đại thể cũng không trực tiếp liên quan đến thuật ngữ “giải phẫu (học) đại thể” mà lại liên quan đến thi hài của người hiến xác thông qua ẩn dụ mang tính tôn xưng đại thể lão sư của Trung Hoa Đài Loan.
Trước đây, do thuận miệng mà sinh viên y khoa ở Đài Loan thường dùng hai tiếng đại thể trong tên của môn đại thể giải phẫu học 大體剖學解 (giải phẩu học đại thể) để gọi thi thể mà họ quan sát. Ta có thêm một bằng chứng cho thấy chữ thể ở đây không liên quan đến thân thể con người. Rồi sau đó thì Trường Đại học Từ Tế 慈濟大學 (Tzu Chi University) ở Đài Loan mới tôn xưng mà gọi là Đại thể lão sư大體老師 (người thầy trong môn giải phẫu học đại thể) để chỉ thi hài của người hiến xác. Sinh viên, cũng như giáo sư và cán bộ giảng dạy xem những thi hài đó như là những người thầy (lão sư) hiền hậu, vô tư, rộng lượng, không phản ứng mảy may trước sự mổ xẻ, v.v., giúp cho họ có thể biết được đến từng ngóc ngách tất cả những gì thuộc về cơ thể con người trong khi họ học hoặc dạy môn giải phẩu học đại thể. Nhưng những người thầy này lại chẳng nói năng gì; vì vậy nên họ còn được gọi là Vô ngữ lương sư 無語良師 (thầy giỏi không nói). Vậy Đại thể lão sư và Vô ngữ lương sư là hai thành ngữ mang tính ẩn dụ để chỉ thi hài của người hiến xác được sử dụng trong phòng thực nghiệm, thực tập. Đại học Từ Tế là một trường đại học danh tiếng và có uy tín nên được biết đến ở nhiều nơi trên thế giới.
Vậy việc thành ngữ Đại thể lão sư do nó khởi tạo được biết đến ở Việt Nam cũng không phải là chuyện lạ. Lạ – quái dị nữa là đằng khác – là việc nhiều người, nhiều nơi trong ngành y tế cũng như nhiều nhà báo và phương tiện truyền thông của Việt Nam lại dùng hai tiếng đại thể của nó một cách thật khiếm nhã. Tại quê hương của nó thì hai tiếng này được dùng để chỉ thi thể của những người cao thượng đã hiến xác cho khoa học mà cả  loài người đều biết ơn, đặc biệt là với các trường y khoa. Nơi lưu giữ và bảo quản các thi thể hiến tặng này để cho sinh viên thực tập gọi là đại thể thất 大體室, tương đương với gross anatomy laboratory của tiếng Anh. Còn tại Việt Nam thì hai tiếng đại thể lại được dùng để chỉ bất cứ cái xác chết nào được lưu giữ và bảo quản tại nhà xác, từ xác chết của một anh đại gia lắm tiền nhiều của cho đến xác chết của một tên lưu manh bỏ mạng vì đâm thuê chém mướn. Vô hình trung đại thể thất/gross anatomy laboratory bị biến thành nhà xác, mà tiếng Hán là trần thi sở 陳尸所 hoặc đình thi thất 停尸室 còn tiếng Anh là morgue hoặc  mortuary.
May mắn một cách lạ lùng là tuy cái danh ngữ tân thời kỳ dị này đã ra đời cách đây ít nhất 7 năm nhưng theo sự tìm hiểu của chúng tôi thì nhiều bác sĩ, ngay cả ở những bệnh viện lớn như Chợ Rẫy, cũng không hề biết đến nó. Điều này chứng tỏ rằng danh ngữ nhà xác vẫn còn một sức sống mạnh mẽ. Vậy xin nhân tiện đề nghị ngành y tế hãy cho cái danh ngữ nhà đại thể vào “nhà đại thể”.
Vĩnh Bảo sưu tầm 3/5/2017

Nam văn nữ thị

Nam văn nữ thị (Năng Lượng Mới số 56 , 23 - 9 - 2011)

Nguyên bản ở Facebook An Chi (Huệ Thiên):
 Bạn đọc :  Xin cho hỏi tại sao trước đây cha mẹ đặt tên cho con trai thường lót chữ “văn” còn con gái thường lót chữ “thị”? (Nguyễn Thị Hồng Đào).
 An Chi : Về vấn đề này, ông Lê Trung Hoa có cho biết như sau:
“Chúng tôi đọc thấy một điểm đáng chú ý trong cuốn Les langages  de l’humanité của Michel Malherbe (...): Có lẽ tên đệm Văn có nguồn gốc từ tiếng Ả Rập ben (con trai) và tên đệm Thị cũng từ tiếng Ả Rập binti (con gái) do các thương nhân Ả Rập vào buôn bán ở bờ biển Việt Nam. Tuy tác giả không nêu cứ liệu, chúng tôi thấy có khả năng đúng, vì: – về ngữ âm ben cho ra vănbinti cho ra thị là có thể chấp nhận; – Việt Nam chịu ảnh hưởng “họ” của người Trung Hoa. Nhưng người Trung Hoa trước đây và hiện nay không dùng các từ đệm văn và thị phổ biến như người Việt Nam” (Họ và tên người Việt Nam, Hà Nội, 1992, tr.62, chth.1).
Ông Hoa nói như thế còn chúng tôi thì cho rằng nói ben có thể cho ra văn và binti có thể cho ra thịchẳng khác nào nói rằng tiếng Pháp petit đã cho ra tiếng Việt bé tí còn colosse thì đã cho ra khổng lồ, chẳng khác nào nói tiếng Ý ciao đã cho ra tiếng Việt chào còn tiếng Tây Ban Nha niño thì đã cho ra nhỏ nhí. Nhận xét của Malherbe xuất phát từ một sự so sánh vô nguyên tắc mà sự công nhận của ông Lê Trung Hoa thì cũng chẳng có cơ sở khoa học nào. Lẽ ra, ông Hoa phải hiểu tiếng Việt hơn Malherbe mới đúng. Trong trường hợp này, Malherbe đã làm một công việc mà Henri Frei đã làm cách đây gần 120 năm trong quyển L’annamite, mère des langues (Tiếng An Nammẹ của các thứ tiếng – Hachette & Cie, Paris, 1892), trong đó quan năm Frei này đã so sánh tiếng Việt với nhiều thứ tiếng, có khi thuộc những ngữ hệ cách nhau rất xa. Ngữ học so sánh có những nguyên tắc của nó; không thể cứ thấy hai từ giống nhau thì vội vàng khẳng định chúng là bà con, như Frei và Malherbe đã làm và ông Lê Trung Hoa đã cả tin.
Thật ra thì chữ lót Văn trong tên của nam giới chính là chữ “văn” trong “văn thân”, nghĩa là xăm mình. Nhưng trước khi phân tích và chứng minh, xin hãy chép lại đoạn nói về “Tục lệ xăm mình của người Việt cổ” ở Wikipedia (cho đến tối 19-9-2011):
“ Sách Lĩnh Nam chích quái (phần “Hồng Bàng thị truyện”) viết như sau:
“ Bấy giờ, dân trên núi xuống nước đánh bắt cá thường bị thuồng luồng gây thương tổn, bèn cùng nhau tâu việc ấy với Vua. Vua nói:
 “– Các giống ở trên núi khác với các loài ở dưới nước. Các loài ở dưới nước chỉ ưa những gì giống với mình và ghét những gì khác mình, vì vậy, ta mới bị gây hại.
“ Nói rồi, Vua bèn ra lệnh cho ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình thuỷ quái vào người. Từ đó, không bị thuồng luồng gây thương tích nữa. Tục vẽ mình của dân Bách Việt bắt đầu có kể từ đấy. Đặc biệt thời Trần, những thành viên thuộc đội quân Thánh Dực bảo vệ xa giá sẽ được xăm lên trán ba chữ Thiên Tử Quân (Quân đội Thiên Tử). Nghệ thuật này còn được thấy rõ rệt dưới triều đại này với việc xăm hai chữ “Sát Thát” (Giết giặc Tartar) trong thời kỳ kháng chiến chống Nguyên Mông, thể hiện sự quyết tâm đồng lòng chiến đấu, bảo vệ giang sơn của cha ông ta. Thường những người xăm trổ thời ấy đều là những chiến binh dũng cảm và can trường, họ xăm trổ để thể hiện sức chịu đựng và chí hướng của mình. Nhiều người dân cũng thường cũng xăm lên bụng những chữ Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báo quốc thể hiện tinh thần thượng võ.”
Câu “Vua bèn ra lệnh cho ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình thuỷ quái vào người” trong Lĩnh Nam chích quái là một câu có tính chất hồi chỉ và nó hồi chỉ “dân trên núi xuống nước đánh bắt cá”. Những người dân này chỉ là đàn ông. Cho đến tận thời nay, ra khơi đánh cá vẫn chỉ là đàn ông mà thôi. Thiên tử quân đời Trần cũng chỉ là đàn ông. Cho đến mãi thế kỷ XX thì trong nội bộ người Việt, xăm mình vẫn chỉ có đàn ông (chứ phụ nữ Mãng, chẳng hạn thì có xăm mặt). Cứ như trên thì xăm mình là một nét đặc trưng của đàn ông người Việt thời xưa và đặc trưng này đã được đưa vào tên họ của họ. Truy nguyên ra thì thấy như thế và những cái tên, chẳng hạn như Trần Văn Ổi vốn có nghĩa là người họ Trần tên Ổi có xăm mình; Phạm Văn Me vốn có nghĩa là người họ Phạm tên Me có xăm mình; Võ Văn Xoài vốn có nghĩa là người họ Võ tên Xoài có xăm mình; mà hễ có xăm mình thì đều là đàn ông. Ý nghĩa của tục lệ này dần dần phai mờ với thời gian nên về sau, chẳng cần có xăm mình gì cả thì con trai sơ sinh vẫn thường được cha mẹ dùng chữ Văn làm tiếng lót khi đặt tên.
Còn thị là một từ Việt gốc Hán, chữ Hán viết là . Đây là tiếng dùng để chỉ phụ nữ. Nghĩa này của nó được Từ nguyên và Từ hải ghi là “phụ nhân xưng thị” (đàn bà gọi là thị) còn Vương Vân Ngũ đại từ điểnthì ghi là “phụ nhân” (đàn bà) và Mathews’ Chinese-English Dictionary thì ghi “a female” (người thuộc giới tính nữ). Từ nguyên còn cho biết rõ thêm rằng ngày nay thị cũng là một từ mà phụ nữ dùng để tự xưng (Kim dịch vi phụ nhân tự xưng chi từ).
Trong tiếng Việt, nó còn có một công dụng mà Từ điển tiếng Việt 1992 đã ghi như sau: “Từ dùng để chỉ người phụ nữ ở ngôi thứ ba với ý coi khinh”. Vậy rõ ràng thị có nghĩa là đàn bà. Nhưng do đâu mà nó trở thành tiếng lót, tức tên đệm của phụ nữ? Thì cũng là từ công dụng của nó trong tiếng Hán mà ra, sau một quá trình chuyển biến ngữ nghĩa. Công dụng này đã được Hiện đại Hán ngữ từ điển (Bắc Kinh, 1992) chỉ ra như sau: “Đặt sau họ của người phụ nữ đã có chồng, thường thêm họ chồng vào trước họ cha để xưng hô” (Phóng tại dĩ hôn phụ nữ đích tính hậu, thông thường tại phụ tính tiền gia phu tính, tác vi xưng hô). Thí dụ: Triệu Vương thị là “người đàn bà mà họ cha là Vương còn họ chồng là Triệu”.
Người Việt Nam ngày xưa đã không làm y hệt theo cách trên đây của người Trung Hoa mà chỉ đặt “thị” sau họ cha rồi liền theo đó là tên riêng của đương sự theo kiểu cấu trúc “X thị Y”, hiểu là người đàn bà họ X tên Y. Cấu trúc này giống như cấu trúc có yếu tố công (= ông) mà dân Nam Bộ đã dùng để gọi nhà yêu nước Trương Định một cách tôn kính: Trương Công Định, có nghĩa là “ông (được tôn kính) họ Trương tên Định”. Hoặc như của chính người Trung Hoa khi họ khắc trên mộ chí của Trương Khiên mấy chữ Trương Công Khiên (chi mộ), có nghĩa là “(mộ của) ông (được tôn kính) họ Trương tên Khiên”. Vậy, cứ như đã phân tích, Nguyễn Thị Mẹt là người đàn bà họ Nguyễn tên Mẹt, Trần Thị Nia là người đàn bà họ Trần tên Nia, còn Phạm Thị Cót là người đàn bà họ Phạm tên Cót, v.v... Cách hiểu nguyên thủy này đã phai mờ dần theo thời gian, làm cho về sau người ta tưởng rằng thị chỉ là một yếu tố có tính chất “trang trí” cho tên của phái nữ mà thôi. Chính vì đã không còn hiểu được công dụng ban đầu của “thị” nữa nên người ta mới dùng nó mà làm tiếng lót, nghĩa là tên đệm, cho các bé gái khi chúng chào đời. Người ta đã làm như thế mà không ngờ rằng ngày xửa ngày xưa, các cụ bà của chúng chỉ được dùng tiếng thị để chỉ định sau khi họ đã trưởng thành, và rằng thị chỉ được dùng chủ yếu là trong lời nói, đặc biệt là trong ngôn ngữ hành chính, chứ không phải là cho việc đặt tên.
Ý nghĩa và xuất xứ của hai tiếng “văn” và “thị” trong họ tên người Việt trước đây, theo chúng tôi đại khái là như thế. Chứ hai từ ben và binti của các chú lái buôn người Ả Rập thì chẳng có liên quan gì với nó cả.
Vĩnh Bảo sưu tầm 3/5/2017

NGUỒN GỐC CỦA PHỞVương Trung Hiếu


NGUỒN GỐC CỦA PHỞVương Trung Hiếu

Sinh 1959 tại An Giang, thông thạo Anh, Pháp, Hoa và tốt nghiệp tiến sĩ môn Khoa học Lịch sử, Vương Trung Hiếu đã cho xuất bản trên 200 đầu sách thuộc các thể loại biên soạn, dịch thuật và tiểu thuyết. Nguồn gốc của Phở là một nghiên cứu công phu với phân tích chi tiết về từ gốc của món ăn này. (Trần Vũ)
oOo
Có thể khẳng định rằng tính đến năm 1838, từ “phở” chưa xuất hiện trong từ điển, bởi vì trong năm này, quyển Dictionarium Anamitico Latinum của AJ.L Taberd (còn gọi là Từ điển Taberd) được xuất bản lần đầu, nhưng trong đó không có từ “phở”. Theo nhà nghiên cứu Đinh Trọng Hiếu, chữ phở lở xuất hiện trong từ điển Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình-Tịnh Paulus Của (1896) với nghĩa là “nổi tiếng tăm” (trang 200). 
Năm 1898, phở có mặt trong Dictionnaire Annamite-Français của  J.F.M. Génibrel với nghĩa là “ồn ào” (trang 614). Trong bài Essai sur les Tonkinois (Khảo luận về người Bắc Kỳ) đăng trên Revue Indochinoise (Tạp chí Đông Dương) ngày 15-9-1907, Georges Dumonutier đã giới thiệu nhiều thức ăn uống phổ biến ở miền Bắc vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 nhưng không hề nhắc tới món phở.
Đến năm 1931, từ phở có nghĩa là một món ăn mới bắt đầu xuất hiện, ít nhất là trong quyển Việt Nam Tự Điển của Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến Đức (NXB Mặc Lâm): phở “do chữ phấn mà ra. Món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò: Phở xào, phở tái” (trang 443) (1). Một khi từ phở đã xuất hiện trong từ điển thì ta có quyền tin rằng món ăn này đã phổ biến. Thật vậy, trong tác phẩm Nhớ và ghi về Hà Nội, nhà văn Nguyễn Công Hoan viết : “1913… trọ số 8 hàng Hài… thỉnh thoảng, tối được ăn phở (hàng phở rong). Mỗi bát 2 xu (có bát 3 xu,5 xu)” (2). Từ yếu tố này ta có thể khẳng định phở đã ra đời từ đầu thế kỷ 20.
Nguồn gốc của phở
Hiện nay, có ba quan điểm chính, cho thấy sự khác nhau về nguồn gốc của phở, đó là : phở xuất phát từ món pot-au-feu của Pháp, từ  món ngưu nhục phấn của Trung Quốc và cuối cùng là món xáo trâu của Việt Nam. Chúng ta sẽ lần lượt tham khảo từng quan điểm để xem phở thật sự có nguồn gốc từ đâu.
1/- Gốc Pháp : Có giả thuyết cho rằng phở bắt nguồn từ món pot-au-feu của Pháp. Phở là  cách nói tắt của pot-au-feu (nói trại âm tiết feu)Quan điểm này được củng cố bằng quyển Dictionnaire Annamite-Chinois-Français của Gustave Hue (1937) với định nghĩa: “Cháo phở: pot-au-feu” (trang 745).
Chúng tôi thật sự không hiểu : pot-au-feu là món thịt bò hầm của Pháp, nước có thể làm súp, chế biến nước sốt, nấu rau hay mì ống, tại sao lại có thể ghép món này với cháo phở của Việt Nam, cho dù trong giai đoạn ấy, do ảnh hưởng người Pháp, người Việt đã bắt đầu làm quen với việc ăn thịt bò và đã biết nấu món cháo thịt bò. Trên thực tế, xét về nguyên liệu, cách chế biến và cả cách ăn  thì phở và pot-au-feu là hai món hoàn toàn khác nhau,.
Theo Wikipedia, pot-au-feu là  món thịt bò hầm với cà rốt, củ cải, tỏi tây, cần tây, hành tây; kết hợp với rau thơm, muối, tiêu đen và đinh hương… Thịt bò sử dụng cho món này thường dầy và to (chưa kể đuôi, xương sườn, sụn, cổ chân…), trong khi đó thịt bò trong phở lại mỏng và nhỏ; mặt khác, những thứ như cà rốt, củ cải, tỏi tây… không phải là nguyên liệu để làm phở, mùi vị pot-au-feu cũng không giống như phở. Người Pháp ăn món này với bánh mì, khoai tây, dùng muối thô, mù tạt Dijon, đôi khi cũng ăn với dưa chuột ri ngâm giấm chứ không ăn với bánh phở. Do đó, thật sai lầm khi cho rằng phở có nguồn gốc từ món pot-au-feu.
2/- Gốc Trung Quốc : Đây là giả thuyết mà nhiều người đồng ý nhất. Người ta cho rằng phở có nguồn gốc từ món Ngưu nhục phấn 牛肉粉 của Trung Quốc, một món làm từ bún và thịt bò (ngưu牛: bò; nhục 肉: thịt và phấn 粉: bún, bột gạo dạng sợi). Món này đọc theo tiếng Quảng Đông là Ngầu yụk -phẳn. 
Vào đầu thế kỷ 20, nhiều người Trung Quốc đã bán món Ngưu nhục phấn tại Hà Nội. Ban đêm họ đi rao hàng “ngầu.. yụk..phẳn ..a” rồi dần dần hô tắt còn “yụk …phẳn…a” rồi “phẳn…a” và cuối cùng hô trại thành “phở”. Quan điểm này giống như ghi nhận trong quyển Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (đã nêu): phở “do chữ phấn mà ra”.
Củng cố thêm là định nghĩa về phở trong quyển Dictionnaire Annamite-Chinois-Français (Từ điển An Nam-Trung Hoa –Pháp) của Gustave Hue (1937), trong đó có đoạn: “Abréviation de “lục phở: phở xào: beignet farci et sauté” nghĩa là “viết tắt của từ “lục phở”: phở xào: thứ bánh có nhân và được chiên”. Nhiều người thắc mắc, không biết “lục phở” là cái gì. Theo chúng tôi đây là từ có thật. Tương truyền rằng ngày xưa, các cụ đồ làng Mịn (xã Văn môn, Yên phong, Bắc Ninh) có sáng tác một bài thơ nói về chợ Đồng Xuân, để các cô đi chợ ngâm nga giải trí trên đường đi, trong đó có câu liên quan tới “lục phở”, xin trích đoạn sau :
… Cổng chợ có chị bán hoa
Có chú đổi bạc đi ra đi vào
Có hàng lục phở bán rao
Kẹo cao, kẹo đoạn, miến sào, bún bung
Lại thêm bánh rán, kẹo vừng
Trước mặt hàng trả, sau lưng hàng giò
Trong quyển Dictionnaire Vietnamien Chinois Francais của Eugèn Gouin (Saigon, 1957) có một đoạn viết về từ “lục phở”: “abréviation de “lục phở”: bouilli – cháo – pot au feu”…, “Lục phở: prononciation cantonaise des caractères chinois: (ngưu) nhục phấn” bouilli de boeuf. Vậy, “phở” là từ rút ngắn của ” lục phở”, còn “lục phở” là từ phát âm của “(ngưu) nhục phấn” trong tiếng Trung Hoa.
Đến năm 1970Nhà sách Khai Trí (Sài-gòn) xuất bản quyển Việt Nam Tự-điển, do Lê Ngọc Trụ hiệu đính thì quan điểm này càng thêm phần vững chắc hơn, trong đó định nghĩa “phở” như sau : “Món ăn bằng bột gạo tráng mỏng hấp chín xắt thành sợi nấu với thịt bò (do tiếng Tàu “Ngầu-dục-phảnh” tức “Ngưu-nhục-phấn” mà ra : Ăn phở, bán phở”, trang 1169, tập 2).
Thật ra, những quan điểm trên chỉ cho thấy chữ “phở” có nguồn gốc từ tên Ngưu nhục phấn, nhưng đáng tiếc là  nhiều người lại nghĩ rằng phở là Ngưu nhục phấn, hoặc “cách tân” từ  món Ngưu nhục phấn, chế biến cho hợp với khẩu vị của người Việt. Một số người lại dựa theo bài “Phở, phởn, phịa…” của Nguyễn Dư, dẫn chứng quyển Technique du peuple annamite (Kỹ thuật của người An Nam, 1908 – 1909) của Henri Oger (3) để củng cố quan điểm này.
Họ giới thiệu hai bức tranh khắc, bức đầu tiên (mang số 26 trong tập tranh 4577 bức) miêu tả một người đàn ông với gánh hàng rong, kèm theo chú thích “Chinois vendeur ambulant à la tombée de la nuit” (Người Tàu bán hàng trong buổi tối – Trần Đình Bình dịch). Nhưng họ không thể khẳng định người đàn ông ấy bán cái gì, chỉ bảo rằng gánh hàng trông giống như gánh phở ở Hà Nội ngày xưa); bức còn lại là hình vẽ một thùng chứa có dòng chữ hàng nhục phấn  行肉粉, họ cho rằng giống như thùng của gánh hàng trong bức đầu tiên. Thế là họ vội khẳng định dòng chữ ấy nói về món Ngưu nhục phấn 牛肉粉, và bán Ngưu nhục phấn có nghĩa là bán phở, hay nói cách khác, phở chính là Ngưu nhục phấn (!). Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ bức tranh thứ nhất ta sẽ thấy rằng người bán hàng có tóc đuôi sam, vậy người đó là Hoa kiều, bán món nhục phấn 肉粉 ở Hà Nội chứ không phải người Việt Nam bán phở. Rất tiếc là không ai miêu tả gánh hàng Ngưu nhục phấn ra làm sao để đối chiếu với gánh phở. Có khả năng gánh “nhục phấn” giống gánh “phở” chăng ?
Theo chúng tôi, ngưu nhục phấn và phở là hai món ăn khác nhau. Từ điển bách khoa Baike của Trung Quốc cho biết, tùy theo địa phương, nguyên liệu và cách chế biến ngưu nhục phấn có thay đổi đôi chút, song nhìn chung, nguyên liệu gồm có: thịt bò, nước súp, bánh bột sợi, củ cải chua, dưa cải bắp, bơ, hành, tiêu, hồi, dâu tây, rau thì là, quế, muối, gừng, hạt tiêu đỏ sấy khô, rau mùi tây, ớt khô, bột ngọt, tinh dầu hạt cải…Trong khi đó, thành phần chính của phở gồm có sợi phở, nước dùng (ninh từ xương ống lợn/bò và một số gia vị khác), thịt bò bắp (để làm thịt chín), thịt thăn mềm (để làm thịt tái), con sá sùng, tôm nõn, hành khô, gừng, dứa, hạt nêm, thảo quả nướng, hành tây, hành hoa, húng bạc hà, chanh, ớt, rau thơm…
Xét về nguyên liệu, ngưu nhục phấn sử dụng củ cải chua, dưa cải bắp, bơ, tinh dầu hạt cải…những thứ không dùng để chế biến phở; ngược lại phở sử dụng con sá sùng (có thể thay bằng bột ngọt), tôm nõn, dứa, chanh, ớt, rau thơm…những thứ không thấy khi làm món ngưu nhục phấn.
Cách chế biến hai món này cũng khác nhau, do khá dài dòng nên chúng tôi không trình bày ở đây, mời bạn đọc tìm hiểu thêm từ những clip giới thiệu cách làm ngưu nhục phấn và phở trên YouTube. Còn khi nhìn hình dưới đây (bên trái) bạn sẽ thấy nước phở trong, bánh phở nhỏ; còn hình bên phải là món ngưu nhục phấn 牛肉粉,  có nước sẫm màu, cọng to như bún, nhìn trông giống món bún bò Việt Nam.
3/- Gốc Việt Nam : Trước hết, xin phép nhắc lại đôi điều về chữ Nôm để nhằm khẳng định món phở là của Việt Nam. Song song với việc sử dụng chữ Hán, chữ Nôm dần dần trở thành văn tự chính của nước ta đến cuối thế kỷ 19. Sang đầu thế kỷ 20, chính quyền Pháp quyết định giải thể việc thi cữ bằng chữ Nho (năm 1915 ở Bắc Kỳ và 1919 ở Trung Kỳ).
Họ dùng chữ Quốc ngữ thay cho chữ Nôm để làm văn tự chính thức ở nước ta từ năm 1908. May mắn thay, cái từ phở viết bằng chữ Nôm đã kịp thời xuất hiện để chúng ta thấy rằng phở chẳng liên quan gì tới phấn 粉 trong Ngưu nhục phấn  牛肉粉. Nhìn chung, có một số cách cấu tạo chữ Nôm, ở đây chúng tôi nêu một cách tạo ra chữ phở để bạn đọc đối chiếu với từ phấn:
– Thứ nhất, cách vay mượn nguyên xi một chữ Hán để tạo ra một chữ Nôm có cách đọc và nghĩa khác với chữ Hán đó. Thí dụ : mượn chữ biệt 別 (cách biệt, khác biệt) để tạo chữ Nôm biết 別(hiểu biết); mược chữ đế 帝 (vua chúa) để tạo ra chữ Nôm đấy 帝 (tại đấy, xem đấy…).
– Thứ hai, cách ghép hai chữ Hán với nhau để tạo ra một chữ Nôm. Chữ thứ nhất là thành tố biểu ý, chữ thứ hai là thành tố biểu âm. Thí dụ: mượn chữ nguyệt 月 (biểu ý) + thượng 尚 (biểu âm) để tạo chữ Nôm tháng; mượn chữ thượng 上 (biểu ý) +  thiên 天 (biểu âm) để tạo chữ Nôm trời.
Vậy có bao nhiêu chữ Nôm đọc là phở ?
Theo những tự điển mà chúng tôi đã tham khảo, từ phở xuất hiện trong phở lở gồm có ba chữ (𡂄 và 㗞, đều thuộc bộ khẩu; 頗, thuộc bộ hiệt); còn từ phở trong bánh phở  có một chữ (普, thuộc bộ Nhật, âm Hán Việt là phổ); riêng từ phở với nghĩa là món phở thì gồm hai chữ Hán ghép lại: mễ 米+ phả 頗.
Những thí dụ trên cho thấy hai chi tiết đáng chú ý sau:
1/. Bánh phở bò : trong Từ điển nhật dụng thường đàm, mục Thực phẩm (食 品 門 Thực phẩm môn) có đoạn giải thích về “bánh phở bò” bằng chữ Nôm. Chúng tôi sắp xếp lại cho dễ đọc: “Chữ Hán: 玉 酥 餅 (âm Hán Việt: ngọc tô bính) giải thích bằng chữ Nôm: 羅 普 (là 羅 bánhphở 普 bò); tiếng Anh : rice noodle. Ta thấy gì ?
普 là một chữ Hán, đọc theo âm Hán Việt là phổ. Người Việt xưa đã mượn nguyên xi chữ này để tạo ra chữ Nôm đọc là phở.  Tuy nhiên, cách giải thích của Từ điển nhật dụng thường đàm khiến chúng tôi rất phân vân, bởi vì từ tiếng Anh rice noodle có nghĩa là phở, tức món phở mà ta đang bàn, song chữ Hán玉 酥 餅 (ngọc tô bính) lại nói về một loại bánh khác, vì trong đó  酥 có nghĩa là món ăn làm bằng bột nhào với dầu. Thí dụ: hồng đậu ngọc tô bính 红豆玉酥 (bánh ngọt nhân đậu đỏ), hạch đào tô 核桃酥 (bánh bột trái đào). Vậy từ phở 普 ở đây dùng để chỉ món phở hay bánh bột? Đây là điều cần phải xem lại.
2/. Theo Từ điển chữ Nôm của Hội bảo tồn di sản chữ Nôm (VNPF), hai chữ Hán: mễ米 (biểu ý) kết hợp với phả 頗 (biểu âm) tạo thành một chữ Nôm có nghĩa là phở(trong cơm phở)Đây là cách ghép từ rất đáng chú ý, vì mễ 米 có nghĩa là gạo, biểu ý cho món ăn chế biến từ gạo (bánh phở); còn phả 頗 đọc theo tiếng Hoa là “pho” hoặc “phỏ”, dùng làm từ biểu âm để tạo ra chữ phở là rất hợp lý.
Bây giờ, xét về ngôn ngữ, chúng ta xem thử những chữ Nôm phở (𡂄, 㗞, 頗, 普) có liên quan gì với chữ Hán phấn 粉 trong ngưu nhục phấn 牛肉粉 không, đặc biệt là chữ phở  trong món phở? Xin thưa, chẳng có liên quan gì cả. Nếu thật sự phở là từ đọc trại từ chữ phấn 粉, tại sao người Việt xưa không mượn nguyên xi chữ này để tạo ra chữ Nôm đọc là phở ? Vì điều này tiện hơn là mượn một chữ khác?  Nói rộng hơn, chữ Nôm  𤙭 trong phở bò cũng chẳng có liên quan gì tới chữ ngưu 牛 trong tiếng Hán.
Tóm lại, chữ Nôm phở hay phở bò  𤙭 cho thấy rằng người Việt xưa rất chủ động trong cách dùng từ, mục đích nhằm khẳng định rằng “phở” là một món ăn hoàn toàn Việt Nam, chẳng dính dáng gì tới ngưu nhục phấn 牛肉粉 của Trung Quốc.
Vậy phở có nguồn gốc từ đâu ?
Chúng tôi ủng hộ quan điểm cho rằng phở có nguồn gốc từ món xáo trâu rất phổ biến ở miền bắc, đặc biệt là ở Hà Nội vào đầu thế kỷ 20. Để làm món này người ta chuẩn bị nguyên liệu : thịt trâu thái mỏng (ướp gia vị cho thấm), hành lá, hành ta (tím), tỏi, mỡ, rau răm cắt dài 1 đốt ngón tay, khế chua cắt ngang…Sau đó họ xáo (xào) thịt trong chảo khoảng 30 giây rồi đổ ra bát riêng, kế tiếp bỏ khế vào, đảo đều tới lúc khế chuyển sang màu trắng; rồi cho thịt, rau răm và hành vào, đảo cho tới lúc tỏa mùi thơm (khoảng một phút) ; cuối cùng họ chế nước vào, để lửa liu riu. Khi ăn, họ lấy bún cho vào bát, sau đó gắp vài miếng thịt trâu bày trên mặt bún rồi chan nước xáo thịt vào.
Nhìn chung, xáo trâu là món ăn thông thường ở các chợ nông thôn, xóm bình dân của Hà Nội ngày xưa. Trước năm 1884, việc nuôi bò ở miền bắc chủ yếu phục vụ cho nông nghiệp, người Việt chưa có thói quen ăn thịt bò, nhưng ít nhiều gì người Hà Nội cũng đã từng ăn món Ngưu nhục phấn do Hoa kiều bán rong trên đường phố.
Có nhà nghiên cứu cho rằng vào thời đó, thịt bò bị chê là nóng và gây nên chẳng mấy người mua, giá bán rất rẻ, chỉ có người Pháp mới ăn thịt bò. Và chính vì thế một số người bán xáo trâu mới chuyển sang bán xáo bò. Thật ra không phải vậy. Thịt bò thời đó khan hiếm và đắt tiền. Theo nhà nghiên cứu Vũ Thế Long, trước năm 1885 “các quan chức Tây còn không có đủ thịt bò mà ăn nói chi đến người Việt. Ngay cả đến những năm 40-50 của thế kỉ trước, khi phở đã khá thịnh hành và thành món ăn “gây nghiện” cho một tầng lớp người khá giả ở Hà Nội thì việc cung cấp thịt bò ở Hà Nội cũng không phải dư giả cho lắm. Trong bài Phở Gà, Nhà văn vũ Bằng đã phải thốt lên: “Ở Hà nội có hai ngày trong tuần mà những người “chuyên môn ăn phở” bực mình: thứ sáu và thứ hai. Hai ngày đó là hai ngày không có thịt bò. Anh nào nghiện thịt bò, nhớ thịt bò hai hôm ấy như gái nhớ trai, như trai nhớ gái”…”.
Nhìn chung, từ khi người Pháp vào nước ta, người Việt đã chịu ảnh hưởng phần nào thói quen ăn uống của người Pháp. Dân ta đã bắt đầu ăn khoai tây, súp lơ, su hào, cà rốt, bánh mì, bơ, phó mát…, đặc biệt là thịt bò. Những món ăn mới có thịt bò dần dần xuất hiện, đó là cháo bò và xáo bò… Xáo bò là một món “biến tấu” từ xáo trâu. Tuy nhiên, do thịt bò ăn với bún không hợp lắm nên người ta mới nghĩ ra cách ăn với những loại bánh khác, trong đó có loại bánh cuốn chay mỏng phổ biến ở Hà Nội rồi cuối cùng “sánh duyên” lâu dài với bánh phở.
Phải chăng, để phân biệt với món xáo bò, người ta đã nghĩ ra từ phở bò, xuất phát từ việc ăn bánh phở với thịt bò ? Nếu bánh phở  là từ xuất hiện trước món phở thì ta có quyền tin vào giả thuyết này. Và nếu đúng vậy thì phở là từ nằm trong bánh phở  chứ không phải do đọc trại  chữ phẳn 粉 theo giọng Quảng Đông.
Phần viết thêm
Trong từ điển Wikipedia bản tiếng Anh, Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… đều có mục riêng viết về phở và gọi đích danh là “Phở”, chứ không gọi bằng tên món ăn nào đó của Pháp hay Trung Quốc. Điều này cho thấy thế giới công nhận “phở” là một món ăn của Việt Nam. Riêng bản Trung văn, mục viết về phở có tựa đề là 越南粉 (Việt Nam phấn), cũng cho thấy rằng người Trung Quốc công nhận “phở” là món ăn Việt Nam. Do đặc điểm về ngôn ngữ, trong phần nói về nguồn gốc của từ phở, họ chú thích hình ảnh tô phở là 越 南牛肉粉 (Việt Nam ngưu nhục phấn), có thể dịch là “phở bò Việt Nam”. Viết như thế thì chấp nhận được. Nhưng có những website dạy tiếng Trung Quốc lại ngang nhiên giảng phở bò là Ngưu nhục phấn  牛肉粉 thì thật đáng báo động (!).
Chú thích : (1) Nguồn gốc và sự ra đời của phở của Vũ Thế Long. (2) Nguyễn Công Hoan. Nhớ và ghi về Hà Nội, NXB Trẻ 2004. (3) “Kỹ thuật của người An Nam” (tựa tiếng Pháp: “Technique du peuple Annamite”, tựa tiếng Anh : “Mechanics and crafts of the Annamites”) là một công trình nghiên cứu văn minh vật chất ở An Nam khoảng 100 năm về trước, chủ yếu phản ánh cuộc sống của người Hà Nội. Quyển này tập hợp 4577 bức tranh khắc, do Monsier Henri Oger (người Pháp) và những nghệ nhân người Việt Nam thực hiện trong hai năm (1908 – 1909), phát hành với số lượng hạn chế (60 bản). (Trần Vũ theo Wikipedia).