Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2019

FRIDAY THE 13TH

FRIDAY THE 13TH

Thứ 6 ngày 13 theo quan niệm Phương Tây là một ngày xui xẻo và kém may mắn. Rất nhiều người phải né tránh nó bởi đã có nhiều chuyện không vui xảy ra trong ngày này khiến họ kinh hãi và sợ sệt.


Người ta thậm chí còn đặt hẳn cho hội chứng sợ thứ 6 ngày 13 một cái tên, đó là "paraskevidekatriaphobia", trong đó "paraskevi" là thứ 6, "dekatria" là số 13 và "phobo" là nỗi sợ hãi (theo tiếng Hy Lạp).

Lịch sử của thứ 6 ngày 13 bắt nguồn từ tôn giáo

Thứ 6


Ngày thứ 6 cũng “chịu tiếng xấu” khi xuất hiện trong rất nhiều truyền thuyết. Adam và Eva bị đuổi khỏi vườn địa đàng vào ngày thứ 6, sau khi nếm thử Trái Cấm. Trận Đại hồng thủy Chúa dùng để trừng phạt loài người xảy ra vào thứ 6, ngôi đền của Solomon bị hủy diệt vào ngày thứ 6, và không thể không kể đến, ngày Chúa Jesus bị đóng đinh vào cây thánh giá cũng chính là ngày thứ 6.

Ngày 13


Con số 13 cũng bắt nguồn từ một truyền thuyết của Na Uy về 12 vị thần dự tiệc tại thiên đường Valhalla. Khi đó một vị khách không mời thứ 13 xuất hiện, thần tinh quái Loki. Tại đó, Loki đã ngầm liên kết với Hoder, thần bóng tối, bắn thần Balder xinh đẹp, vị thần mang lại niềm vui và hạnh phúc, bằng một mũi tên tẩm độc tầm gửi. Balder chết và cả trái đất chìm trong bóng tối và tang tóc. Đó là một ngày đen đủi, bất hạnh.

Nỗi sợ con số 13 thể hiện rõ trong thế giới hiện đại ngày nay. Hơn 80% các toà nhà cao tầng không có tầng 13. Nhiều sân bay bỏ qua cổng thứ 13. Bệnh viện, khách sạn thường xuyên không có phòng 13.

Với sự xui xẻo và điềm xấu với như vậy thì khi hai điều đó kết hợp với nhau, thứ 6 ngày 13 đã tạo nên một nỗi sợ hãi lớn.


Hiện tượng ba thứ sáu ngày 13 trong một năm chỉ xuất hiện 11 năm một lần. Đó là tuyên bố của nhà toán học Thomas Fernsler của Đại học Delaware (Mỹ), người đã nghiên cứu con số 13 trong hơn 20 năm.


Một trong những nguyên nhân khiến 13 phải chịu tai tiếng chính là vì nó đứng sau số 12. Các chuyên gia về toán luôn coi 12 là con số trọn vẹn: 12 tháng trong năm, 12 vị thần trên đỉnh Olympus, 12 cung hoàng đạo, 12 con giáp, 12 tông đồ của Chúa Jesus.


Thứ 6 ngày 13/9/1940, 5 quả bom của phát xít Đức rơi trúng cung điện Buckingham và phá hủy nhà thờ trong cung điện.

Một số câu chuyện liên quan tới “ngày nổi tiếng”

Hải quân hoàng gia Anh từng đóng một con tàu có tên Friday the 13 (thứ sáu ngày 13). Con tàu ra khơi lần đầu vào một thứ sáu ngày 13, và không bao giờ quay trở về nữa.

Con tàu Apollo 13 được phóng vào 13h13 ngày 11/4/1970 để thực hiện sứ mệnh đổ bộ lên Mặt trăng lần thứ ba. Tổng của hai số cuối trong ngày, tháng, năm khởi hành của nó (4-11-70) là 13 (4+1+1+7+0 = 13). Tàu hứng chịu một vụ nổ vào ngày 13/4/1970 (không phải thứ sáu) và phi hành đoàn buộc phải quay trở về Trái đất.


Butch Cassidy, một trong những tên cướp nhà băng và tàu hỏa khét tiếng nhất nước Mỹ, chào đời vào thứ sáu ngày 13/4/1866.

Tổng thống Franklin D. Roosevelt của Mỹ không bao giờ đi đâu vào ngày 13 của mọi tháng và cũng chẳng bao giờ tiếp 13 khách trong một bữa tiệc. Thiên tài quân sự Napoleon Bonaparte và tổng thống Herbert Hoover (Mỹ) cũng sợ con số 13.

Napoleon Bonaparte cũng sợ con số 13

Nhà văn Mark Twain từng là vị khách thứ 13 trong một bữa tiệc. Một người bạn khuyên ông không nên đi. Mark Twain làm theo và sau đó giải thích với bạn bè như sau: “Thật không may, họ chỉ có đủ thức ăn cho 12 người”.


Woodrow Wilson, vị tổng thống lãnh đạo nước Mỹ trong Thế chiến thứ nhất, coi 13 là con số may mắn của ông dù thực tế chứng minh điều ngược lại. Ông tới Normandy (Pháp) vào ngày 13/12/1918 để đàm phán hòa bình để rồi trở về với một bản hiệp ước mà quốc hội không thông qua. Trước đó thủy thủ đoàn khuyên ông lùi ngày cập bến nước Pháp nhưng ông không đồng ý. Sau đó Woodrow Wilson đi khắp nước Mỹ để kêu gọi người dân ủng hộ hiệp ước, nhưng suýt mất mạng vì đột quỵ trên đường đi.

Điện Buckingham bị đánh bom vào thứ 6 ngày 13/9/1940, vua George VI và nữ hoàng Elizabeth đã suýt thiệt mạng. Một người đã không qua khỏi và nhà nguyện của cung điện bị phá hủy.

Một máy bay của Chile "mất tích" trên dãy Andes vào thứ sáu ngày 13/10/1972.

Ca sĩ nhạc rap Tupac Shakur qua đời vào thứ sáu ngày 13/9/1996 sau khi bị bắn trước đó 6 ngày. Du thuyền Costa Concordia đâm vào bờ ở bờ tây Italy vào thứ sáu ngày 13/9/1996, khiến 30 người thiệt mạng.


Năm 1976, Daz Baxter (New York, Mỹ) quyết định ở trong nhà vào thứ sáu ngày 13 để tránh xui xẻo. Tuy nhiên, ông đã thiệt mạng do sàn căn hộ sụp xuống vào đúng ngày này. Năm 2010, một cậu bé 13 tuổi đã bị sét đánh vào thứ sáu ngày 13, lúc 13h13.

Những hình ảnh trên tờ 1 USD bao gồm 13 bậc thang trên kim tự tháp, 13 ngôi sao trên đầu con đại bàng, 13 lá trên cành ô liu. Nhưng chưa có bằng chứng khoa học nào cho thấy những hình ảnh này gây nên tình trạng suy thoái kinh tế hiện nay.

Cơ sở khoa học

Nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc ĐH Connecticut ở New London cho rằng, chính sự tin tưởng quá mức dẫn tới mê tín trong niềm tin từ thời xưa mà nhiều người đã dần phát triển một nỗi sợ "mặc định" về nỗi sợ hãi mang tên thứ 6 ngày 13.


Giáo sư tâm lý học Stuart Vyse thuộc trường ĐH Connecticut nhận định: "Nếu không ai nói với chúng ta về những điều mê tín, cấm kỵ tiêu cực trong thứ 6 ngày 13, hẳn nhiều người không cảm thấy lo lắng và vẫn làm tốt mọi việc như ngày thường. Không những thế, nỗi sợ hãi này còn được đưa vào các bộ phim, nhiều cuốn sách, câu chuyện... nên càng khiến cho nỗi ám ảnh đó thêm mạnh mẽ".


Nhà nghiên cứu Rebecca Borah thuộc ĐH Cincinnati (Mỹ) cũng nhận định: "Chính sự mê tín trong suốt nhiều thế kỷ qua đã khiến con người tạo thành một thói quen sợ hãi. Hiện tại, chúng ta vẫn tiếp tục thừa nhận, tin vào sự đen đủi sẽ xảy đến vào thứ 6 ngày 13. Chính thói quen, nếp suy nghĩ đó đã khiến cho sự sợ hãi về thứ 6 ngày 13 tồn tại trong tâm trí mỗi người, khiến chúng ngày một bền vững".

Như vây, theo lý giải của các nhà khoa học, chính nỗi sợ bên trong mỗi con người đã khiến cho chúng ta cảm thấy lo lắng hơn khi ngày này đến.


Thứ 6 ngày 13 theo quan niệm Phương Tây là một ngày xui xẻo và kém may mắn. Rất nhiều người phải né tránh nó bởi đã có nhiều chuyện không vui xảy ra trong ngày này khiến họ kinh hãi và sợ sệt.

Andy
(Sưu tầm trên mạng)

Vĩnh Bảo sưu tầm 15/9/2019

NHỮNG HÌNH ẢNH HOÀI NIỆM VỀ TẾT TRUNG THU XƯA

NHỮNG HÌNH ẢNH HOÀI NIỆM VỀ TẾT TRUNG THU XƯA

Chùm ảnh này nằm trong một bộ sưu tập của Viện Viễn Đông Bác cổ của Pháp (École Francaise d’ Extrême – Orient), hiện lưu tại Thư viên Khoa học Xã hội. Đó là những tấm ảnh chụp về những sinh hoạt trong ngày Tết Trung thu cách đây chừng 70, 80 năm, những hình ảnh ở đầu thế kỷ XX khi đời sống đô thị đã hình thành tạo ra những nét sinh hoạt thời cận đại.


Tết Trung Thu đối với trẻ nhỏ trước hết là những bánh trái đặc trưng bởi hai món chính là bành dẻo và bánh nướng mà tập trung nhất là trên các cửa hàng ở phố Hàng Đường (của người Việt) và Hàng Buồm (của Hoa kiều). Điều hấp dẫn đối với lũ trẻ là đứng nhìn những người thợ đóng bánh ngoài quầy tạo nên những âm thanh rộn ràng khi khuôn bánh gõ mạnh trên mặt bàn theo những nhịp điệu khoan nhặt rất đặc trưng trên đường phố.

Trẻ con tò mò nhìn những người thợ làm bánh Trung thu

Sau bánh trái là những đồ chơi mà tiêu biểu nhất là các loại đèn được thắp sáng trong đêm Trung Thu khi đợi trăng lên hay rước rong ngoài phố. Những cửa hàng bán các loại đèn làm bằng nan lợp giấy bóng kính hình các con vật mà nhiều nhất là thỏ và cá. Ngoài ra còn các loại đèn lồng xếp bằng các loại giấy màu và cầu kỳ nhưng cũng gây hấp dẫn nhất là đèn kéo quân với rất nhiều tích truyện được thể hiện bằng những bóng hình xoay tròn nhờ sức nóng của những ngọn nến tạo ra những luồng khí đẩy những cái vòng quay tròn theo trục đèn. Các loại đèn này tập trung nhiều trên phố Hàng Mã những còn được bày bán ở Hàng Gai…

Đèn lồng xếp bằng nhiều loại giấy màu sắc cầu kỳ


Đèn kéo quân cũng thu hút trẻ con


Ngắm nghía những cái đèn (hình con cua) được người lớn mua cho là cái thú âm ỉ đối với lũ trẻ trong những ngày chờ Trung Thu đến


Lại thêm “ông tiến sĩ giấy” gửi gắm lòng cầu mong của đấng sinh thành đối với con cái của mình lấy danh vị “tiến sĩ’ làm mơ ước. Có người bảo rằng cái ông tiến sĩ bằng giấy có bộ mặt non choẹt nhưng đáng yêu ấy chính là hình ảnh ông Trạng trẻ Nguyễn Hiền có thật trong lịch sử.

Chắc từ thời Tây sang mới có một loại đồ chơi mới vì nó làm bằng một thứ vật liệu được gọi là “sắt Tây”. Nó có thể cắt ra từ những tấm kim loại hoặc tận dụng các loại bao bì bằng sắt Tây như hộp sữa bò, thùng dầu hoả… Cái khéo léo của người thợ trên phố Hàng Thiếc với cái kéo cắt săt và những mỏ hàn bằng thiếc tạo ra những con giống đặt trên các bánh xe và nhờ những liên kết khéo léo của các tay đòn bằng giây thép cứng mà nó cử động được như con thỏ đánh trống hay con bướm đập cánh. Rồi hợp với thời thượng là những chiếc ôtô, tàu bay bên cạnh cái xe kéo cũng mới có từ khi Tây sang. Xem kỹ ảnh thấy rất nhiều đồ chơi loại này, nào là Hai bà cưỡi voi, vinh quy bái tổ, con lân, con phượng , Tôn Ngộ Không và rất nhiều nhân vật làm hình nhân.

Đồ chơi bằng thiếc từ ô tô xe kéo

Đến con lân, con phượng, Tôn Ngộ Không, Hai Bà cưỡi voi…

Nhưng có thể nói cái gây hứng thú nhất cho lũ trẻ là những chiếc tàu thuỷ làm bằng sắt Tây bên trong có cái phao dầu khi đốt cháy đẩy khí nóng thổi mạnh vào nước kêu “pành- pạch” đẩy con tàu về phía trước và trong những cái chậu tôn được lũ trẻ hình dung là biển cả. Hẳn là món đồ này có muộn hơn thời điểm chụp những tấm ảnh này.

Còn những lũ trẻ năng động nhất thì thích ở ngoài đường với cái đầu sư tử bồi bằng giấy. Chúng hợp thành những đoàn có trống, xèng xèng và thế nào cũng có một chú phỗng múa may làm vui. Chúng múa chơi đôi khi đòi những cửa hàng nơi chúng đến múa phải treo giải…

Múa lân vẫn là hoạt động được lũ trẻ yêu thích

Cuối cùng là cái phút chờ đợi nhất, trong sự ấm cúng của gia đình xoay quanh nơi bày cỗ. Những món đồ ăn và đồ chơi được bày biện trong nhà hay ngoài trời phô bày sự chăm sóc của gia đình với con trẻ trong ngày Tết được chờ đợi nhất trong năm, lại vào lúc tiết trời đẹp nhất: gió mát trăng trong.

Bàn cỗ Trung thu với nhiều bánh trái, hoa quả

Chưa thật đầy đủ, nhưng những tấm ảnh này giúp bạn trẻ biết được cảnh xưa và người già có dịp hồi nhớ quá khứ và so sánh với Trung thu hôm nay
Nguồn: rgb.vn; kienthuc.net.vn, chimkudopro

Vĩnh Bảo sưu tầm 15/9/2019

PHU NHÂN VUA BẢO ĐẠI

PHU NHÂN VUA BẢO ĐẠI


Những bức ảnh Nguyễn Hữu Thị Lan thời còn là thiếu nữ và là nữ sinh du học tại Pháp, bà được sinh ra tại tỉnh Gò Công, ngày nay là tỉnh Tiền Giang trong một gia đình giàu có bậc nhất Nam-Kỳ, bà là con của đại điền chủ Nguyễn Hữu Hào và là cháu ngoại của ông Huyện Sỹ – Lê Phát Đạt, ông Huyện Sỹ, người đứng đầu nhóm tứ đại phú hộ Sài Gòn xưa với câu ví von “nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”.


Xin quý vị lưu ý tên thật của bà là Nguyễn Hữu Thị Lan chứ không phải là Nguyễn Thị Hữu Lan nhé, những tấm ảnh thời trẻ của bà dưới đây rất hiếm và lúc này bà vẫn chưa lấy vua Bảo Đại.


– Trong một bữa tiệc khi mới gặp được cô nữ sinh Nguyễn Hữu Thị Lan thì vua Bảo Đại viết lại: “Lan có một vẻ đẹp thùy mị của người con gái miền Nam, hiền lành và quyến rũ làm tôi say mê.”


Tên thánh là Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh năm 1914, con của một gia đình hào phú vùng Nam Bộ ở huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường nay thuộc thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang ngày nay.


Ông ngoại của bà là Lê Phát Đạt – người giàu nhất Nam-Kỳ đầu thế kỷ 20, lúc còn trẻ, Nguyễn Hữu Thị Lan đã nổi tiếng bởi dáng người cao, xinh đẹp, lại có học thức. Năm 12 tuổi bà đã sang Paris, Pháp, học ở trường Couvent des Oiseaux. Đến năm 18 tuổi (1932), có sách ghi rằng bà đậu tú tài rồi về nước.


Nếu đây là sự thật thì quả là điều hiếm có với người phụ nữ Việt vào thời đó. Nhưng về vấn đề này, vua Bảo Đại chỉ ghi là: “Elle vient de terminer ses études au Couvent des Oiseaux, en France”, có nghĩa là “cô ấy vừa mới kết thúc học tập tại trường Couvent des Oiseaux, Pháp”, năm 1933, Nguyễn Hữu Thị Lan gặp vua Bảo Đại và một năm sau thì tổ chức lễ cưới.


Có nhiều người cho rằng trước khi gặp vua Bảo Đại, bà đã 3 năm liền là hoa hậu Đông Dương, tất nhiên, dù không phải hoa hậu, Nguyễn Hữu Thị Lan vẫn sở hữu nhan sắc và sự thùy mị khiến vua Bảo Đại say mê…
SÀI GÒN XƯA
Vĩnh Bảo sưu tàm 15/9/2019

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2019

ÍCH KỶ LÀ NGUỒN GỐC CỦA ĐỐ KỴ

ÍCH KỶ LÀ NGUỒN GỐC CỦA ĐỐ KỴ

Sự ích kỷ dường như đã nằm sẵn trong bản ngã của con người ngay từ lúc mới sinh ra. Và khi biết nhận thức thì cái mầm ích kỷ đó cũng bắt đầu trỗi dậy. Tốc độ phát triển của cái mầm ấy nhanh hay chậm tùy thuộc vào bản lĩnh, khả năng kiểm soát bản thân của mỗi người.


Khi người khác có được điều gì đó tốt hơn mình, nhiều hơn mình, người ta đố kỵ.
Khi người khác có được điều mà chính mình mong muốn, người ta đố kỵ.
Cấp độ của sự đố kỵ tỷ lệ thuận với sự ích kỷ trong con người. Sự ích kỷ càng lớn, người ta càng đố kỵ với những điều nhỏ nhặt hơn, với tất cả mọi thứ mà người ta “hơn” mình…

Cũng chỉ bởi một chữ “hơn”! Người ích kỷ thường không mong muốn ai hơn mình, luôn muốn mình có .được nhiều người yêu mến hơn, được những điều tốt đẹp nhất .

Một trong những điều gây ra cái “khổ” cho con người chính là do họ thích quan tâm đến chuyện người khác rồi đem so sánh với mình… Mà tất cả mọi sự so sánh vốn khập khiễng, người ta mấy ai hài lòng về bản thân và lòng tham thì lại là không đáy.


Sự đố kỵ chính là một “cái khổ” của con người! “Nhìn lên thì chẳng bằng ai…”, những người ích kỷ, hay đố kỵ lại chỉ nhớ vế này mà quên mất vế sau: “nhìn xuống chẳng ai bằng mình”. Nếu họ cứ suốt đời đi so sánh để rồi thấy mình thua đường này, kém đường kia thì không bao giờ họ có thể hài lòng và sống thanh thản, hoàn toàn vui vẻ được.

Xóa bỏ được sự đố kỵ, lòng ích kỷ cũng chính là xóa bỏ cái “khổ” cho bản thân. Để chữa lành “căn bệnh” đố kỵ, cần triệt tiêu cái gốc rễ “ích kỷ”. Mỗi con người cần biết tiết chế bản thân, tiết giảm dần lòng ích kỷ và thay thế vào đó sự vị tha, cao thượng, phóng khoáng… Nên mừng cho người khác khi họ có được may mắn, đạt được những điều tốt đẹp…


Cần nhìn những thứ người khác hơn mình để làm mục tiêu phấn đấu, vươn lên cho chính bản thân chứ không phải nhìn vào đó mà ghen ghét, đố kỵ và mong cho họ mất đi những điều đó, thậm chí mong lấy được những thứ đó từ tay họ. Nếu khả năng không thể cố gắng, hãy cố học cách hài lòng với những gì mình có.

Vậy, ta sẽ lựa chọn dứt bỏ cái khổ của sự “đố kỵ” hay cứ giữ lấy nó như một căn bệnh, dù cho mình biết thuốc chữa?

Nguyễn Hương

Vĩnh Bảo sưu tầm 12/9/2019

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2019

DỤC VỌNG LÀ CẠM BẪY ĐÁNG SỢ NHẤT TRÊN ĐỜI

DỤC VỌNG LÀ CẠM BẪY ĐÁNG SỢ NHẤT TRÊN ĐỜI

Con người có “thất tình lục dục”. Những dục vọng (ham muốn, thèm muốn) ấy có nguồn gốc từ nhiều mặt: đồ ăn, vật chất, danh vọng, sắc dục và quyền lực…Nếu một người không biết cách kiềm chế dục vọng của mình thì có thể sẽ găp phải hậu quả gì? Hãy cùng đọc câu chuyện dưới đây để biết về nỗi đáng sợ của dục vọng!


Một đoàn thám hiểm núi tuyết ở Mỹ trong một lần công khai tuyển chọn thành viên đã tiến hành một số vòng kiểm tra. Trưởng đoàn thám hiểm là Mark, là người kiểm tra 15 người ở vòng cuối cùng. Đứng trước các ứng viên, ông nói: “Vòng kiểm tra cuối cùng là phần trắc nghiệm về tâm linh. Chỉ người nào vượt qua vòng thi khảo sát về tâm linh này thì mới trở thành một thành viên xuất sắc của đoàn thám hiểm. Vì vậy, tất cả các ứng viên còn lại đều phải trải qua vòng thi này.”

Sau khi thông báo xong, Mark yêu cầu một thành viên khác trong đoàn dẫn 15 ứng viên này đến một phòng bên cạnh, sau đó gọi lần lượt từng người một vào trong phòng để hỏi đáp.

Người thứ nhất bước vào phòng, Mark hỏi: “Chàng trai trẻ! Nếu như hiện tại trước mặt bạn là đỉnh núi tuyết, nhưng mà lại có một người khác đang ở gần đỉnh núi rồi, tức là có thể người đó sẽ lên đỉnh núi đầu tiên và bạn chỉ là người về đích thứ hai mà thôi. Lúc đó, bạn sẽ làm thế nào?



Chàng trai trẻ nghe xong trả lời: “Chẳng phải là chỉ còn vài bước chân thôi sao? Tôi sẽ dùng hết sức mình tăng tốc độ để vượt qua hắn ta và trở thành người đầu tiên lên đến đỉnh.”

Mark nghe xong câu trả lời liền lắc đầu nói: “Chàng trai! Rất tiếc, cậu không thích hợp làm thám hiểm viên núi tuyết rồi!”

Chàng trai nghe xong rất không hài lòng, liền hỏi: “Tại sao?”

Mark không trả lời ngay mà nói: “Lát nữa tôi sẽ cho cậu đáp án, cậu có thể ra ngoài chờ được rồi!”

Ứng viên thứ nhất thất vọng, bất đắc dĩ đành phải bước ra ngoài.

13 người đam mê thám hiểm núi tuyết tiếp theo đều có cùng câu trả lời giống như người thứ nhất, tức là đều cố gắng vượt qua đối thủ để trở thành người leo lên đỉnh đầu tiên.

Ứng viên cuối cùng cũng là một cậu thanh niên trẻ tuổi, thân thể cường tráng không kém 14 người trước bước vào phòng. Sau khi Mark lặp lại câu hỏi ban đầu, cậu thanh niên bình tĩnh đáp: “Như vậy cũng không sao cả! Tôi sẽ để cho họ làm người đầu tiên lên núi và mình là người thứ hai!”



Mark ngạc nhiên hỏi lại: “Tại sao?”

Cậu thanh niên trả lời: “Tôi không muốn tranh giành ai là người thứ nhất, ai là người thứ hai. Tôi chỉ muốn leo lên núi tuyết mà thôi. Bất kể là người thứ mấy đi nữa, tôi chỉ là mong muốn dùng đôi chân của mình chạm đến đỉnh núi tuyết là được rồi. Đó cũng chính là mục tiêu của tôi!”

Lúc này, trưởng đoàn Mark tươi cười nói: “Chúc mừng cậu! Cậu nhất định có thể từ trên đỉnh núi tuyết mà trở về. Cậu là người duy nhất trúng tuyển đợt này của chúng tôi.”

Những người còn lại nhìn Mark vừa khó hiểu vừa như bất bình.

Trưởng đoàn Mark hiểu ra nỗi băn khoăn của mọi người nên đã nói: “Tôi đã gần như gắn bó cả đời mình với núi tuyết rồi! Núi tuyết không phải là nơi phố xá sầm uất, cũng không phải là một vùng đồng bằng mà là một nơi lạnh giá, nhiệt độ luôn là âm mấy chục độ. Không khí ở đó vô cùng loãng, mỗi một hơi thở đều vô cùng khó khăn. Ngay dưới chân mỗi người đều là cạm bẫy cận kề cái chết. Nếu như các bạn muốn vượt qua người thứ nhất thì ắt sẽ phải tăng tốc độ thật nhanh, như thế bạn nhất định sẽ bị thiếu khí oxy mà ngạt thở. Cuối cùng, bạn nhất định sẽ bị trượt ngã xuống sông băng lạnh buốt.”



Mark vừa để lộ ra vẻ mặt bi thương vừa nói: “Kỳ thực, có rất nhiều nhà thám hiểm núi tuyết không phải vì không đủ thể lực hay kỹ thuật có vấn đề, mà là vì dục vọng trong nội tâm trỗi dậy mà đã phải vĩnh viễn ở lại nơi đó. Dục vọng chính là cạm bẫy đáng sợ nhất trên đời!”

Trong cuộc sống chẳng phải cũng giống như vậy sao? Nếu trong lòng người chất chứa quá nhiều dục vọng về công danh lợi lộc thì mấy ai có thể leo lên được đỉnh cao của cuộc đời? Chỉ có một số người không so đo danh lợi, không bị gánh nặng về tâm linh mới có thể an toàn lên đến đỉnh của cuộc đời, đạt đến độ cao nhất của sinh mệnh.

Theo NTDTV
Mai Trà biên dịch

Vĩnh Bảo sưu tầm 10/9/2019

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2019

Phở Việt kiều Mỹ nấu là phở ngon nhất, ngon hơn phở danh tiếng Hà Nội?

Phở Việt kiều Mỹ nấu là phở ngon nhất, ngon hơn phở danh tiếng Hà Nội?

Theo nhà nghiên cứu Trịnh Bách, phở ngon nhất là trong các tiệm phở của Việt kiều tại Mỹ.
 
 
Tô phở do Pho 79 chế biến
 /// Ảnh chụp màn hình Eater Los Angele
Tô phở do Pho 79 chế biến
Ảnh chụp màn hình Eater Los Angele
Nhiều năm sống ở nước ngoài, rồi lại trở về Việt Nam, nhà nghiên cứu văn hóaTrịnh Bách có nhiều trải nghiệm về phở. Ông cho rằng phở ngon nhất chính là phở trong các tiệm phở của Việt kiều tại Mỹ.
“Lúc đầu tôi nghĩ phở ở Pháp sẽ ngon vì có nhiều người Bắc qua Pháp năm 1954. Nhưng sau đó ăn thì thấy không ngon bằng phở ở Mỹ. Phở ở Mỹ rất ngon. Ngon nhất. Phở Pháp thường thường. Tuy nhiên, phở Mỹ ngon theo lối Sài Gòn”, ông Bách nói.
Phở Việt kiều Mỹ nấu là phở ngon nhất, ngon hơn phở danh tiếng Hà Nội? - ảnh 1
Tô phở Việt ở Dubai
Ảnh Nguyễn Hữu Tài
Điều này có vẻ trái ngược với quan điểm truyền thống là phở Bắc mới ngon nhất nhờ tính nguyên bản của mình. “Phở Bắc chất nêm khác. Nước dùng có tiểu hồi, đại hồi, quế, tiêu. Phở Nam có đinh hương vào, và có thêm rau thơm cũng như tương đen tương đỏ. Thứ nữa, phở truyền thống Bắc có hành nướng đen vỏ để tạo mùi và màu”, ông Bách nói.
Đó là về phở bò. Còn phở gà ông Bách cũng chia sẻ hàng phở gà ngon nhớ đời trước đây lại ở Chợ Đầm, Nha Trang. Đó là một người Bắc di cư vào Nha Trang. “Ông đó gọi là ông Bất. Phở nấu nước bằng xương lợn và xương gà. Phở gà truyền thống cũng không cho lá chanh. Thay vì lá chanh rắc người ta cho quế vào nước dùng, bỏ hoa hồi thảo quả. Quế sẽ thay vị chanh mà gà luộc có. Riêng phở gà ngon ở Mỹ thì ngon hơn hẳn phở Hà Nội”, ông Bách nói.
Phở ở Pháp, theo ông Bách cũng là phở Nam. “Vô đến Sài Gòn là hết vị phở Bắc rồi. Và khi sang Pháp sang Mỹ thì những người sang đó đều ăn theo vị phở Nam.”, ông cho biết. Theo ông, không chỉ có phở mà cả bánh cuốn cũng vậy. Vào đến Sài Gòn, bánh cuốn Bắc cũng đã thay đổi như thêm giá…
Về bánh phở, ông Bách nói cũng không có gì chênh lệch giữa tiệm phở ở Mỹ và trong nước. Đó là do ở nước ngoài, bà con Việt Kiều cũng có xưởng làm bánh phở. Còn ở tư gia thì bà con lại phải ăn bánh phở khô, nó sẽ kém ngon hơn bánh phở tươi. “Bánh phở làm không khó nên xưởng bánh ở nước ngoài làm cũng ngon”, ông nói.
Phở Việt kiều Mỹ nấu là phở ngon nhất, ngon hơn phở danh tiếng Hà Nội? - ảnh 2
Chất lượng thịt bò là điểm yếu của phở trong nước so với phở ở nước ngoài
Ảnh Ngọc Thắng
Hiện tại, ông Bách cho biết, bát phở ở Mỹ đã thiên biến vạn hóa. Họ cho cả đuôi bò, cả sách bò trần vào. “Thay vì thịt bò thì họ cho thịt đuôi bò. Vô tiệm phở ở Mỹ nhìn menu thấy nào sách, nào gàu, nào bò kho, nào bò viên… Còn nước vẫn phải theo đúng quy tắc làm sao để nước không có vẩn. Nghĩa là quá trình nấu nước dùng không được đậy vung. Nhìn vô phải cảm thấy màu đẹp”, ông nói. Bát phở Mỹ cũng rất to, do các suất ăn ở nước này cũng thường lớn.
Lý giải việc phở Mỹ ngon hơn, theo ông Bách, một phần là do cạnh tranh. Ở Mỹ số lượng hàng phở phải gấp ba chục lần tại Pháp. “Có cạnh tranh. Có so sánh nên phở cũng dễ ngon hơn. Thứ nữa, ở Pháp người nấu phở tay ngang. Việt kiều tại Pháp đi hồi 1954 chủ yếu là trí thức, không phải người làm nấu ăn. Họ kẹt thì mới mở tiệm. Họ nấu ăn nấu cỗ thì chứ đâu có nấu phở. Còn những người Bắc nấu phở sau di cư vào Sài Gòn rồi sang Mỹ hồi 1975 thì có nghề phở. Bún bò Huế ở Mỹ cũng rất ngon. Đó là do luồng di cư”, ông Bách phỏng đoán. Chưa kể, theo ông Bách, chất lượng thịt bò ở Mỹ, Pháp cũng tôn chất lượng phở nên rất nhiều.
Có một điểm nữa, khách ăn phở ở Mỹ cũng thể dùng trà đá đi kèm. Đây cũng là thói quen ăn uống của người miền Nam. “Từ trước ở Sài Gòn, nếu ăn phở sẽ được mời tách trà phổ nhĩ. Nhưng giờ ở Mỹ thì có thể gọi trà hộp, trà nhài”, ông Bách nói
Vĩnh Bảo sưu tầm 9/9/2019

PHỐ CỦA THÀNH PHỐ

PHỐ CỦA THÀNH PHỐ

Bài viết này của nhà văn Bình Nguyên Lộc đăng lần đầu trên báo Nhân Loại năm 1957, sau đó được in trong tập truyện Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc, xuất bản năm 1966. Đây là một tản văn thú vị về tên đường phố Sài Gòn thời điểm đó, xin mạn phép đăng lại để mọi người cùng nhớ và góp chuyện cho vui.


Đi trên đại lộ Hai Bà Trưng tôi bỗng sực nhớ lại một điều rồi tủi thân cho bọn đàn ông của ta. Là hễ đàn ông được danh vọng thì đàn bà cũng thơm lây, nhưng khi đàn bà nổi danh thì tên tuổi đàn ông chìm sâu thêm.

Đành rằng ông Thi Sách chỉ có mỗi một cái công nhỏ đối với nước nhà là bị viên thái thú Tàu giết thôi, nhưng quên mất ông ấy cũng tội.

Vậy nên tôi đã đi khắp Sài Gòn để tìm xem có con phố nào là phố Thi Sách không? Có. Hoan hô quí vị đặt tên đường đã nhớ dai hơn nhân dân.

Nhưng mà tội quá, ông Thi Sách ở mãi bên kia nhà thương Đồn Đất, ở xóm ngoại nhân, không bao giờ có người Việt bước chân đến. Ông nầy đã chết vì tay ngoại nhân mà hương hồn ngày nay vẫn lẩn quẩn với ngoại nhân.

Ông Thi Sách và Hai Bà Trưng chạy song song với nhau cho tới mé nước, và không bao giờ gặp nhau cả, đó cũng là một điểm đáng buồn cho cặp vợ chồng ấy.

Ông Nguyễn Thái Học mà còn ngậm cười được vì đã gặp Cô Giang, Cô Bắc ở hai ngã ba chợ Cầu Muối, đằng nầy ông chồng Bà Trưng chỉ nghe văng vẳng tiếng bà đâu đó thôi.

Bà Sương Nguyệt Ánh cũng không bao giờ đi thăm cha được, vì bà ở xóm Bùi Chu còn cụ đồ lại qui điền mãi tận trên Tân Định.

Vị nữ anh hùng thứ nhì của ta, Bà Triệu cũng bị ta quên mất vì bà cũng ở xóm ngoại nhân, trong Chợ Lớn.

Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng đô thành đặt tên rất khéo, Công chúa Huyền Trân ở một căn phố buồn hiu, sau dinh Độc Lập, buồn như con đường thiên lý ngàn dặm băng rừng đưa công chúa từ Việt sang Chiêm.

Còn cái phố có nhiều tiệm mì, tiệm ăn và tửu lâu trong Chợ Lớn mà đặt tên là phố Tản Đà thì tuyệt diệu bởi vì Tản Đà không phải là thi sĩ mà thôi, lại còn là thực sĩ nữa.

Nếu đô thành có bất công chút ít, chẳng qua là vì quên đó thôi. Chẳng hạn như ông Phan Huy Chú được nêu danh trong Chợ Lớn mà ông Phan Huy Vịnh lại không.


Đô thành lại trọng văn nghệ lắm. Không có nhà văn, nhà thơ nào ngày xưa mà không được lấy tên đặt tên phố cả, khiến lũ văn nhân thi sĩ hậu sanh là ta đây cũng nức lòng muốn cố gắng để có thể được biệt đãi như thế về sau.

Chỉ phiền văn nhân thi sĩ của thế hệ ta đông quá, mà đường phố chỉ có hạn thôi, dễ gì tìm được một chỗ “mần”.

Có một điều đáng chú ý là họ Nguyễn chiếm đa số trong các phố Sài Gòn. Dân tộc ta họ Nguyễn cũng như dân tộc Pháp họ Dupont vậy mà!

Một người Pháp quen biết kể chuyện rằng thuở Đức chiếm đóng nước Pháp, một khi kia quân đội Đức bố ráp ở một ngoại ô nhỏ tại Ba Lê để bắt ông Dupont nào đó. Cuộc bố ráp thi hành xong thì chúng bắt được tất cả tám trăm mười bảy ông Dupont, vừa già, vừa trẻ, đó là chúng đã loại trừ những cậu Dupont oắt con ra rồi đó.

Một cựu thông ngôn nhà binh Pháp ở đây cũng kể rằng một khi kia Pháp ruồng bố ở làng nọ để bắt Nguyễn Thị Hai nào đó. Chỉ một làng ấy thôi, mà họ đã bắt đến bốn mươi tám Nguyễn Thị Hai chẵn chòi.

Vậy thì họ Nguyễn chiếm đến 55 con phố ở Sài Gòn – Chợ Lớn không phải là chuyện lạ. Đó là chưa kể những bà Sương Nguyệt Ánh v.v… cũng là họ Nguyễn mà không nêu họ ra. Bà Đoàn Thị Điểm cũng có người bảo thật ra là Nguyễn Thị Điểm, và biết đâu cô Giang, cô Bắc lại không là họ Nguyễn.

Họ Nguyễn được ưu đãi như thế, còn họ Tô không biết vì sao lại ra rìa. Năm kia trên Hòa – Hưng có một con phố tên là Tô Hiến Thành. Năm nay không thấy tên phố đó nữa.

Ngoại nhân có công với dân tộc cũng được nêu danh, cho công bằng. Nhưng không hiểu ông J.J Rousseau có công trực tiếp gì với dân tộc ta. Còn ba ngoại nhân khác rất có công là Tích Quang, Nhâm Diên, và Sĩ Nhiếp lại vắng bóng.

Sài Gòn có một con phố cong queo một cách rất ngộ nghĩnh, được đặt tên là phố Cống Quỳnh. Thật là khéo, vì cách lập luận và hành động của ông Cống Quỳnh cũng cong cong quèo quẹo như con phố kỳ dị ấy. Tiếc rằng Cống Quỳnh có lẽ chỉ là một nhân vật tưởng tượng thôi.

Sài Gòn đặc biệt vì có phố không vỉa hè, thí dụ đoạn phố Đề Thám trước dãy nhà cũ đối diện với hông nhà thờ Tin Lành. Thật ra thì có một vỉa hè rộng độ tám tấc, nhưng đã lì xuống bằng với mặt đường, ô tô tha hồ leo lên và người đi bộ rất lắm khi phải nhảy vào nhà người ta để thoát chết.


Lại có vỉa hè mà người đi bộ không được sử dụng, thí dụ vỉa hè Cô Giang tại chợ Cầu Muối. Người đi bộ ở đoạn nầy hễ xuống đường thì bị xe cán, còn lên lề thì bị mấy chị bán hàng đuổi, vì mấy chị mướn vỉa hè ấy có đóng tiền chỗ đàng hoàng.

Thành ra qua đoạn đường đó y như là qua cầu đoạn trường, lên lề thì đoạn tâm, còn xuống thì đoạn cẳng.

Có lắm vỉa hè công khai dùng làm ga-ra, nói công khai vì xe để trên ấy nằm đó năm nầy qua năm khác mà không sao cả. Thế nên chỉ mướn một căn phố bé nhỏ thôi mà người ta có thể mở ga-ra to là nhờ vậy.

Nói đến vỉa hè không thể không chú ý đến những vỉa hè mức độ khác nhau, khách đang đi bỗng sụp chân suýt ngã. Ấy, nhà bên nầy xây cao một tấc năm, nhà bên kia chỉ xây một tấc thôi mà. Vì mạnh ai nấy xây vỉa hè nên vỉa hè lại mang đủ màu sắc, có quãng xanh, quãng vàng, quãng xám, và lại kiến thiết bằng đủ cả vật liệu: gạch xi-măng, xi-măng trắng, gạch thẻ, gạch Tàu, nhựa, đá ong. Sợ nhứt là vỉa hè đá ong trên đường Thủ Khoa Huân. Đá ong lổm chổm khiến bộ hành không lọi chân cũng trặc cẳng.

Nếu đô thành tự làm lấy vỉa hè rồi bắt người ta trả tiền thì tình trạng nầy đã không có.

Bình Nguyên Lộc 
Báo Nhân Loại – 1957

Vĩnh Bảo sưu tầm 9/9/2019