Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2020

SỦI CẢO - MÓN ĂN MANG LẠI MAY MẮN NGÀY ĐẦU NĂM CỦA...

SỦI CẢO - MÓN ĂN MANG LẠI MAY MẮN NGÀY ĐẦU NĂM CỦA NGƯỜI HOA

Hình dáng của sủi cảo rất giống với những thỏi vàng, thỏi bạc Trung Quốc thời xưa, vì thế người dân nước này quan niệm rằng nếu ăn những “thỏi vàng” đó, họ sẽ được hưởng sự giàu có và gặp thuận lợi về tiền bạc trong năm mới. Trong tiếng Trung Quốc, sủi cảo còn mang thông điệp chuyển đổi từ thời khắc cũ sang mới.


Jiaozi (餃子 Giào Tử) hay sủi cảo (水餃 Thủy Giảo) nước (dùng nước để luộc chín), là một trong những món đặc sản ở miền bắc Trung Quốc. Qua thời gian dài, nó trở thành thứ quà ưa thích của người Trung Hoa cũng như nhiều nước châu Á khác, đặc biệt trong dịp Tết đến.

Món ăn này có nguồn gốc từ phía bắc Trung Quốc. Theo truyền thống ở phía bắc, người dân thường nặn xong sủi cảo trước đêm giao thừa. Họ sẽ ăn món này từ 23h đêm hôm đó đến 1h ngày đầu năm mới. Khoảnh khắc chuyển giao giữa năm cũ sang năm mới được gọi là jiaozi trong tiếng Trung cổ, đồng âm với món sủi cảo. Lúc này, cả gia đình sẽ tụ tập quây quần thưởng thức những chiếc sủi cảo nóng để cùng cầu mong niềm vui, hạnh phúc và thịnh vượng cho năm mới.


Ngày nay, sủi cảo có hàng trăm loại khác nhau với cách chế biến đa dạng. Tuy nhiên, có hai loại nổi tiếng nhất ở hai miền Trung Quốc. Ở miền bắc, jiaozi có lớp vỏ dày, màu vàng nhạt với nhân đa dạng, được luộc, hấp, rán và ăn kèm với nước chấm. Song ở miền nam, anh em của món ăn này là won ton (hoành thánh). Loại bánh này có lớp vỏ mỏng hơn với nhân thịt, thường được ăn kèm với súp nóng.


Ngoài ra Trung Quốc còn nhiều món ăn mà người dân sử dụng vào dịp đầu năm như cá hấp. Trong ngôn ngữ của họ, chữ "ngư" (魚) có cách phát âm giống với "dư" (余). Vì thế, người dân quan niệm rằng có món cá trên bàn cũng đồng nghĩa với việc có được sự "dư" giả, mang ý nghĩa cầu chúc một năm mới tốt lành, sung túc. Món cá hấp thường được để nguyên con, hấp cùng xì dầu và các loại thảo mộc hành, ngò, gừng... Người Trung Quốc sẽ ăn hai con cá, một vào đêm giao thừa và một vào ngày đầu năm mới để ước mong sự đầy đủ sẽ kéo dài “từ năm này qua năm khác.


Cách ăn cá cũng mang rất nhiều hàm ý và được những người dùng bữa xem trọng. Đầu cá nên được hướng về phía khách mời và người đó phải là người ăn trước tiên. Sau đó, hai người ngồi ở vị trí đầu và đuôi cá phải cụng ly cùng nhau. Cử chỉ cụng ly vui vẻ đó là biểu tượng của sự hòa hợp giữa đầu và đuôi. Người Trung Quốc tin rằng nếu ăn cá như vậy, mọi việc trong năm sẽ có khởi đầu thuận lợi, kết quả mỹ mãn.
Huyền Thanh (Tổng hợp)

Vĩnh Bảo sưu tầm 17/5/2020

NHỮNG MÓN ĂN “THEO CHÂN” NGƯỜI HOA GHI DẤU ẨM THỰC...

NHỮNG MÓN ĂN “THEO CHÂN” NGƯỜI HOA GHI DẤU ẨM THỰC SÀI GÒN

Theo chân người Hoa, những món ăn du nhập vào Sài Gòn và dần dần chính nét đặc trưng của từng món từng vị mà chúng đã tạo nên sự đa dạng và hấp dẫn cho nền văn hoá ẩm thực nơi đây.



Đối với nhiều người, cái tên “hủ tiếu hồ” nghe có vẻ xa lạ và dường như tạo cho ta một cảm giác về một món nước với phần súp có vẻ sệt lại. Nhưng khi tận mắt chiêm ngưỡng một tô hủ tiếu hồ nguyên bản thì lại bị chính sức hấp dẫn của chúng lôi kéo trong từng vị giác.


Đây là món ăn quen thuộc của người Tiều Châu và theo chân họ đến đất Sài thành từ vài chục năm về trước. Hiện nay, tuy nguyên bản có thể “Việt hoá” đi ít nhiều nhưng hủ tiếu hồ vẫn luôn mang hương vị biểu tượng cho ẩm thực Trung Hoa.


Một tô hủ tiếu hồ đúng chuẩn lúc nào cũng đầy ắp vô vàn thức ăn. Điểm nhấn chính là phần lòng heo như ruột, bao tử,… đều được nêm nếm thấm vị theo kiểu phá lấu. Ngoài ra có nơi còn cho thêm nào là huyết, tai heo,… Nhưng có lẽ “vũ khí bí mật” để tạo nên hương vị đặc trưng cho tô hủ tiếu hồ nằm vị chua ngọt và thơm thoảng mùi thuốc bắc của cải chua. Theo kiểu truyền thống của người Tiều thì cải chua được xào và ướp nhưng vẫn phải giữ được độ giòn và ngấm vị. Thêm vào đó là vị mằn mặn của củ cải muối băm nhuyễn xào với thỏi, thơm lừng và dậy mùi.


Hủ tiếu hồ không dễ ăn nhưng khi bạn trót lỡ phải lòng cái vị chua nhẹ hoà cùng những miếng lòng, bao tử mềm mềm đậm vị thì có lẽ bạn sẽ bị nghiện. Bước cuối cùng hoàn thiện cho tô hủ tiếu hồ là nước dùng ngọt thanh được hầm kĩ từ xương, đây chính là điểm chốt lại là dịu vị cho những thức ăn được chế biến đậm đà bên trong.


Hình như ai yêu thich ẩm thực Trung Hoa đều không thể bỏ qua những viên sủi cảo vàng óng và tròn ụ với phần nhân bên trong. Không nhớ sủi cảo đặt chân lên Sài Gòn khi nào, chỉ biết là sủi cảo dần dần trở thành một đặc trưng của ẩm thực nơi đây, thậm chí còn có cả một khu phố dành riêng cho hương vị “tuy cũ mà lạ” này.


Nói về vị cũ, thực chất sủi cảo là một biến thể mới mẻ từ món “vằn thắn” mà người Nam hay đọc chạy là “hoành thánh”. Lớp da bột mì mềm mại và dai dai bọc bên ngoài, bao trọn phần nhân được nêm nếm vừa vị vo tròn bên trong. Nếu hoành thánh là nhân thịt băm thì sủi cảo lại mang vị ngọt từ tôm.



Cầu kì, đa dạng như chính văn hoá ẩm thực của người Hoa, gọi một tô sủi cảo, bạn sẽ choáng ngợp với những món ăn trông lạ lẫm nhưng hấp dẫn không kém. Những cái tên như cá viên, da heo, mực ngâm tro,… tưởng chừng chẳng liên quan nhưng lại tạo nên sự phối hợp ăn ý.


Hầu hết nguyên liệu trong món đều từ công thức truyền thống của người Hoa, như mực thì phải được ngâm trong nước tro rồi phơi khô nhưng khi ăn vào bạn vẫn cảm nhận được cái giòn cái thơm của từng lát mực dày dặn. Da heo thì chiên rồi hầm trong nước nên vừa có cái béo vừa hoà với cái dai mềm hấp dẫn. Đấy là chưa kể đến các thành phần độc đáo không kém như viên mộc tròn trịa thơm ngon. Nước dùng của sủi cảo không đậm vị như món nước của người Việt ta, họ chủ yếu nhấn vào vị thanh nhẹ tự nhiên của nước ninh xương và hạn chế nêm nếm gia vị. Những viên sủi cảo vàng mượt óng ánh lúc nào cũng căng tròn phần nhân bên trong, ăn cùng với vài lát cải ngọt cho thêm vị tươi thì còn gì bằng.


Cháo Tiều cũng bao gồm những thành phần tương tự như món cháo lòng của người Việt, gồm cháo trắng, tim, cật, phèo, thịt băm,… nhưng điểm khác biệt chính là ở cách chế biến. Thức ăn không nấu chín cùng cháo mà sẽ khi thực khách gọi, thức ăn mới được cho vào một tô nhỏ rồi nấu sôi cùng với cháo trắng. Sau khi khuấy đều cho đến chín hẳn thì thành phần dọn ra sẽ là tô cháo Tiều thơm ngon, bắt vị. Chính cách nấu độc đáo này đã tạo nên một hương vị đặc trưng riêng mà hiếm món cháo nào có được.


Ngoài ra, còn những thành phần phụ khác như mực, nấm rơm, hành lá,… được cho vào để tiếp hương thêm vị cho món ăn. Đặc biệt là, cháo của người Tiều sẽ ăn kèm cùng một quả trứng gà ta. Bạn có thấy thành phần của món cháo này quá đỗi phong phú không?



Cháo Tiều được xem là một trong những món ăn đặc sắc nhất mà vẫn được người Hoa lưu giữ hương vị. Bát cháo món hổi vừa múc ra, bạn sẽ cảm nhận được vị ngọt đậm đà từ những món lòng heo, hoà quyện cùng hương thơm và độ sánh vừa của cháo. Ăn cháo Tiều thì không thể thiếu giò cháo quẩy, vị cay the của vài sợi gừng, hành lá điểm thêm chút xanh và rắc tiêu cho thơm là vừa tròn vị.


Nhắc đến món ăn Trung Hoa thì không thể bỏ qua những hàng chè đầy ắp vị ngọt thanh với đầy đủ các món từ lạ đến quen. Người Hoa quan niệm với cách ăn uống cũng như những bài thuốc tốt cho sức khoẻ, vì thế những món chè của họ đều mang hương vị thanh mát và thoang thoảng mùi của các loại thảo mộc.


Bất kì món chè Hoa đều mang hương vị thanh mát và thoang thoảng mùi của các loại thảo mộc. Những cái tên đặc trưng mà bất cứ quán chè nào cũng có như là cao quy linh, nhãn nhục, củ năng, sâm bổ lượng, hạnh nhân,… tất cả đều là những loại thực phẩm bổ dưỡng, giúp điều hoà cơ thể trong những ngày hè oi ả.


Ngon và bổ là một chuyện nhưng điều khiến người ta thích ngắm nhìn những quán chè Hoa lâu hơn một chút đó chính là những màu sắc hấp dẫn của trong từng loại thành phần. Mỗi chén chè, mỗi ly chè, đều mang một màu sắc riêng, mỗi màu sắc lại mang một hương vị thật riêng biệt.


Đặc biệt, người Hoa còn gây ấn tượng trong thực đơn tráng miệng của mình với những món lạ vị như hột gà trà, chè mè đen,… Công thức chế biến truyền thống cùng với những hương vị mới mẻ chắc chắn những món chè này sẽ là lựa chọn cho một buổi xế giải nhiệt.


Đặc biệt, người Hoa còn gây ấn tượng trong thực đơn tráng miệng của mình với những món lạ vị như hột gà trà, chè mè đen,… Công thức chế biến truyền thống cùng với những hương vị mới mẻ chắc chắn những món chè này sẽ là lựa chọn cho một buổi xế giải nhiệt.

Sài Gòn thực sự may m ắn khi được giao thoa nhiều hương vị ẩm thực mới lạ từ các vùng miền, đặc biệt là sự đa dạng và cầu kì của ẩm thực Trung Hoa. Theo chân người Hoa, những món ăn du nhập vào Sài Gòn và dần dần chính nét đặc trưng của từng món từng vị mà chúng đã tạo nên sự đa dạng và hấp dẫn cho nền văn hoá ẩm thực nơi đây.
Theo SaoStar

Vĩnh Bảo sưu tầm 17/5/2020

NGẬT NGUYÊN BẢO (吃元宝)

NGẬT NGUYÊN BẢO (吃元宝)

Đến hôm nay là hết tết, cũng đã trễ rồi, thôi đợi sang năm chớ biết sao. Sang năm nếu bạn nào đã biết rồi thì tốt, còn chưa biết thì phải sửa soạn làm món "hoành thánh" (dân Bắc gọi là vằn thắn) hoặc "sủi cảo".
Đây là 2 món ăn lấy hên trong đêm giao thừa và sáng mùng một Tết bời hình dáng hoành thánh và sủi cảo na ná như những thoi bạc mà ngày xưa gọi là "nguyên bửu". Tích này tôi mới biết đó. Tốt nhất là chơi luôn cả 2 món: tối 30 ăn canh, sáng mùng một ăn mì hoành thánh + sủi cảo cho bữa điểm tâm. Chắc chắn cả năm tài lộc như vàng như bạc sẽ vào cả ký, cả tấn chớ không phải là chỉ, là lượng.


NGẬT NGUYÊN BẢO
吃元宝


Vằn thắn (hồn đồn 馄饨) và sủi cảo (giảo tử 饺子) đều có hình dạng gần giống với thoi bạc nguyên bảo 元宝 cho nên khi tết đến, trong dân gian đều xem hai món này là thức ăn cát tường. Đêm trừ tịch, nhiều gia đình ăn sủi cảo. Bữa sủi cảo ăn qua hai năm nên gọi là “canh tuế giảo tử” 更岁饺子.


Cho dù là hiện tại, nhiều địa phương vẫn còn tập tục ngày mồng 1 tháng Giêng ăn sủi cảo bọc tiền. Sáng sớm, mọi người trong nhà quây quần ăn sủi cảo, bên trong sủi cảo bọc 1,2 đồng tiền biểu thị năm mới có phúc, đại cát đại lợi, tài nguyên dồi dào không dứt. Ngày mồng 2 tháng Giêng là ngày dân gian nghinh Tài thần, cũng lưu hành tục ăn sủi cảo, gọi là “nguyên bảo thang” 元宝汤. Mọi người thường nói, vào ngày này ăn “nguyên bảo thang” có thể đại phát tài vận trong năm mới.


Một số nơi ở phương bắc còn cho rằng: vằn thắn (hồn đồn 馄饨) đồng âm với “hỗn độn” 混沌, ý nói Bàn Cổ mở mang trời đất, từ trong hỗn độn đem đến thế giới nhân loại, cho nên mọi người cho rằng: ăn vằn thắn trong đêm trừ tịch sẽ không bị hồ đồ, năm tới càng thêm thông minh lanh lợi.


Dịch giả: Huỳnh Chương Hưng
Nguyên tác Trung văn

NGẬT NGUYÊN BẢO

吃元宝

Trong quyển
CÁT TƯỜNG ĐÍCH TRUNG QUỐC
吉祥的中國
Bản công ti biên tập bộ biên soạn
Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti, năm Dân Quốc thứ 90.
(Sưu tầm trên mạng)

Vĩnh Bảo sưu tầm 17/5/2020

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2020

RAU RỪNG VIỆT NAM: Dây mướp

DÂY MƯỚP

Mô hình dây mướp

Dây và quả mướp hương
-Tên gọi khác: Mướp ta, mướp hương, mướp gối, mướp Ai Cập.
-Tên tiếng Anh: Smooth Luffa Egyptian Luffa. Sponge Gourds, Vegetable Sponge, Wash Sponge, Gourd Towel, Dishcloth Gourd, Loofah Gourd
-Tên khoa học: Luffa aegyptiaca Mill.
-Tên đồng nghĩa: Luffa aegyptica (lapsus), Luffa cylindrica (L.) Roem.
-Các loài tương cận:
-Mướp khía, mướp tàu (Luffa acutangula).
-Mướp xơ (Luffa operculata).

Phân loại khoa học


Giới (regnum):
Thực vật (Plantae)
Ngành (divisio):
Thực vật có hoa (Magnoliophyta)
Lớp (class):
Thực vật hai lá mầm (Magnoliopsida)
Bộ (ordo):
Bầu bí (Cucurbitales)
Họ (familia):
Bầu bí (Cucurbitaceae)
Chi (genus):
Mướp (Luffa)
Loài (species):

Phân bố

Chi Mướp (Luffa) bao gồm các loài dây leo sống một năm ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chi này được biết có 5 loài với khoảng 8 giống (varieties), trong đó có ít nhất 2 loài được dùng làm rau ăn quả phổ biến ở Châu Á và Châu Phi đó là:
-Loài Mướp khía, mướp tàu (Luffa acutangula) với 3 giống.
-Loài Mướp hương, mướp Ai Cập (Luffa aegyptiaca) với 2 giống. Đó là giống mướp hương Luffa aegyptiaca aegyptiaca được trồng làm rau phổ biến và giống Mướp hoang Miến Điện (Luffa aegyptiaca leiocarpa) cũng được khai thác làm rau ăn.
Tên Latin của Chi mướp (Luffa) được các nhà phân loại Châu Âu đặt từ thế kỷ thứ 18 từ nguồn gốc tên chữ Á Rập “lūf ”.
Loài Mướp hương, mướp Ai Cập (Luffa aegyptiaca) có nguồn gốc xuất xứ từ Bắc Phi. Được giới thiệu và trồng ở nhiều nước nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Châu Phi và Châu Á.
Cây Mướp hương được trồng ở khắp các nước thuộc vùng Nam Á, Đông Nam Á, và cả ở Đông Bắc Á, như Trung Quốc và Nhật Bản.

Mô tả

Mướp là một loại cây thảo dạng dây leo. 
-Thân: Dây leo bằng tua cuốn phân nhánh, thường 4-5 nhánh; tua cuốn màu xanh lục nhạt có tiết diện đa giác, có lông ngắn màu trắng, mặt trên có rãnh ở giữa. Thân dài 5-10 mét. Thân có màu xanh lục nhạt, tiết diện đa giác, có 5 gân dọc, rải rác có lông ngắn màu trắng. 
-Lá:  đơn, mọc cách. Phiến lá hình trái xoan, đáy hình tim, dài 8-16 cm, rộng 7-20 cm, xẻ 5-7 thùy cạn theo kiểu chân vịt, thùy có dạng tam giác đỉnh có mũi nhọn, thùy giữa to hơn các thùy còn lại; mép lá có răng cưa. Lá màu xanh lục đậm ở mặt trên, nhạt ở mặt dưới, ở 2 mặt phủ đầy lông nhám màu trắng. Gân lá chân vịt với 5-7 gân chính nổi rõ ở mặt dưới, gân phụ tạo thành hình mạng. Cuống lá có tiết diện đa giác, màu xanh lục, dài 5-7 cm, mặt trên có rãnh ở giữa, có lông ngắn màu trắng và có 6 gân dọc.
-Hoa: Đều, đơn tính cùng gốc, mẫu 5, đôi khi mẫu 6. 
Hoa đơn tính, các hoa đực tập hợp thành chùm dạng chùy, các hoa cái mọc đơn độc. Ở nách lá có hệ thống đặc biệt, gồm có: 1 hoa cái riêng lẻ; 1 cụm hoa đực dạng chùm gồm 12-20 hoa; 1 tua cuốn phân nhánh; 1 vảy cứng màu xanh lục, kích thước 0,5-0,8 cm x 0,5-0,8 cm, mặt dưới có nhiều đốm tuyến tròn màu xanh lục đậm.
-Hoa đực: Cuống hoa có tiết diện đa giác, màu xanh lục, dài 0,8-1,3 cm, phủ đầy lông tơ màu trắng, trên cuống có khớp cách đài hoa 0,5 cm, đoạn khớp có màu nhạt hơn. Lá bắc dạng vảy hình bầu dục màu xanh lục, kích thước 0,5 x 0,3 cm, mặt dưới có đốm tuyến tròn màu xanh lục đậm và có ít lông tơ trắng. Lá đài 5-6, đều, màu xanh lục nhạt, phủ đầy lông tơ trắng; ống đài hình chuông cao 0,5 cm, có 10 đường gân dọc; 5 thùy hình tam giác cao 1-1,5 cm, rộng 0,8-1 cm, mỗi thùy có 3 gân dọc, đôi khi mặt dưới có vài đốm tuyến tròn màu xanh lục đậm . Tiền khai đài van. Cánh hoa 5-6, đều; mặt trên vàng đậm , mặt dưới vàng nhạt; dính nhau phía dưới khoảng 0,2-0,3 cm và dính vào lá đài, sau khi tách khỏi đài tràng hoa chia 5 thùy kích thước 3,5-5 cm x 2-2,5 cm, đỉnh mỗi thùy chia 2 thùy cạn tròn và giữa 2 thùy này có mũi nhọn; bìa nhăn, 2 mặt phủ đầy lông dài màu trắng, mặt dưới có 5-7 gân màu xanh lục nhạt. Tiền khai cánh hoa lợp. Nhị 5-6, đều, rời, đính ở nơi tiếp giáp giữa đài và tràng trên 1 vòng xen kẽ cánh hoa. Chỉ nhị dạng sợi màu vàng nhạt, dài 1 cm, gốc hơi phình ra và có nhiều lông trắng như nhung. Bao phấn cong queo, màu vàng, cao 0,3 cm, 1 ô, hướng ngoại, đính giữa, mở bằng một đường nứt cong queo, chung đới nở rộng.
Hạt phấn rời, màu vàng nhạt, hình cầu có 2-3 lỗ, hay hình bầu dục có 2 rãnh dọc, kích thước 100-120 µm. Đĩa mật to, màu vàng, chia 5 thùy xen kẽ nhị, nằm trên đế hoa và dưới nhị. 
Hoa cái: Cuống hoa hình trụ, màu xanh lục, có ít lông ngắn, dài 5-15 cm. Lá đài 5-6, đều, màu xanh lục, có ít lông tơ trắng; ống đài cao 0,1 cm; 5-6 thùy hình tam giác cao 1,5 cm, rộng 0,5-1 cm, mỗi thùy có 3 gân dọc, mặt dưới có nhiều đốm tuyến tròn màu xanh lục đậm. Tiền khai đài van. Cánh hoa tương tự như hoa đực. Lá đài và cánh hoa dính nhau ở phần ống và dính vào bầu noãn. Lá noãn 3, bầu dưới 3 ô, mỗi ô nhiều noãn, đính noãn trắc mô đặc biệt. Bầu noãn hình trụ màu xanh lục, dài 6-8 cm, phủ đầy lông mịn màu trắng, có 10 sọc dọc và có những đốm đen; 1 vòi nhụy hình trụ dài 1 cm, màu xanh lục; 3 đầu nhụy màu vàng nhạt, nở rộng, cong về phía dưới, mặt trên có rãnh giữa. Nhị lép là những vảy hình tam giác màu trắng, có nhiều lông mịn màu trắng, đính ở nơi tiếp giáp giữa đài và tràng. Đĩa mật dạng khoen màu vàng, chia 3 thùy, bao quanh gốc vòi nhụy. 
-Quả: Quả hình thoi hay hình trụ, màu xanh lục, dài 0,3 - 0,9 m. Trên vỏ quả có 10 đường gân dọc màu xanh đậm và những đốm màu đen, khi già thì khô, bên trong có nhiều xơ dai. Quả Mướp thường dùng ăn chữa được chứng đậu sởi, khỏi lở sưng đau nhức, lại kích thích sự tiết sữa ở các bà mẹ đang nuôi con và tăng cường sự tuần hoàn.
-Hạt: Hạt hình trứng dẹp, 2 đầu tròn, màu đen, dài 1-1,2 cm, có rìa.
Cây mướp hương được trồng để lấy quả xanh và được dùng như một loại rau, hoặc được trồng làm cảnh. Xơ từ quả chín được dùng làm vật cọ rửa.
Mướp hương cũng được sử dụng trong đông y.
Các loài thuộc chi Mướp bị ấu trùng của một số loài côn trùng thuộc bộ cánh vẩy (Lepidoptera) phá hoại, chẳng hạn Hypercompe albicornis.

Thành phần hóa học

Quả, lá và cành chứa các Saponin triterpen có tên chung là luciosid.
Trong quả chứa chất đắng, saponin, chất nhầy, xylan, mannan, galactan, lignin, mỡ, protein 1,5%.
Trong quả tươi có nhiều choline, phytin, các acid amin tự do: lysin, arginin, acid aspartic, glycin, threonin, acid glutamic, alanin, tryptophan, phenylalanin và leucin.
Hạt chứa một chất đắng là cucurbitacin B, một saponin đắng kết tinh khi thuỷ phân cho acid oleonolic và một sapogenin trung tính; còn có một saponin khác.
Dầu hạt mướp có khoảng 35,5% các acid chủ yếu là palmitic, stearic, oleic, linoleic, trong đó acid linoleic chiếm 50 -70%.
Rễ mướp chứa nhiều vitamin B và C muối khoáng (nitrat kali), các men ribonuclease và acid bryonilic. Hoa mướp cái có β sitosterol, apigenin và acid oleanolic.
Trong các bộ phận ăn được của cây mướp không phát hiện thấy độc tố.

Công dụng

a-Đọt, lá non và quả mướp được dùng làm rau
1-Đọt và lá non dây mướp được dùng làm rau luộc, xào, nấu canh
Do đọt và lá non của dây mướp hương có vị hơi đắng và nhớt nên không được dùng để ăn sống mà được luộc, xào  hoặc nấu canh cùng nhiều loài rau khác.
2-Quả mướp hương được dùng làm rau
Quả mướp là bộ phận chính được dùng làm rau ở nhiều nước Châu Phi và Châu Á.
+Ở Việt Nam
1-Quả mướp hương được dùng là rau luộc hoặc hấp cơm
Quả mướp non được luộc hoặc hấp cơm khi chín mềm dùng chấm nước chấm hoặc nước thịt, cá kho, mắm chua, mắm tôm…
2-Quả mướp non được xào
Quả mướp non gọt vỏ, xắt miếng theo cách chẻ dọc hoặc xắt ngang để xào với nhiều món như lòng vịt, mực, tôm, thịt…
3-Quả mướp được dùng để nấu canh
Quả mướp gọt bỏ vỏ, cắt xéo để nấu món canh mướp, có thể nấu với nước cốt dừa. Món canh mướp rất phổ biến ở Nam Bộ Việt Nam.
4-Bông mướp luộc, xào, nấu canh
Bông bí là món ăn ngon, dược dùng để luộc, xào, nấu canh, nhúng lẫu là món ăn hấp dẫn ở Nam Bộ Việt Nam.
+Ở nước ngoài
Ở Nhiều nước Châu Phi và Châu Á các bộ phận cây mướp như đọt non, lá non và quả cũng được dùng làm rau như ở Việt Nam.
Các cách sử dụng khác như:
-Ở Ấn Độ quả mướp được dùng trong món nấu cà ri hoặc được chiên với bột đậu xanh để làm bữa ăn nhẹ (bhajji).
-Ở Canada quả mướng non luộc còn được gọi là đậu bắp Trung Quốc.
b-Các bộ phận của cây mướp được dùng làm thuốc
+Theo Đông y
Các bộ phận của cây mướp, như lá mướp (ty qua diệp), dây mướp (ty qua đằng), xơ mướp (ty qua lạc) đều là những vị thuốc có thể sử dụng để trị nhiều bệnh khác nhau.
1-Lá mướp có vị ngọt, chua, mát, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, trừ đờm, chỉ khái, giải độc, chỉ huyết.
Lá dùng trị ho gà, ho, nắng nóng miệng khát; dùng ngoài trị vết thương chảy máu ghẻ lở, bệnh mụn. Lá sắc với cây cứt lợn, uống chữa phù thũng. Dùng ngoài, lá tươi giã nát, ép lấy nứơc bôi chữa chốc lỡ đầu, mẫn ngứa do giời leo. Lá vò nát còn chữa bệnh zôna.
2-Quả mướp thường gọi là Sinh ty qua có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, hóa đàm, lương huyết, giải độc.
Quả Mướp hương non được dùng làm thực phẩm, có tác dụng làm tăng tiết sữa cho phụ nữ sau khi đẻ và làm máu lưu thông, giúp nhuận tràng.
3-Hạt mướp dùng trị ho nhiều đờm, giun đũa, đái khó.
4-Xơ mướp thường gọi là Ty qua lạc có vị ngọt tính bình, có tác dụng thông kinh, hoạt lạc, thanh nhiệt, hóa đàm, lợi thủy, tiêu thũng.
Xơ Mướp thường dùng trị gân cốt đau nhức, đau mình mẩy ngực sườn, bế kinh, sữa chảy không thông, viêm tuyến sữa, thuỷ thũng, chữa trĩ ra máu, rong huyết, rong kinh, kiết lỵ, tiêu chảy ra máu.
5-Thân cây mướp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng hoạt huyết thông lạc, thanh nhiệt giải độc.
Dây Mướp dùng trị đau lưng, ho, viêm mũi, chảy nước mũi có mùi hôi, viêm nhánh khí quản.
6-Gốc cây mướp trị viêm xoang, viêm mũi, mũi ngứa, chảy nước mũi, nước mũi có mùi hôi, tanh.
7-Rễ mướp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thông kinh, hoạt lạc, thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm, thanh trừ nội nhiệt, nhuận tràng, trị phế ung, viêm mũi, viêm xoang, ho, đau nửa đầu, viêm tuyến vú.
Rễ dùng trị viêm mũi, viêm các xoang phụ của mũi, đau nửa đầu, viêm tuyến vú, ho đau lưng, trúng phong.
Món mướp luộc

Món mướp xào

Nụ hoa mướp xào mề gà

Canh mướp


+Ở nước ngoài
Ở nhiều nước Châu Á và Châu Phi người ta dùng nước ép quả mướp để trị chứng bệnh vàng da. Cách lấy nước ép: Dùng quả mướp đập dập hoặc đâm nhuyễn, dùng vải lược vắt lấy nước uống. Ngoài ra hạt và võ quả khô ngâm nước rồi đâm nát, vắt lấ nước uống cũng có tác dụng tương tự.
c-Các công dụng khác của cây mướp hương
-Xơ mướp được dùng như bọt biển trong nhà bếp và nhà tắm ở nhiều nước.
-Ở Paraguay, xơ mướp được làm vật liệu đệm để tạo thành ván ép dùng trong trang trí nội thất.

Các bài thuốc từ cây mướp hương

1-Lá mướp trị ho cấp tính và mạn tính, nhiều đờm, đờm dính máu
 Hằng ngày dùng 10 - 15g, sắc uống; hoặc lấy lá tươi, rửa sạch, thêm chút muối ăn, giã nát, vắt lấy nước uống, trị viêm họng, họng sưng đau. (theo GS.TS Phạm Xuân Sinh).
2-Lá mướp trừ phù thũng, trị mụn nhọt sưng đỏ
Có thể lấy lá bánh tẻ, rửa sạch, giã nát, đắp lên mụn nhọt hoặc lên vết thương để tiêu viêm, tiêu sưng. (theo GS.TS Phạm Xuân Sinh).
3-Quả mướp dùng dể thanh nhiệt, hóa đàm, lương huyết, giải độc
Dùng quả non, khi quả ra được khoảng 20 ngày, hái về thái mỏng, sao vàng, sắc uống có tác dụng trừ đờm, trị ho, hen,  khó thở. (theo GS.TS Phạm Xuân Sinh).
4-Xơ Mướp dùng trị gân cốt đau nhức, đau mình mẩy ngực sườn, bế kinh, sữa chảy không thông, viêm tuyến sữa, thuỷ thũng.
Có thể lấy những quả mướp chín, già, khô trên giàn; hoặc hái các quả mướp già, phơi khô hoặc sấy khô, bóc bỏ vỏ, bỏ hạt. Khi cần nhiều xơ mướp, có thể, sau khi thu hái các quả mướp già, bó lại thành bó, ngâm xuống nước vài ngày cho thịt mướp rữa ra, sau đó rửa sạch xơ, rồi đem phơi khô, sấy khô.
Lấy xơ này, cắt thành từng đoạn 1 - 2cm, sao vàng, nghiền thành bột mịn, uống ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 8 - 10g, để thông kinh, hoạt lạc, trừ phong thấp, lợi tiểu, giải độc. Dùng trong các trường hợp đau tức sườn ngực, đau cơ.
Xơ mướp đem sao đen, sao tới khi toàn bộ phía ngoài có màu đen, bên trong vẫn còn màu vàng, tán thành bột mịn, uống với nước ấm, ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 4 - 8g, có tác dụng cầm máu, giảm đau. Dùng trị trĩ ra máu, đại tiện ra máu, xuất huyết tử cung… Ngoài ra để thúc sởi chóng mọc, dùng xơ mướp 20g; kinh giới, bạch chỉ, kim ngân, mỗi thứ 12g; cỏ mần trầu 8g; cam thảo 4g. Sắc uống, ngày 1 thang chia 2 lần. (theo GS.TS Phạm Xuân Sinh).
5-Thân mướp dùng làm thông mũi, trị bệnh viêm mũi mạn tính, viêm cuốn mũi
Sau khi thu hái, đem phơi khô, cắt thành từng đoạn 3-5cm, sao vàng, nghiền thành bột mịn uống với nước sôi để nguội, ngày 2-3 lần, mỗi lần 8-12g. (theo GS.TS Phạm Xuân Sinh).
6-Gốc cây mướp trị viêm xoang, viêm mũi, chảy nước mũi, nước mũi có mùi hôi, tanh
Sau khi rửa sạch, cạo bỏ lớp vỏ bên ngoài, thái nhỏ, sao vàng, sắc uống có tác dụng tiêu viêm. (theo GS.TS Phạm Xuân Sinh).
7-Rễ mướp thông kinh, hoạt lạc, thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm, thanh trừ nội nhiệt, nhuận tràng, trị phế ung, viêm mũi, viêm xoang, ho, đau nửa đầu, viêm tuyến vú.
Ngày 15-30g dưới dạng sao vàng, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần. Uống nhiều ngày tới khi các triệu chứng thuyên giảm. (theo GS.TS Phạm Xuân Sinh).
8-Nước dây mướp - giữ ẩm, làm dịu da
Cắt dây mướp cách gốc 2-3 mét, để một lọ phía dưới hứng nhựa dây mướp chảy vào. Pha với rượu trắng để bảo quản, bạn có thể cất trữ trong tủ lạnh dùng quanh năm.
Nước dây mướp có tác dụng làm mềm da, giúp da giữ ẩm rất tốt. Loại này hợp với mọi loại da, nhất là da khô, có công dụng trị nếp nhăn và tàn nhang. (theo BS. Nông Thúy Ngọc, Nông Nghiệp Việt Nam).
9-Trị ít sữa
Người ta dùng chân giò lợn nấu với Mướp để ăn. (theo thuocdongy.com).
10-Chữa phụ nữ kinh nguyệt không thông hoặc không hành kinh được, máu xung lên tâm
Xơ Mướp đốt tồn tính uống vào lúc sáng, trưa, đói lòng, với rượu. (theo thuocdongy.com).
11-Chữa tắc tia sữa
Dùng quả Mướp khô cả hạt, đốt tồn tính, tán bột, uống với rượu, mỗi lần 8g và dùng xoa bóp ngoài. (theo thuocdongy.com).
Tài liệu cần đọc thêm

Dàn mướp trồng ở vùng quê Nam Bộ

                                                                                                           Kỹ sư Hồ Đình Hải

Tài liệu tham khảo
8-http://www.lrc-hueuni.edu.vn/dongy.../thuocdongy/.../Muop.htm

Xem Video: Công dụng của mướp



Xem Video: Mô hình trồng mướp hương

Vĩnh Bảo sưu tầm 24/5/2020

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2020

Sa kê

Cây Sa kê


Cây Sa kê

1- Tên gọi:

+ Tên khoa học: Artocarpus altilis (Parkinson) Fosberg.
+ Tên đồng nghĩaArtocarpus communis J. R. Forst. & G. Forst.
+ Tên tiếng Anh: Breadfruit
+ Tên tiếng Pháp: Arbre à pain, Fruit à pain
+ Tên tiếng Việt: Xa ke (Xa kê), Sa ke (Sa kê)
+ Các loài tương cận:
- Cây hạt bánh mì - Breadnut (Artocarpus camansi)
- Cây mít Tố nữ - Cempedak (Artocarpus integer)
- Cây mít - Jackfruit (Artocarpus heterophyllus)

2- Phân loại khoa học (Scientific classification)

Giới (Kingdom):
Thực vật (Plantae)
Ngành (Phylum):
Thực vật có hoa (Angiosperms)
Phân ngành (Division):
Hai lá mầm thực sự (Eudicots)
Lớp (Class):
Hoa Hồng (Rosids)
Bộ (Order):
Hoa Hồng (Rosales)
Họ (Family):
Dâu tầm (Moraceae)
Tông (Tribe):
Mít (Artocarpeae)
Chi (Genus):
Mít (Artocarpus)
Loài (Species):
Cây Sa kê (Artocarpus altilis)

(1) Họ Dâu tầm (Moraceae)  - còn gọi là Họ quả phức (mulberry family hay fig family) – là một họ thực vật có khoảng 40 Chi (genera) với hơn 1.000 loài (species). Hầu hết các loài phân bố ở vùng nhiệt đới, có một số ít loài phân bố ở vùng cận nhiệt đới và ôn đới. Thân của các loài cây trong họ này thường có nhựa trắng keo sệt. Quả phức bao gồm nhiều quả thực.
(2) Tông Mít (Artocarpeae) bao gồm 7 tới 12 Chi và 70 tới 87 loài.
(3) Chi Mít (Artocarpus) có khoảng 60 loài, phân bố ở vùng Đông Nam Á và các đảo thuộc Thái Bình Dương, bao gồm nhiều loài cây thân gổ lớn có quả lớn và ăn được. Các loài tiêu biểu trong Chi mít gồm có:
- Cây Sa kê - Breadfruit (Artocarpus altilis)
- Cây hạt bánh mì - Breadnut (Artocarpus camansi)
- Cây mít Tố nữ - Cempedak (Artocarpus integer)
- Cây mít - Jackfruit (Artocarpus heterophyllus)
(4)- Loài Sa kê (Artocarpus altilis) có tên tiếng Anh là Breadfruit (Cây Bánh Mì) có nguồn gốc từ bán đảo Malaysia, nó được trồng để lấy quả làm lượng thực ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á, các đảo quốc ở Tây Thái Bình Dương, sau đó được giới thiệu đến Ấn Độ, Châu Phi, Nam Mỹ và vùng Caribbe. Quả của loài này chứ khoảng 30 % tinh bột, khi quả được nấu có mùi vị như khoai tây và được dùng như một loại rau ăn quả hoặc dùng làm lương thực thay thế một phần cho gạo, lúa mì, ngô…

3- Nguồn gốc và phân bố

+ Nguồn gốc
Cây Sa Kê - Breadfruit (Artocarpus altilis) có nguồn gốc ở phần bán đảo Malaysia và Papua New Guinea. Trong thế kỷ thứ 12 người Polynesia lúc này là một đế quốc ở khu vực các đảo Tây Thái Bình Dương đã truyền bá loài cây này trên khắp các đảo quốc do họ chiếm cứ để làm cây lương thực thay thế cho gạo rất khó sản xuất ở vùng này.
Từ đó nó được lan rộng ra khắp các nước Đông Nam Á và Ấn Độ.
Cây Sa kê được mô tả khoa học đầu tiên vào năm 1595 do các nhà khoa học phương tây trong hành trình khám phá các đảo quốc ở Thái Bình Dương của họ.
+ Phân bố
Khi các đoàn thám hiểm người Châu Âu đến các đảo quốc ở Tây Thái Bình Dương họ phát hiện ra loài cây lương thực quí này và giới thiệu nó đến Châu Phi, Nam Mỹ để trồng nhằm cung cấp một nguồn lương thực giá rẻ cho những người nô lệ của các thực dân Châu Âu. Sau này nó cũng được giới thiệu đến Hawaii và hiện nay ở đảo này đã sưu tập nhiều giống Sa kê nhất thế giới.
Hiện nay có hàng trăm giống Sa kê thuộc cả hai loại có hạt và không hạt được trồng trên khắp các vùng nhiệt đới của thế giới. Những vùng và quốc gia trồng nhiều cây Sa kê trên thế giới gồm có: Đông Nam Á, Các đảo quốc ở Thái Bình Dương, Miền Bắc Australia, Ấn Độ, Madagascar, Châu Phi, Nam Mỹ và vùng Caribbean.
Cây Sa kê ở Việt Nam có thể được giới thiệu từ Thái Lan (tên Thái là Sa ke) hoặc Campuchia (tên Khmer là Sa ké) và được trồng nhiều nhất ở Đồng bằng Sông Cữu Long từ lâu đời. Hiện nay cây Sa kê được trồng khắp mọi miền đất nước kể cả ở vùng đồng bằng và cao nguyên.
Bản đồ các vùng trồng Sa kê (màu xanh)

4- Mô tả

+ Thân: Cây thân gổ lớn, cao 20-25 mét, có thể đạt 30 mét, đường kinh thân cây trưởng thành 0,6 -1,8 mét, gỗ nhẹ, chịu được mối mọt và hà nước. Cây phân nhánh mạnh sau khi trồng 2-3 năm. Tuổi thọ của cây từ 100-200 năm.
: Lá đơn, kích thước rộng, phiến lá xẻ thùy (7-9 thùy), dài 40-60 cm, rộng 30-40 cm. Lá xanh quanh năm, mặt trên là bóng, xanh đậm, mặt dưới lá xanh nhạt. Đường kính tán lá 6-10 mét. Lá non có thể dùng làm rau ăn được.
Hoa: Sa kê là loài cây đơn tính cùng gốc, với các hoa đực và hoa cái mọc trên cùng một cây. Các hoa đực ra đầu tiên và sau đó một khoảng thời gian ngắn là các hoa cái, mọc thành cụm hoa dạng đầu, chỉ có khả năng được thụ phấn sau đó 3 ngày. Cụm hoa đực không phát triển thành quả và tự héo đi. Động vật thụ phấn cho nó là các loài dơi ăn quả thuộc Cựu thế giới trong họ Pteropodidae).
Quả: Cụm hoa cái sau khi được thụ phấn triển thành quả (thực sự là quả giả), bao gồm rất nhiều quả thật tạo thành một khối tròn.
Quả giả, phức hợp phát triển lên từ bao hoa phình ra và bắt nguồn từ 1.500-2.000 hoa. Chúng được nhìn thấy trên lớp vỏ quả như là các đĩa giống hình lục giác (chóp múi). Quả Sa kê có hình dạng như quả Mít, hình tròn, trọng lượng trung bình 1,5 - 2 kg, cá biệt có những quả nặng 4-5 kg.
Phần thịt của quả Sa kê là một khối dày đặc bao gồm các hoa cái phát triển thành quả thật (có hạt hoặc không hạt) và các hoa cái không phát triển tạo thành xơ. Tất cả đều giàu tinh bột và chất dinh dưỡng và ăn được.
Cây có quả thật có hạt được trồng bằng hạt nẩy mầm. Cây có quả thật không hạt được trồng bằng cách chiết hay ghép cành từ cây mẹ.
+Hạt: Loại cây có hạt thì hạt hình thuôn (giống nhu hạt mít) nằm trong múi phát triển, khi quả còn non hạt được nấu hoặc chiên chung với thịt quả, khi hạt già có vỏ và thịt hạt cứng được dùng để ăn riêng như hạt mít.
Trồng cây Sa kê với mục đích làm lương thực chọn loại có quả không hạt. Khi trồng làm cây cảnh cả giống có hạt hoặc không hạt đều được.
Cây có hạt nông dân tự trồng dể dàng, nhưng cây không hạt phải mua cây giống từ vườn ươn chuyên nghiệp.
Lá và quả câ Sa kê


Quả và thịt quả Sa kê

5- Thành phần dinh dưỡng của quả Sa kê

Theo phân tích của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), thành phần dinh dưỡng của quả Sa Kê tươi như sau:

Giá trị dinh dưỡng trong 100 g quả Sa kê tươi
70.65 g
431 kJ (103 kcal)
27.12 g
11
4.9 g
0.23 g
1.07 g
:
22 μg
0.11 mg (10%)
0.03 mg (3%)
0.9 mg (6%)
0.457 mg (9%)
0.1 mg (8%)
14 μg (4%)
9.8 mg (2%)
29 mg (35%)
0.1 mg (1%)
0.5 μg (0%)
:
17 mg (2%)
0.54 mg (4%)
25 mg (7%)
0.06 mg (3%)
30 mg (4%)
490 mg (10%)
2 mg (0%)
0.12 mg (1%)
Ghi chú!
+ Đơn vị: μg = micrograms • mg = milligrams * IU = International units
+Tỷ lệ %: Đáp ứng nhu cầu hàng ngày của người lớn theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ.
Nguồn: Bộ Nông nghiệp Mỹ - USDA Nutrient Database

6- Công dụng của cây Sa kê

6.1- Các bộ phận của cây Sa kê dùng làm thực phẩm
+ Lá non của cây Sa kê được dùng làm rau để ăn sống, luộc, xào…
+ Quả Sa kê còn non, già hoặc chín điều được dùng như một loại rau ăn quả như bầu, bí, dưa…
+ Ở nhiều nước thuộc Thái Bình Đương, Đông Nam Á, Châu Phi và Nam Mỹ quả dược dùng làm lương thực thay thế gạo, bột mì, ngô…Để dùng làm lương thực nên chọn loại quả không hạt để dể chế biến và hàm lượng dinh dưỡng cao hơn. Quả có thể được nướng, chiên, luộc, hấp, nấu…
+ Quả chín được dùng để ăn như trái cây hoặc giả lấy bột để làm bánh, mứt…Khi quả chín vào vụ thu hoạch tập trung, ăn không hết có thể quấn với lá Sa kê và chôn trong đất để lên men chua ăn dần.
Hiện nay quả Sa kê được xem là loại trái cây cấp chất bột và chất dinh dưỡng an toàn và có lợi cho sức khỏe, được nhiều người chọn làm món ăn kiêng phổ biến. Cách chế biến quả Sa kê để ăn rất phong phú bằng cách nướng, luộc, chiên, xào, nấu, làm bánh, mứt…

Sa kê chiên

Sa kê xào

Cà ri Sa kê - gà
6.2- Các bộ phận của cây Sa kê dùng làm thuốc
Ở một số nước, rễ sa kê dùng trị bệnh hen và các chứng rối loạn dạ dày, Đau răng, bệnh về da; vỏ cây sa kê dùng trị ghẻ; nhựa cây được dùng pha loãng trị tiêu chảy và lỵ; còn lá sa kê tươi thì được dùng với lá đu đủ tươi, giã với vôi để đắp trị nhọt. Trong nước, dân gian dùng lá sa kê chữa phù thủng, viêm gan vàng da bằng cách nấu lá tươi để uống.
Theo Đông y, rễ sa kê có tính làm dịu, trị ho; vỏ có tác dụng sát trùng; lá có công dụng tiêu viêm, tiêu độc, lợi tiểu. 
Theo hướng dẫn của lương y Phạm Như Tá, các bộ phận như trái, rễ, lá, vỏ và cả nhựa của cây sa kê đều có nhiều dược tính, nên được y học, dân gian dùng làm các bài thuốc trị bệnh. Theo Đông y, thịt của quả sa kê có tác dụng bổ tỳ, ích khí. Còn hạt sa kê thì có tác dụng bổ trung ích khí, lợi trung tiện. Vỏ cây có tác dụng sát trùng. Còn lá sa kê có tác dụng kháng sinh, tiêu viêm lợi tiểu. Nhưng lưu ý, người không có bệnh thì không nên tự ý dùng lá sa kê nấu uống thường xuyên.
+ Một số cách áp dụng
Theo lương y Phạm Như Tá, lá sa kê thường được đốt thành than, tán mịn, phối hợp với dầu dừa và nghệ tươi, giã nát, làm thành bánh để đắp chữa mụn rộp. Hoặc dùng lá sa kê và lá đu đủ tươi, lượng bằng nhau, giã với chút vôi (vôi ăn trầu) cho đến khi có màu vàng dùng để đắp chữa sưng háng, mụn nhọt, áp xe.
Những người bệnh gout hay bị sỏi thận có thể lấy lá sa kê (loại lá đã già, còn tươi) độ 100 gr, quả dưa leo 100 gr, cỏ xước khô 50 gr. Cho cả 3 loại vào nồi nấu lấy nước dùng.
]Những người bị viêm gan vàng da, có thể dùng lá sa kê còn tươi chừng 100 gr, diệp hạ châu tươi 50 gr, củ móp gai tươi 50 gr, cỏ mực khô 20-50 gr. Tất cả đem nấu chung để lấy nước dùng trong ngày.
Những người bị bệnh đái tháo đường (tiểu đường) dạng 2 có thể dùng lá sa kê (loại lá đã già) chừng 100 gr, quả đậu bắp tươi 100 gr, lá ổi non 50 gr. Tất cả đem nấu chung để lấy nước uống. Có thể uống thường xuyên.
Khi bị đau răng, để chữa cơn đau tạm thời trước khi đến khám ở nha sĩ, có thể lấy rễ cây sa kê đem nấu nước ngậm và súc miệng.
Những người bị tình trạng tăng huyết áp dao động có thể dùng lá sa kê vàng (lá vừa rụng), lấy 2-3 lá, rau bồ ngót tươi 50 gr, lá chè xanh tươi 20 gr, đem tất cả nấu chung lấy nước uống trong ngày.
+ Một số bài thuốc Nam từ cây Sa kê
Ngoài ra, theo lương y Nguyễn Công Đức (giảng viên khoa Y học cổ truyền, ĐH Y Dược, TP.HCM) lá sa kê phối hợp với một số vị thuốc khác sẽ trị được một số bệnh sau:
1. Trị bệnh gút (thống phong) và sỏi thận
Dùng lá sa kê tươi (2 lá - độ 100 gr), 100 gr dưa leo và 50 gr cỏ xước khô, để nấu nước uống trong ngày.
Lấy 2 lá sa kê tươi (100 gr), 100 gr trái đậu bắp tươi và 50 gr lá ổi non. Tất cả để chung nấu nước để uống trong ngày. (Theo thaythuoccuaban.com).
Dùng 100 gr lá sa kê tươi, 50 gr diệp hạ châu (chó đẻ) tươi, 50 gr củ móp gai tươi và 20 - 50 gr cỏ mực khô. Tất cả để chung, nấu nước để uống trong ngày.
Dùng 2 lá sa kê vàng vừa mới rụng, 50 gr rau ngót tươi và 20 gr lá chè xanh tươi. Để chung nấu nước uống trong ngày.
+ Một số công dụng khác của cây Sa kê
Gỗ cây Sa kê thuộc loại gỗ xốp, nhẹ, có tỷ trọng bằng 0,3 như ít bị mối, mọt ăn nên được dùng làm các vật dụng trong gia đình. Đặc biệt trong môi trường nước gổ cây Sa kê không bị hà ăn nên được dùng làm làm ván bọc thuyền.
- Nhựa của cây Sa kê từ thân, cành, lá là chất dẻo bền, được dùng để trám ván thuyền thay cho dầu chai.

7- Lợi ích sức khỏe của quả Sa kê

Quả Sa kê không chỉ là một nguồn giàu năng lượng, nó cũng chứa một lượng cao đáng kể của chất xơ. Theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ ăn quả Sa kê có tác dụng làm giảm cholesterol xấu và triglycerides là những chất làm tăng nguy cơ đau tim. Quả Sa kê có tác dụng làm tăng cholesterol tốt (HDL) và làm giảm cholesterol xấu (LDL). Do đó quả Sa kê giúp bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tim và các cơn đau tim. 
Ngoài ra, các chất xơ được tìm thấy trong quả Sa kê còn giúp những người bị bệnh tiểu đường để kiểm soát bệnh. Nghiên cứu cho thấy rằng chất xơ có thể kiểm soát bệnh tiểu đường bằng cách giảm sự hấp thu glucose từ thực phẩm chúng ta ăn. 
Một lợi ích sức khỏe khác của quả Sa kê là nó giúp cho đường ruột hoạt động đúng cách. Chất xơ trong quả Sa kê gạt bỏ sự tích tụ của các chất cặn bả tích tụ trong thành ruột làm giảm nguy cơ phát triển của ung thư ruột kết. 
Quả Sa kê có lợi cho cơ thể vì nó giàu các axit béo Omega-3 và Omega-6. Những axit béo này rất cần thiết để giúp cơ thể và tâm trí để phát triển bình thường. Axit béo cũng kích thích da và tóc tăng trưởng, điều tiết sự trao đổi chất, thúc đẩy tái tạo và kích thích sức khỏe của xương. 
Ngoài những lợi ích sức khỏe quả Sa kê cũng có chứa Vitamin C, thiamin, riboflavin, niacin, sắt và phốt pho. Các nghiên cứu sâu hơn đang được thực hiện để phát hiện ra những lợi ích sức khỏe nhiều hơn của quả Sa kê. Nhưng trong khi chờ đợi, bạn có thể bắt đầu nên ăn nhiều thực phẩm từ quả Sa kê hơn và tận dụng những lợi ích sức khỏe dồi dào của chúng mà ta đã biết hiện nay. Chưa có phát hiện nào cho biết tác hại của quả Sa kê, do đó nó là loại thực phẩm an toàn. 

8- Trồng cây Sa kê ở Việt Nam

Trên thế giới cây Sa kê được coi như là một trong những loại cây lương thực thiết yếu (staple crop) sản xuất ra phần lớn thực phẩm cung cấp cho nhân loại. Đây là loài cây sống lâu năm, lấy quả làm lương thực. Nó sống được trên nhiều loại đất kể cả đất kiềm nhẹ, đất nhiểm phèn và nhiểm mặn. Là loài cây đa dụng, dể trồng, không cần phải chăm sóc nhiều, ít sâu bệnh và năng suất cao. Đây là loài cây quan trọng để đối phó với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nó có tác dụng chống xói mòn trên đất đồi và thay một phần lúa gạo khi đât trồng lúa bị giảm do lũ lụt. Là loài cây trồng rất cần thiết ở Việt Nam cho chiến lược an ninh lương thực lâu dài.
GS.TS. Nguyễn Văn Luật, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Nam Bộ, từng nhiều năm làm Viện trưởng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long khi có mặt ở bất cứ hội nghị lương thực thực phẩm nào cũng tranh thủ thời gian để trình bày ích lợi của cây Sa kê – Breadfruit “cây bánh mì”.
Theo ông, từ áp lực của tình trạng “biến đổi khí hậu” và hiểm họa nước biển dâng cao làm giảm diện tích trồng lúa, các nhà khoa học phải có trách nhiệm sưu tầm, phát triển tập đoàn cây lương thực, thực phẩm có ích, dễ trồng.
Trong nước lũ, có các loại cây cho chất bột hoặc chất xanh làm thực phẩm như cây lúa nổi, củ ấu, rau nhút, rau muống bè... Nhưng trong mục tiêu đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu, cây sa-kê nổi lên vị trí đáng quan tâm hàng đầu vì nó là một loại cây lâm nghiệp. 
Có 2 loại giống có hạt và không hạt. Hạt Sa kê đem nướng thơm phức, ăn được. Múi trái như múi mít, chiếm 70% của quả, là một loại bột để chế biến thành các món ăn hấp dẫn như đã nói, hoặc có thể làm các loại bánh như bánh xèo, bánh khọt, bánh trồi.
Cây trồng chỉ 1,5 đến 2 năm là cho quả, một năm 2 lứa vào mùa xuân và mùa thu. Mỗi cây sai trái hàng năm có thể cho 200 quả, năng suất mổi cây khoảng 300-400 kg quả/năm. Trồng tập trung năng suất mỗi ha có thể đạt từ 30-40 tấn quả/ha/năm. Quả chứa 25% tinh bột, 3% protein và 0,5% lipit và nhiều chất bổ như vitamin C (20 mg/100 gam); kali, kẽm và thiamin.
Ở Việt Nam cây Sa kê dược trồng nhiều ở Đồng bằng sông Cữu Long, ở các đình, chùa, sân vườn ở miền Trung, Tây Nguyên.
Cây Sa kê ở Việt Nam trước đây chủ yếu được trồng làm cây cảnh. Vai trò làm cây lương thực và thực phẩm chưa được chú ý.
Hiện nay với nhiều thông tin trên báo, đài và Internet, công dụng đa năng của quả Sa kê ngày càng được chú ý, các món ăn ngon từ quả Sa kê được người Việt ủng hộ và nhiều người tìm quả Sa kê như là món ăn kiêng và là bài thuốc phòng trị nhiều bệnh tật liên quan đến máu huyết, tim mạch, đường ruột…
Sa kê là cây lương thực và thực phẩm của tương lai ở Việt Nam !
-
Kỹ sư Hồ Đình Hải
Tài liệu tham khảo

Xem Video: Tìm hiểu về Cây Sa kê và Kỹ thuật trồng Cây Sa kê





Vĩnh Bảo sưu tầm 13/5/2020