Thứ Ba, 11 tháng 2, 2020

PHÂN BIỆT CÁC LOẠI THỊT HEO VÀ MÓN ĂN PHÙ HỢP

PHÂN BIỆT CÁC LOẠI THỊT HEO VÀ MÓN ĂN PHÙ HỢP

Hằng ngày khi đi chợ, bạn vẫn thường nghe mọi người chuyền tai hỏi nhau rằng nên mua loại thịt lợn để phù hợp với những món ăn nào, thịt ba chỉ, nạc dăm, thịt thăn, sườn cốt lết, thịt vai, thịt đùi… Vậy bạn đã thật sự hiểu hết phân loại các loại thịt heo và mỗi loại thịt heo thích hợp với những món ăn nào chưa? Nếu còn nhiều thắc mắc xoay quanh vấn đề này, bài viết dưới dây hoàn toàn có thể giúp bạn trang bị kiến thức để tự tin đi chợ nấu nướng cho Tết năm nay đấy!


1. Thịt nạc thăn (Tenderloin) – phần mềm nhất và hoàn toàn sạch mỡ

Thịt nạc thăn (tenderloin) là phần thịt có thể nói chứa 100% nạc, không hề dính một chút mỡ nào. Đây là phần thịt mềm nhất trên cả nguyên con heo.


Nếu mua được thịt nạc thăn tươi mới thì chúng sẽ có màu đỏ đậm nhìn rất giống thịt bò. Khi được nấu chín, nạc thăn có màu trắng ngần, xớ thịt đều nhau tăm tắp vô cùng đẹp mắt.


Thịt nạc thăn phù hợp với món ăn nào?

Vì tính chất mềm và thơm, phần thịt này thường được sử dụng để làm các món luộc, xào cùng rau củ các loại, áp chảo, giò lụa hoặc làm chà bông heo, nhất là món ăn cho trẻ em.


2. Thịt cốt lết (Lion) – phần thịt trên lưng heo nạc và rất ít mỡ

Tên gọi cốt lết có nguồn gốc từ tiếng Pháp để chỉ phần thịt lưng của heo.


Ở miền Bắc, có nơi lọc phần thịt này để làm thịt thăn vì tính chất nhiều nạc rất ít mỡ, tuy nhiên cốt lếch thường khô hơn thịt nạc thăn. Miền Nam thường sử dụng nguyên khối, có dáng gần giống hình trụ.


Thịt cốt lết phù hợp với món ăn nào?

Phần thịt này cũng có thể dùng làm chà bông, các món thịt rim nước dừa, áp chảo, thịt nướng và đặc biệt là thịt nướng cho món cơm tấm nức danh Sài Gòn.


3. Thịt ba rọi (Belly) – phần thịt bụng với mỡ thịt xếp xen kẻ nhau

Đây chính là phần thịt bụng của heo. Cái tên này có lẽ bắt nguồn từ đây loại thích khá đặc biệt và dễ dàng nhận dạng. Những lớp thịt mỡ xen kẻ nhau và ngoài cùng là một lớp da.


Phần thịt này khá nhiều mỡ, khá dễ gây ngán nhưng trong quá trình chế biến, loại thịt có tính chất làm thịt ẩm và không khô.


Thịt ba chỉ phù hợp với món ăn nào?

Thịt ba chỉ được dùng chế biến ra rất nhiều món ngon. Chúng rất phù hợp để làm các món luộc, kho, rim, hoặc chiên, nướng, xông khói và đặc biệt là quay giòn.

4. Thịt thủ – phần thịt đầu heo giòn và nhiều mỡ

Phần thịt thủ chính là thịt nơi đầu heo. Thịt thủ có đặc tính khá giòn, nhiều mỡ. Nhưng đặc biệt loại mỡ này rất giòn và không gây ngấy như các loại mỡ khác.


Tuy là phần đầu heo nhưng thịt thủ không bao gồm lỗ tai, mũi, mõm heo nhé!


Phần thịt thủ phù hợp với món ăn nào?

Món ăn nổi tiếng từ phần này chính là giò thủ ngày Tết. Đây là một món ăn được rất nhiều người yêu thích kết hợp từ thịt thủ, tai heo, giò heo, mũi heo, nhiều mộc nhĩ và tiêu. Món ăn dai ngon sần sật nhưng lại không gây béo ngấy.

5. Thịt nạc vai (Shoulder) – lấy từ vai heo với thịt khá dai xen lẫn mỡ

Hệt như tên gọi của nó, phần thịt này nằm ở vị trí vai của heo. Phần thịt này thường dày, đầy đặn, có xen ít mỡ.


Phần thịt vai (Shoulder) phù hợp với món ăn nào?

Thịt vai có độ dai và giòn hơn, nên được dùng nhiều trong các món kho, chiên, nướng. Phần thịt này cũng rất thích hợp xay cùng mỡ để chế biến các món nhồi, dồn…


6. Thịt mông (Ham) – lớp nạc và mỡ dày chắc chắn

Trong phần thịt mông còn có một phần được phân biệt cụ thể hơn là thịt mông sấn. Đối với phần thịt, lớp da, mỡ được tách biệt rõ ràng. Thịt nạc rất dày, không có gân, xương hay sụn.


Phần thịt mông (Ham) phù hợp với món ăn nào?

Cũng y hệt tên gọi của nó, phần thịt này nằm ở mông con heo, gồm cả thịt cả mỡ. Thịt mông hay được sử dụng làm nên món luộc, kho, nướng…


7. Thịt nạc dăm – thông dụng nhất với lượng mỡ và thịt xen kẻ nhau.

Đây là phần thịt có các lớp mỡ xen kẽ vào bên trong miếng thịt chứ không tách biệt rõ ràng.


Thông thường dùng loại thịt này vì vừa có thịt có mỡ mà lại không quá nhiều, thịt mềm và không khô trong quá trình chế biến.


Chúng có thể được sử dụng trong hấu hết trong các món ăn.

8. Thịt chân giò (Hock) – từ phần đùi heo thịt dai và rất ngọt

Đây là phần thịt ở đùi heo đã được cắt bỏ đi phần móng giò. Chân giò có nhiều thớ bắp thịt cuộn tròn lại cùng nhau.


Phần thịt chân giò phù hợp với món ăn nào?

Thịt chân giò thường được ưa thích khi chế biến các món như luộc, kho, và một số món đặc sản như chân giò hun khói, chân giò muối, chân giò nhồi. Đặc biệt nhất là món thịt nguội được nhiều người ưa chuộng.


9. Sườn heo (Ribs) – có mỡ có thịt và cả sụn giòn

Sườn heo có thể được gọi là một trong những phần chế biến ra nhiều món hấp dẫn nhất. Có thể tạm chia ra làm sườn non và sườn già.


Phần sườn heo phù hợp với món ăn nào?

Sườn non là phần xương sườn nhỏ, xương hình dẹt, chứa nhiều thịt xen chút mỡ, thường có sụn. Loại sườn này thích hợp nhất là dùng để chế biến các món như sườn nướng, rim, sườn xào, sườn chua ngọt,…


Sườn già còn hay gọi là sườn cây, là phần sườn có xương to hơn, cứng và dài hơn, ít thịt và cũng khá khô. Cần thời gian nấu lâu hơn, thịt dai thích hợp làm các món canh hầm lấy nước ngọt.

Vào dịp Tết, chắn không nhà nào không sử dụng thịt heo để chế biến những món ăn ngon đúng không nào? Chỉ cần 5 phút với bài viết trên, chắc hẳn bạn đã có thể tự tin để nhận biết và chọn đúng loại thịt heo mà mình cần rồi đấy! Chúc bạn thành công và có được những món ăn ngon nhé!

Nguồn: Ẩm Thực Việt
Vĩnh Bảo sưu tầm 12/2/2020

CA DAO NÓI VỀ RƯỢU

CA DAO NÓI VỀ RƯỢU

Trong những dịp cúng lễ, lễ lạt, hiếu hỉ, và đặc biệt là vào dịp Tết, rượu thường được nhắc đến, và có khi trở thành quan trọng hàng đầu: "Vô tửu bất thành lễ".


Rượu lại thường được cho là thứ không thể thiếu với giới tao nhân mặc khách. "Cầm kì thi tửu", "bầu rượu túi thơ", Lưu Linh viết "Tửu đức tụng" (tán tụng công đức của làng rượu), Lí Bạch không chỉ là “thi tiên" mà còn được gọi là “tửu tiên", Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Cao Ba Quát... đều sành rượu và có thơ ca ngợi rượu, là vài minh chứng.

Trong kho tàng ca dao, người viết bước đầu đã trích ra được 42 bài có đề cập đến rượu. Nội dung của những bài ca dao này hoặc nhìn nhận về đặc tính của rượu, hoặc gắn rượu với lễ, với cuộc sống lạc thú, hoặc rượu được ví với sắc đẹp của người phụ nữ, và cuối cùng, là sự cảnh cáo về những tác hại của rượu.


Dưới đây là những trình bày về các nội dung vừa nói:

1. Đặc tính của rượu

Rượu sở dĩ ngon là nhờ tửu tinh (alcool), được gọi là men:

Rượu ngon bởi vì men nồng
Người khôn bởi vị giống dòng mới khôn.

Chất men của rượu được so sánh với các gen của dòng giống, là một cách nhìn nhận đi thẳng vào bản chất sự vật.

Chất men ấy, nếu được cất giữ kĩ, thì bền vững với thời gian:

Rượu ngon chắt để bàn thờ
Ba bốn năm không lạt (nhạt), sao giờ lạt đi?

và không phụ thuộc vào vật chứa:

Rượu ngon bất luận be sành,
Áo rách khéo vá hơn lành vụng may.



2. Rượu gắn với lễ

Nghi lễ mà ca dao thường nêu hơn cả là cưới hỏi. Rượu (cùng với cau trầu) là lễ vật bắt buộc khi cưới hỏi. Thử đọc lời đối đáp sau của một đôi trai gái:

- Anh có thương em thì lo một buồng cau cho tốt, một hũ rượu cho đầy,
Đặt lên bàn thượng, hạ xuống bàn xây,
Chàng đứng đó, thiếp đứng đây,
Lẽ mô thầy với mẹ lại không kết nghĩa sum vầy cho con?

- Tay anh ôm hũ rượu, buồng cau,
Đi ngả đường sau, thầy mẹ chê khó, đi ngả cửa ngõ, chú bác chê nghèo,
Nhắm chừng duyên nợ cheo leo,
Sóng to, thuyền nặng không biết chống chèo có đặng (được) không.


Cô gái tưởng tượng nêu một viễn cảnh êm thấm, thuận chiều, trong lúc chàng trai tỏ ra thực tế hơn trước trở lực, do cái nghèo tạo ra.

Giả như cô gái thơ ngây và có tình cảm trong sáng kia thuyết phục được bố mẹ mình chấp thuận cuộc hôn nhân do cô chủ động, thì việc tiếp theo sẽ là:

Rượu lưu li chân quỳ tay rót,
Cha mẹ uống rồi dời gót theo anh.


Đôi vợ chồng mới, hoặc trai gái đã đính hôn, cũng dùng miệng trầu, chén rượu khi trao lời hẹn ước thủy chung:

Ăn một miếng trầu, năm ba lời dặn,
Uống một chén rượu, năm bảy lời giao,
Anh chớ nghe ai sóng bổ ba đào,
Em đây quyết giữ niềm tiết hạnh, anh chớ lãng xao em buồn.

Và dưới đây là chén rượu mời bạn tương tri:

Rượu kim lan ve vàng chước tửu,
Em mở miệng chào bạn hữu tương tri
Bá Nha vắng mặt Tử Kỳ
Ôm đờn luống chịu sầu bi một mình.



3. Rượu gắn với lạc thú

Trước hết, rượu (ở đây, hiểu theo "người uống rượu") thể hiện cuộc sống sung túc, an nhàn, biết làm chủ đời người:

Lật đật thì đất cũng đè,
Những người thong thả, rượu chè quanh năm

hay:

Rượu cúc sánh với trà lan,
Khi xem hoa nở, khi than Thúy Kiều
.

và:

Rượu nằm trong nhạo chờ nem
Anh nằm phòng vắng chờ em lâu về.


Chính vì sự thể hiện ấy mà giới phụ nữ (vốn ít người biết uống rượu) đã ít nhiều đồng tình chuyện “nam vô tửu như kì vô phong" (đàn ông không uống rượu như cờ không có gió). Cho nên có người đã:

Đốt than nướng cá cho vàng,
Lấy tiền mua rượu cho chàng uống chơi.
có người còn "rộng lòng" hơn:
Khuyên anh cờ bạc thời chừa,
Rượu chè, trai gái say sưa mặc lòng
.

Kế đến, giới mày râu thì xem mình độc quyền về rượu, và không chút ngần ngại khi nói ra điều này:

Còn trời, còn nước còn non.
Còn có bạn rượu, anh còn say sưa.


hay:

Con tằm bối rối vì tơ;
Anh say sưa vì rượu, em ngẩn ngơ vì tình.


Thậm chí, có anh còn móc tiền vợ để uống:

Rượu chè, cờ bạc lu bù,
Hết tiền đã có mẹ cu bán hàng.


Sau cùng, lạc thú với rượu không riêng bậc văn nhân tài tử mà cả hạng “tửu nang phạn đại" (đãy rượu túi cơm) và những người cùng uống, gọi là bạn rượu để thêm vui, theo luật "trà tam, tửu tứ" (uống trà, uống rượu thì thường ba, bốn người cùng uống mới thú). Có lúc không phải “tửu tứ" mà "tửu đảng", “tửu đồ" (những tên bợm nhậu):

Có chồng say như trong chay ngoài bội,
Ngó vô nhà như hội Tần Vương!



4. Rượu và người đẹp đều gây say

Hán Việt có từ “tửu sắc" nói lên mối quan hệ tuy hai mà một giữa rượu và gái, đứng đầu trong thú ăn chơi (của người đàn ông), tiếng Việt thuần túy không có một từ như vậy. Trong ca dao, lối nói phổ biến là so sánh điểm gây say giống nhau giữa rượu và người phụ nữ:

Rượu ngon chưa uống đã say,
Lựu, lan chưa bẻ đã bay mùi nồng.

và:

Đèo bồng mang tiếng thị phi
Bầu không có rượu lấy gì mà say?

hoặc:

Rượu ngon cái cặn cũng ngon,
Thương em chẳng luận chồng con mấy đời.

hoặc nữa:

Rượu từ trong hũ rót ra,
Để lâu cũng nhạt nữa là duyên em.


Cả chuyện “say ngầm", “say ngấm" của rượu cũng được vận dụng để ví với nét hạnh của nữ giới (trong việc chinh phục đàn ông):

Rượu say vì bởi men nồng,
Vợ mà biết ở, ắt chồng phải theo.


hay:

Rượu sen càng nhắp càng say,
Càng yêu vì nết, càng say vì tình
Đầy vơi chúc một chén quỳnh
Vì duyên nên uống, vì tình nên say...



5. Đề phòng những tác hại của rượu

Không thể có chuyện uống quá tửu lượng cho phép (đối với mỗi người) mà vẫn không say, dù đó là rượu nhạt:

Rượu nhạt uống lắm cũng say,
Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm.

hay rượu dở:

Rượu không ngon uống lắm cũng say,
Áo rách có chỉ vá may lại lành.


Mỗi khi đã bị say thì không đủ sáng suốt để nhận rõ cái lộn xộn ở bàn tiệc:

Rượu không say, sao chén ngã xe lăn,
Không thương người đó, sao năng tới nhà?

ở lập luận:

Rượu nào rượu lại say người,
Bớ người say rượu, chớ cười rượu say.


Điều thường gặp là “rượu vào, lời ra", nói nhiều, nói dài nhưng không ý thức hết điều đã nói, gây chuyện “đa ngon đa quá" (nhiều lời thì càng nhiều lầm lỗi), lắm lúc tạo nên hậu quả nghiêm trọng. Chí ít, cũng phiền nhiễu đến người xung quanh:

ở đời chẳng biết sợ ai,
Sợ thằng say rượu nói dai tối ngày.


Và không mấy ai tin lời người say, cho dù có nói hay như thế này:

Say thời, say ngãi say tình,
Say chi chén rượu mà mình nói say!


Ngoài cái hại của việc say đã nói, người đắm đuối vì rượu mà bỏ bê làm ăn, sẽ dễ lâm vào cảnh nghèo khổ:

Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa,
Sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày.



Những trình bày trên cho thấy, ca dao đã đề cập khá đầy đủ về rượu. Khi gắn với nghi lễ, rượu tượng trưng cho việc chuẩn thuận, thề nguyền; khi gắn với lạc thú, rượu như một vị chủ không thể thiếu; khi xét đến người đẹp, chỉ có rượu mới tương xứng để đối sánh. Nhưng tác hại của rượu cũng không nhỏ nếu người uống không biết dừng lại ở mức cần dừng.

Sắp xếp theo nội dung bàn về rượu của ca dao, ở một chừng mực nào đó, chúng ta cũng nhận ra phong tục, quan niệm của người Việt về một thức uống có lịch sử lâu đời và mang tính cách toàn cầu này.

Triều Nguyên
Vĩnh Bảo sưu tầm 12/2/2020

NHỤC CAN (肉乾) - THỊT SẤY KHÔ

NHỤC CAN (肉乾) - THỊT SẤY KHÔ


Nhục can (肉乾, Bakkwa, pòu qián) là một món thịt sấy khô ở dạng lát mỏng có vị ngọt và mặn trong ẩm thực Trung Quốc, gần giống như món khô bò. Thông thường nhục can được làm từ thịt heo nhưng cũng có thể làm từ thịt bò, thịt gà hay hải sản. Nhục can được cho là bắt nguồn từ một phương pháp tồn trữ thịt sử dụng ở Trung Hoa cổ đại mà đến nay vẫn còn được dùng trong các cộng đồng người Phúc Kiến.


Ở Malaysia, Singapore, quần đảo Riau và Philippines, bakkwa hay bagua là tên phổ biển nhất của nhục can. Người Quảng Đông phát âm món này là yuhk gōn', phiên bản Anh hóa là long yok; trong khi đó ở Trung Quốc và Đài Loan món ăn này được phát âm là rougan. Tên thương mại của nhục can có khi được gọi là "thịt heo nướng", "khô heo" hay "thịt heo sấy". Nhục can là một món ăn vặt rất thông dụng ở Macau, Malaysia, Singapore, Đài Loan, quần đảo Riau và the Philippines. Ở Bắc Đẩu trấn, Đài Loan, nó được đánh giá là một trong ba đặc sản về thịt heo.


Ở Malaysia và Singapore, nhục can trở thành một món quà thông dụng dành tặng cho người thân và du khách, cũng như cho các đồng nghiệp trong các tập đoàn (ví dụ trong Tết Nguyên Đán). Ở các quốc gia mà đa số người dân theo đạo Hồi (ví dụ Malaysia, các món nhục can dùng làm quà sẽ được chế biến từ thịt gà để nhằm phù hợp với halal, tức các quy tắc của Hồi giáo. Nhục can cũng có thể sử dụng trong các tiệc cưới cổ truyền Trung Hoa hay các bữa yến tiệc mang yếu tố nghi lễ tôn giáo. Nhu cầu về nhục can tăng cao trong các mùa lễ hội, trong các thời điểm khác nó cũng được dùng như món ăn vặt hay món ăn kèm trong bữa chính. Nhục can thường được đóng gói hay chứa trong các bọc màu đỏ - màu mang ý nghĩa tốt lành trong văn hóa Á Đông.


Chế biến

Theo tuyền thống, nhục can được chế biến từ những phần thịt chưa dùng hết trong các yến tiệc hay lễ hội. Chúng được tẩm ướp bằng đường và muối sau đó trữ lạnh dùng dần. Cụ thể những phần thịt dùng chế biến nhục can được loại bỏ phần mỡ, xắt lát ướp rồi xông khói. Sau đó chúng được cắt thành từng miếng nhỏ để trữ dùng dần. Người ta tin rằng yếu tố quyết định sự đặc trưng của chất lượng nhục can nằm ở phâu tẩm ướp và vì vậy hàm lượng gia vị tẩm ướp được bảo mật kỹ lưỡng.


Tuy nhiên, nhục can cũng có thể được chế biến ngay từ nguyên liệu thịt tươi, chưa được tẩm ướp nhập từ Trung Hoa; sau đó chúng được nướng ở nhiệt độ cao ngay tại chỗ. Hiện nay, có hai dạng nhục can tồn tại trên thị trường: dạng toái phiến nhục can (碎片肉乾) truyền thống được chế biến từ thịt băm nặn thành hình miếng mỏng; dạng thiết phiến nhục can (切片肉乾) mới hơn chế biến từ việc xắt lát các tảng thịt nguyên khối. Dạng mới dù giá thành cao hơn nhưng đang ngày càng trở nên thông dụng do miếng thịt cứng chắc hơn và thành phần chất béo thấp hơn. Nhục can thường được bán dưới dạng miếng mỏng hình vuông, và có thể có vị cay. Chúng cũng có thể được bán dưới dạng những phiến tròn như đồng tiền, gọi là kim tiền nhục can (金錢肉乾) với biểu tượng đồng tiền mang ý nghĩa đem lại may mắn. Một số công ty chế biến nhục can cũng đã đưa ra những mẫu nhục can có hình dạng khác lạ và đặc biệt nhằm thu hút khách hàng.

Nguồn: Wikipedia



HUYỀN THOẠI VỀ "CON ĐƯỜNG TƠ LỤA"

HUYỀN THOẠI VỀ "CON ĐƯỜNG TƠ LỤA"

Hiểu hơn về con đường mang theo nhiều điều vĩ đại và chứa đầy sự thú vị mà con người thời xưa đã tạo ra...


Con đường tơ lụa (The Silk Road) là một tuyến đường thông thương quan trọng của nhân loại trong suốt một thời gian dài lịch sử. Nhờ có con đường tơ lụa, những vùng đất, nền văn hóa mới được tìm ra và là động lực cho sự phát triển của cả châu Á, châu Âu trên nhiều lĩnh vực.


Từ một con đường vĩ đại...

Con đường tơ lụa bắt đầu được hình thành từ thế kỷ thứ 2TCN, khi ấy Trương Kiên - một triều thần của Hán Vũ Đế đã nhận lệnh đi về phía Tây để liên minh với những quốc gia và dân tộc mới.


Con đường tơ lụa trải dài từ Á qua Âu được mô phỏng thời xưa

Cuộc hành trình của Trương Khiên không mang lại thêm mối quan hệ nào mới cho nhà Hán nhưng giúp ông có thêm nhiều kiến thức về nền văn hóa phương Tây, tuyến đường mới và đặt nền móng cho con đường tơ lụa.

Trong lịch sử, người Trung Hoa mang vải lụa, gấm vóc... đến Ba Tư và La Mã đồng thời những doanh nhân các vùng khác cũng tìm đường đến với Trung Hoa.

Từ đây, con đường tơ lụa phát triển với tốc độ chóng mặt, bắt nguồn từ Phúc Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh của Trung Quốc qua Mông Cổ, Ấn Độ, Kazkhstan, Thổ Nhĩ Kì, Hy Lạp…

Từ thế kỷ thứ VII, con đường tơ lụa trên biển ra đời bởi các thương gia Ả Rập. Sau đó, các quốc gia như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan lần lượt kéo đến Trung Quốc buôn bán qua đường biển với tốc độ nhanh, an toàn hơn.


... những món hàng giá trị và kỳ lạ...

Gọi là con đường tơ lụa vì mặt hàng buôn bán chính và đầu tiên trên con đường huyền thoại chính là tơ lụa. Vào thế kỷ thứ 3 TCN, Trung Quốc đã tìm ra cách trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa sớm nhất trên thế giới.

Tuy nhiên, tơ lụa thời đó chỉ dành riêng cho vua chúa và hàng quý tộc ở Trung Quốc. Kể từ khi có con đường tơ lụa, các thương gia Trung Quốc quyết định đem sản phẩm này tới phương Tây.


Lụa một thời được coi là tiền tệ trên con đường này

Những bậc đế vương hay nhà quý tộc của La Mã rất thích lụa Trung Hoa. Họ mong muốn sở hữu thứ hàng này đến mức sẵn sàng đổi chỗ lụa đó bằng vàng với cân nặng tương đương.

Nhận thấy lợi nhuận khổng lồ từ thị trường mới, các thương gia Trung Quốc tăng cường vận chuyển hàng hóa tới La Mã, Ai Cập. Đồng thời, người dân phương Tây cũng lên đường tới Trung Quốc để buôn bán và truyền bá tôn giáo.


Nô lệ cũng là một món hàng phổ biến trên con đường tơ lụa

Sau một thời gian, số lượng hàng hóa trên con đường tơ lụa ngày một đa dạng: từ đá quý, các loại gia vị, khoáng sản, thuốc… hay cả các loài động vật. Ngược lại, ngựa Ba Tư cũng trở thành món hàng giá trị và đắt đỏ mà các lái buôn thời bấy giờ trao đổi trên con đường tơ lụa.

Không chỉ các loài động vật, nô lệ cũng bị buôn bán dọc theo con đường tơ lụa. Họ hầu hết là những người dân thường vô tội bị bắt trong các cuộc chiến tranh, tội phạm hay nợ một món tiền lớn mà không thể trả.

... đến động lực phát triển các nền văn minh nhân loại

Không chỉ có ý nghĩa về mặt giao thương, con đường tơ lụa còn tạo nên động lực để thúc đẩy khoa học phát triển trong thời kỳ này. Những cuộc buôn bán, thám hiểm giúp con người có cái nhìn mới về tự nhiên, địa lý, chính trị.

Thông qua con đường này, văn hóa các nước cùng nhiều tôn giáo được giao thoa khắp nơi. Ở các thành phố lớn trên con đường tơ lụa như Samarkand, ngoài kinh tế thì tôn giáo cũng là vấn đề rất đáng tự hào.


Rất nhiều nhà thờ, giáo đường Kitô giáo, Do Thái giáo, hay chùa chiền đều được dựng lên ở khắp nơi. Mọi tôn giáo đều được chấp nhận và tôn trọng trên con đường tơ lụa. Chính quan điểm thể hiện sự tiến bộ, tạo tiền đề cho các nền văn minh phát triển.

Con đường tơ lụa cũng là nơi để nhiều nhà thám hiểu viết nên tên tuổi của mình, điển hình nhất là Marco Polo (1254 - 1324). Ông là một người Ý, sống vào thế kỷ XIV và đã sử dụng con đường tơ lụa để khám phá nhiều vùng đất mới ở Trung Quốc. Marco thậm chí còn được vua Hốt Tất Liệt phong một chức quan. Khi trở về lại châu Âu, ông đem theo nhiều kiến thức cùng sản vật Trung Hoa.

Chân dung nhà thám hiểm Marco Polo

Tương truyền rằng, món mì Ý chính là mì của Trung Hoa được Marco Polo đem về Ý qua con đường tơ lụa. Sau này ông viết lại cuộc hành trình thú vị của mình trong cuốn sách "Marco Polo du ký" và trở thành một nhà thám hiểm vĩ đại của toàn nhân loại.

Sự suy tàn của con đường vĩ đại

Các cuộc chiến tranh liên miên cùng nạn đạo tặc, cướp phá khiến cho những đoàn người buôn bán luôn gặp nguy hiểm, con đường tơ lụa vĩ đại dần suy thoái.

Tuy nhiên sau khi đế quốc Nguyên Mông mở rộng bờ cõi ra khắp châu Á và châu Âu, công việc buôn bán nơi đây thịnh vượng trở lại. Nhưng chính con đường này vô tình lại phát tán dịch bệnh “Cái chết đen” ra khắp châu Âu và Trung Á trong năm 1348 - 1350. Căn bệnh này giết hại gần 60% dân số của châu Âu và tác động không nhỏ tới hoạt động của con đường tơ lụa.


Thành phố cổ heo hút người Samarkand

Cuối cùng con đường tơ lụa vĩ đại cũng tan rã vào thập niên 1400 bằng hàng loạt sự kiện đáng buồn. Tại Trung Quốc, nhà Minh lên nắm quyền đã khống chế con đường tơ lụa. Việc bắt nộp thuế cao đã khiến nhiều thương gia phải tìm đến con đường vận chuyển khác.

Sự phát triển của đế chế Ottoman khiến cho tuyến đường nối phương Tây và phương Đông bị chặn đứng. Con đường tơ lụa từ đây chìm vào dĩ vãng và những hào quang của nó cũng tiêu tan để lại nhiều thành phố cổ heo hút.
Theo: Trí Thức Trẻ

Vĩnh Bảo sưu tầm 11/2/2020

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2020

ẨM THỰC TRUYỀN THỐNG: THUẬN LẼ TỰ NHIÊN - CƠ THỂ KHỎE MẠNH





ẨM THỰC TRUYỀN THỐNG: THUẬN LẼ TỰ NHIÊN - CƠ THỂ KHỎE MẠNH

Trong văn hóa truyền thống, cơ thể người thường coi là một tiểu vũ trụ, đó là sự cân bằng giữa “âm” và “dương”, chiểu theo sự diễn hóa của quy luật ngũ hành.



Ăn uống chính là một sự tuần hoàn vật chất giữa con người và tự nhiên, người xưa rất chú trọng việc ăn uống thế nào cho phù hợp với sự quân bình âm dương và sự diễn hóa của ngũ hành. Vì vậy, để đảm bảo cơ thể được khỏe mạnh, các món ăn của người Việt xưa rất chú trọng đến sự quân bình âm dương của món ăn.

Các gia vị được sử dụng một cách tương sinh hài hòa với nhau, như món ăn dễ gây lạnh bụng (tính hàn) buộc phải có gia vị cay nóng (tính nhiệt) đi kèm và ngược lại. Các nguyên liệu tính nóng (ấm) phải được nấu cùng nguyên liệu tính lạnh (mát) để tạo sự cân bằng cho món ăn.

Các món ăn kỵ nhau không thể kết hợp trong một món hay không được ăn cùng lúc vì không ngon, hoặc có khả năng gây hại cho sức khỏe cũng được dân gian đúc kết thành nhiều kinh nghiệm lưu truyền qua nhiều thế hệ. Ví dụ như:
  • Thịt vịt tính “lạnh”, thích hợp ăn vào mùa hè với nước mắm gừng, tính “nóng”.
  • Thịt gà và thịt lợn tính “ấm” thích hợp ăn vào mùa đông (trước đây thường chỉ khi đến Tết mới làm thịt lợn, thịt gà).
  • Thủy sản các loại từ “mát” đến “lạnh” rất thích hợp để sử dụng với gừng, sả, tỏi (“ấm”).
  • Thức ăn cay (“nóng”) thường được cân bằng với vị chua, được coi là (“mát”).
  • Trứng vịt lộn (“lạnh”), phải kết hợp với rau răm (“nóng”).
  • Bệnh nhân cúm và cảm lạnh phải uống nước gừng, xông bằng lá sả, lá bưởi (“nóng”).
Ngoài phối hợp các món ăn với nhau, quy luật âm dương trong món ăn còn thể hiện qua sự phối hợp thức ăn với mùa, chính vì thế dân gian thường có câu “mùa nào, thức ấy”.


Mùa hè, trời nóng (tính dương mạnh) trong bữa ăn của người Việt thường có đặc điểm là các món ăn thiên về tính “âm”, đó là các món rau, nộm, canh, dưa,… đặc điểm các món này là nhiều nước và chua, có tác dụng thanh nhiệt, quân bình với nhiệt độ môi trường.

Mùa đông lạnh, người Việt có xu thế ăn các món ăn dương tính mạnh như xào, rán, rim, kho,… đặc điểm các món này là cho nhiều gia vị cay, nóng như ớt, hành, gừng, tỏi,…

Ngoài ra quy luật cân bằng âm dương còn được thể hiện qua việc khám và chữa bệnh. Theo người xưa, tình trạng cơ thể bị bệnh này, bệnh kia, chính là sự mất cân bằng âm dương. Vì vậy, người ốm quá “âm” cần ăn đồ “dương”, và ngược lại người ốm quá “dương” cần ăn đồ “âm” để khôi phục lại sự thăng bằng đã mất. Ví dụ người sốt cảm lạnh thì ăn cháo gừng, tía tô, người cảm nắng thì ăn cháo hành, người bị nhiệt miệng thì uống những nước có hàn tính mạnh như nước rau má,…



Ngày nay, có nhiều món ăn nhanh và hấp dẫn, chúng ta có thể ăn mọi nơi, mọi lúc, nên tính cân bằng âm dương bị phá vỡ. Đó là một trong những nguyên nhân của nhiều thứ bệnh, chẳng hạn bệnh béo phì, dạ dày, ung thư,… Nhưng dù là thời đại nào đi nữa thì ai ai cũng đều mong muốn có một cơ thể khỏe mạnh, bởi “có sức khỏe thì có tất cả”. Tháp đồ thức ăn được giới thiệu rất phổ biến nhưng không mấy ai thực hiện theo được, bởi sự tỉ mỉ phân chia từng loại thực phẩm nên khá bất tiện. Trong khi áp dụng triết lý âm dương vào món ăn lại rất đơn giản. “Thuận lẽ tự nhiên – Cơ thể khỏe mạnh”, những kinh nghiệm của người xưa thật phong phú và đáng học hỏi.
Hy Vọng

Vĩnh Bảo 9/2/2020

Thứ Năm, 6 tháng 2, 2020

TỲ HƯU - LINH VẬT PHONG THỦY QUÝ GIÁ

TỲ HƯU - LINH VẬT PHONG THỦY QUÝ GIÁ

Trong các vật phẩm phong thủy ngày nay, tỳ hưu là một linh vật quý giá. Có rất nhiều truyền thuyết về tỳ hưu. Bởi nó không những được lựa chọn để cầu tài mà còn cầu cả công danh, sự nghiệp.


Theo truyền thuyết để lại, tỳ hưu là một loại mãnh thú nhưng lại mang đến những điều thiện, tốt lành cho con người. Là đứa con thứ 9 của rồng, cũng là đứa con sở hữu ngoại hình đẹp nhất, miêu tả về tỳ hưu được sách cổ ghi lại như sau: đầu mang hình dáng của Kỳ Lân, có sừng, phần thân to như gấu lớn và có cánh. Con đực là Tỳ, con cái là Hưu.

Tương truyền, thời vua Minh Thái Tổ, khi lập nghiệp gặp lúc ngân khố cạn kiệt, vua rất lo lắng. Trong giấc mơ vàng, vua thấy có con vật đầu lân mình to, chân to lại có sừng trên đầu xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện nhả nhanh những thỏi vàng sáng chói mang vào trong cung vua. Theo thầy phong thủy tính toán, khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài và đất ấy là đất linh, như vậy, theo đó giấc mơ đã ứng với việc trời đất muốn giúp nhà vua lập nghiệp lớn.

Sau đó, vua Minh Thái Tổ cho xây một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm thành, ngay tại cung tài ấy. Con linh vật ấy có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm. Con vật này không ăn thức ăn bình thường mà chỉ ăn vàng, bạc, đặc biệt nó không có hậu môn, do vậy vàng bạc nó ăn vào không bị thoát đi đâu, cho dù no căng bụng.


Miêu tả về tỳ hưu được sách cổ ghi lại : đầu mang hình dáng của Kỳ Lân, có sừng, phần thân to như gấu lớn và có cánh

Sau khi có linh vật ấy, ngân khố nhà Minh ngày càng đầy. Vua thấy vậy nên cho tạc tượng con linh vật trên bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu “Tài môn”. Từ đấy, nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có. Khi người Mãn lên ngôi vua, lập ra nhà Thanh, họ vẫn rất tin vào sự mầu nhiệm của con vật linh kia và đặt tên cho nó là con kỳ Hưu hay cũng gọi là tỳ hưu.

Tỳ hưu là linh vật không có hậu môn nên chỉ ăn vào mà không nhả. Do vậy có tác dụng chiêu tài, giữ lộc. Ngoài ra, tỳ hưu rất hung dữ, chuyên cắn tinh huyết ma quỷ nên điều tai ương không dám tới gần. Vì vậy mang linh vật quý giá này bên mình còn có tác dụng hộ mệnh, trừ tà.

Tỳ hưu là linh vật không có hậu môn nên chỉ ăn vào mà không nhả nên có tác dụng chiêu tài, giữ lộc

Đặc biệt, tỳ hưu có sừng (loại này có sừng dài nhất trong tất thảy), có cánh, mông nhỏng cao, thuôn là những đặc điểm về hình dáng mà con tỳ hưu có tác dụng giúp bạn phát triển về sự nghiệp công danh. Nếu muốn cầu sức khỏe, bình an thì bạn nên chọn con tỳ hưu có chòm râu càng dài càng tốt, có cái bụng to và mông tròn căng, có sừng (không cần sừng dài như công danh, nhưng phải có sừng) và có cánh.

Mặt trước của tỳ hưu - linh vật phong thủy quý giá

Ngoài ra, màu sắc của tỳ hưu cũng là một yếu tố mang tài lộc khác nhau cho bạn: tỳ hưu màu đen có tác dụng chiêu tài, phát lộc. Còn tỳ hưu màu trắng, vàng có tác dụng bảo trợ sức khỏe, phát tài phát lộc. Tỳ hưu màu xanh có tác dụng may mắn trong công danh. Tỳ hưu màu tím, hồng có tác dụng mang đến hạnh phúc gia đình. Nếu có điều kiện bạn có thể thỉnh bộ 4 màu tỳ hưu hoặc 3 màu để có được đầy đủ tác dụng mà linh vật phong thủy này mang lại cho gia đình.

Bên cạnh đó, tỳ hưu còn có tác dụng trấn nhà để tránh tà khí, bạn đặt tỳ hưu đã được “khai quang” ở các hướng tốt trong nhà như: Sanh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị. Nhất là hướng “sanh khí” thì tỳ hưu có thể làm cho vận mệnh các thành viên trong gia đình chuyển biến tốt, vận mệnh tốt được nâng cao, đuổi tà khí đi và có tác dụng trấn nhà. Vì vậy, nó còn trở thành thần bảo vệ cho gia đình, bảo vệ sự bình yên cho ngôi nhà của bạn.

Thêm vào đó, tỳ hưu còn có tác dụng mang lại điều tốt lành: những người kinh doanh hay đặt chúng ở nhà và ở công ty. Khi đặt, đầu tỳ hưu phải hướng ra cửa chính, hoặc hướng ra cửa sổ để chiêu tài khí bốn phương. Tỳ hưu hóa giải “Ngũ hoàng đại sát”. Ngũ hoàng đại sát là một sát tinh trong phong thủy, khi nó vào nhà thì tác dụng của nó thật vô cùng đáng sợ: mang đến những điều bất lợi cho những thành viên trong gia đình về sức khỏe và tài vận. Nếu ở phương vị “Ngũ hoàng đại sát” bay đến, ta đặt hai con tỳ hưu phía sau cửa chính, đầu tỳ hưu hướng về phía trước, thì có thể hóa giải sát khí của Ngũ hoàng đại sát.

Tỳ hưu nếu đặt đúng nơi có tác dụng trấn nhà để tránh tà khí, đem lại điều tốt lành

Bên cạnh những điều tốt lành khi có tỳ hưu là vật phong thủy, bạn cũng cần chú ý những điều cấm kỵ. Chẳng hạn như, không được đặt tỳ hưu xông chính môn (từ ngoài quay vào trong nhà) mà phải đặt đầu Tỳ hưu quay ra ngoài. Hơn nữa, không quay tỳ hưu vào gương, vì gương có quang sát, tỳ hưu rất kỵ. Thêm vào đó, không đặt đối với giường ngủ, vì như thế không có lợi cho chính mình.

Ngoài ra, còn một số điều nên chú ý nếu bạn thờ tỳ hưu: Bát hương không đuợc cho đất cát vào, mà phải cho gạo đỏ, gạo đen, gạo trân châu. Đồ thắp hương không được cho lê, dâu tây. Phụ nữ đến tháng, có thai không được thắp hương, sờ mó tỳ hưu (vì chúng kỵ huyết sát, quang sát, thai sát). Đặc biệt, bạn không nên thường xuyên lau chùi tỳ hưu, mổi năm chỉ lau chùi 4 lần: âm lịch 6/2, 2/6, 14/7, 12/9. Và tuyệt đối không được tuỳ tiện thay đổi vị trí, không nên sờ mó vào mồm và phần đầu tỳ hưu. Nếu muốn thay đổi vị trí tỳ hưu trước tiên phải dùng vải đỏ che phần đầu tỳ hưu rồi mới chuyển.

Không được di chuyển tỳ hưu tùy ý và có nhiều lưu ý khi đặt linh vật phong thủy quý giá này trong nhà

Việc sử dụng tỳ hưu làm trang sức cũng cần chú ý, tránh phạm phong thủy: tỳ hưu đeo cổ, miệng phải hướng lên trên, không đeo tỳ hưu hướng đầu xuống dưới, móc cắm vào mông tỳ hưu không những thô thiển mà còn sai phong thủy. Khi tỳ hưu làm nhẫn đeo, quay ngang hoặc hướng miệng về phía móng tay, không hướng vào trong lòng bàn tay.

Việc sử dụng tỳ hưu làm trang sức cũng cần chú ý, tránh phạm phong thủy

Tuy tỳ hưu là linh vật đại cát nhưng trong một số trường hợp cũng không nên sử dụng tỳ hưu tránh rước vận hạn vào bản thân. Ví dụ như những người khí nhược: tỳ hưu là loại thú uy mãnh, những người khí nhược đeo vào không những không trấn áp được, mà lại còn bị tỳ hưu trấn áp ngược lại, điều này không tốt, đặc biệt là đối với người già và trẻ nhỏ. Chưa kể, phụ nữ mang thai cũng không nên đeo tỳ hưu vì bản thân nó cũng mang sát khi, đem lại điềm không tốt với thai nhi.

Những người tuổi Tuất, Dần, Mão đều không thích hợp đeo tỳ hưu. Tương truyền rằng, tỳ hưu là con thứ 9 của Rồng mà dân gian thì có câu “Long tranh Hổ đấu”, nên tỳ hưu không thích hợp với người tuổi Dần. Bên cạnh đó, tuổi Tuất và tuổi Mão cũng không hợp với tuổi Rồng nên những người thuộc hai con giáp này cũng lưu ý khi chọn tỳ hưu.

Lưu ý chọn tỳ hưu theo tuổi thích hợp để tránh phạm phong thủy, trước họa vào thân

Song, những người mắc bệnh về tiêu hóa hay hoặc phụ nữ đến kì kinh nguyệt đều nên tránh đeo tỳ hưu. Vì nó là linh vật không có hậu môn, không có chức năng đào thải, những người mắc bệnh tiêu hóa khi đeo tỳ hưu chỉ làm bệnh thêm trầm trọng.

Có thể nói, tỳ hưu là linh vật phong thủy quý giá được nhiều người yêu thích. Thế nhưng, việc tìm hiểu, áp dụng đúng cách sẽ tạo nên những điều thuận lợi. Làm cách nào để phát huy hết giá phong thủy của tỳ hưu? Tất cả đều phụ thuộc vào gia chủ và sự hiểu biết của bản thân về mỗi linh vật trước khi rước đặt trong nhà hay mang theo bên mình.
Theo: VYC Travel

Vĩnh Bảo sưu tầm 6/2/2020