Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

BÚN BÒ PHIÊN BẢN

BÚN BÒ PHIÊN BẢN

Bún bò Huế ở ngay xứ Huế, tôi không dám bàn. Để dân Huế tự líu lo, tự quyết định bún bò cung đình và bún bò O Rớt, thứ nào là… “nguyên bản” và cần phải giữ bản quyền.


Tôi, dân Sài Gòn sống “chui” ở Đà Lạt, chỉ nói về bún-bò-phiên-bản ở hai nơi này. Đã gọi là phiên bản thì không có chân lý, nếu có, thì đó là chân lý… riêng tư!

Đà Lạt có một quán bún bò Huế tuyệt hảo trên đường Nguyễn Du. Chủ quán còn trẻ, không phải dân Huế mà là Sài Gòn, làm ngành du lịch, lấy vợ Đà Lạt và bị câu lưu vĩnh viễn nơi xứ lạnh, nên mở quán bún bò cho…ấm.

Bún bò đựng trong tô bằng đá đã hầm nóng, thành thử bún nóng hổi suốt bữa ăn, chỉ cần ngửi hương khói đã phê rồi. Mùi và vị đúng chuẩn… riêng tư. Xin nhắc lại, hàng phiên bản không có chuẩn, nên không cần chỉnh sửa gì ráo. Nay quán đã dẹp. Tiếc! Lại nghe nói họ dời đến nơi khác, tôi mò đến ăn thử (không thấy chủ quán cũ), nhưng không ngon như trước. Càng tiếc!

Ở Sài Gòn, bún bò ngon nhất không phải ở quán mà ở nhà một người bạn. Vợ chồng y là dân Huế rặt nhưng ba phần tư đời người sống ở Sài Gòn. Dân Huế đi xa là thành quân vương quận chúa, bạn bè tới chơi thành bậc công hầu, và được đãi yến tiệc kiểu cách theo hàng quý tộc, dù là yến tiệc… bún bò. Đãi “công hầu” thế này, chân giò heo to, thịt thái miếng to, chả (cua) bự cỡ nửa nắm tay. Tôi không có ý định đánh giá món ăn qua kích cỡ, nhưng các thứ “đồ bổi” này – không biết được ngâm tẩm thế nào, nhất là chả cua, hương thơm vị dịu, khách chỉ còn nước… ăn ngậm mà nghe. Đó là chưa kể mùi sả, mùi ruốc hài hòa theo khói, như thể bay ra từ cõi…âm. Trình độ nấu bún bò cỡ này thì quân vương lụy thần thiếp cũng phải. Thôi không nói nữa! (Chú thích: Đánh giá cảm quan này lúc đã qua nửa chai vang đỏ tính theo đầu người).


Phiên bản bún bò thật đa dạng. Bún bò không bản quyền ở Sài Gòn cũng thế, dù là ở quán ăn bờ bụi, vỉa hè. Ngon dở tùy khẩu vị mỗi người, tùy trạng thái lúc no lúc đói, tùy lúc tỉnh táo hay ngà ngà, và nhất là tùy ký ức mỗi người. Cái té ghế văng giò heo của chàng trai xứ Quảng, như Ngữ Yên kể lại trong bài “Sài Gòn bún bò không bản quyền”, chừng chục năm sau chẳng phải sẽ là ký ức không thể nào quên đấy sao?.

Bún bò Huế có bản quyền. Món ăn mà cũng có bản quyền, nghe lạ. Mà đó là chuyện thật. Năm 2016 chính quyền Thừa Thiên-Huế đăng ký bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận kèm logo “Bún bò Huế”. Ai xài nhãn hiệu phải xin phép. Mặc kệ! Tôi ăn bún bò Huế từ thuở nhỏ cho đến lúc bạc đầu, khi ăn ở Sài Gòn, Đà Lạt, lúc ở Huế… Thậm chí bún bò Huế ở khu Eden, Virginia bên Mỹ cũng mò tới. Xứ Mỹ thiếu rau muống chẻ, thành thử miệng đầy bún thịt mà nhai cứ như nuốt chửng… Cũng mặc kệ! Bún bò Huế nơi nào ngon, giá rẻ là tôi xáp tới và tái ngộ dài dài, khỏi cần logo nhãn hiệu gì ráo cho rườm rà quý tộc.

Gần hai chục năm trước, tôi đi với một nữ đồng nghiệp người Mỹ ra Huế công tác. Cùng là dân an toàn thực phẩm với nhau cả, nên mình cũng phải biết điều, dẫn ẻn vào quán deluxe, bày biện khăn bàn, bình hoa, và bún bò Huế phục vụ đúng kiểu cung đình … Ăn xong, hỏi ngon không, ẻn cười hờ hững “very good”. Tôi khá rành văn hóa “very good” của Tây, nên miễn bàn ở đây. Mà tôi thấy bún bò cung đình ở đây cũng … “very good” như Tây! Tối, đi lang thang ngắm Huế, ghé quán bún bò vỉa hè đường Nguyễn Tri Phương, xóa bàn làm lại. O bún bò nấu nước lèo trong cái nồi khum khum như cơi trầu ngoài Bắc, dân Huế gọi là nồi mắt cua. Ngon sướng miệng!


Sài Gòn chẳng có thứ nào đặc sản, kể cả con người. Tứ xứ ai vô Sài Gòn ở lâu lâu một chút, là thành người Sài Gòn. Cái tên Sài Gòn như đồ…“chùa”, bá tánh xài tá lả. Tên “chùa” nhưng có đặc điểm riêng. Sài Gòn đồng hóa con người, món ăn nhập cư lẹ lắm. Phở Bắc vô tới Sài Gòn mà thiếu tương đỏ tương đen, ngò gai rau thơm giá trụng, là coi như… thua.

Sài Gòn làm gì có món ăn đặc sản, nên Sài Gòn chẳng cần “cưỡng chế” tên tuổi ai cả, nói gì tới bản quyền, logo nhãn hiệu… Bún mắm Bạc Liêu, hủ tíu Mỹ Tho, bánh canh Trảng Bàng, miến lươn xứ Nghệ, bánh đa cua Hải Phòng… vô tới Sài Gòn vẫn là cái tên món ăn đó, nhưng lại được thêm thắt vào hương vị Sài Gòn. Bún bò Huế ở Huế hương vị khác bún bò Huế ở Sài Gòn là vậy.

Thế hương vị Sài Gòn là gì? Không thể diễn đạt thành lời, nhưng có lẽ đó là “hương vị” của sự bao dung, hào sảng, phóng khoáng…, như cái nheo mắt, nhếch miệng dưới ánh nắng của thằng nhóc chơi đánh đáo.

Du khách Tây đến Huế, tò mò nhìn hoàng cung lăng tẩm thấy lạ. Nhìn một lần rồi quên. Nhớ chăng là lúc mặc áo hoàng bào, ngự ngai vàng, hai bên cung nữ hầu quạt, chụp ảnh khoe chơi…

Du khách ta lần đầu cũng thế, nhưng đến Huế lần thứ hai lại… ngại. Cung vàng điện ngọc, lăng tẩm tái tạo như phường tuồng, dân Huế còn ngán (ngẩm), huống chi người ngoài Huế như tôi, ra vào Huế cả chục lần, không buồn quay lại lầu son gác tía. Cái níu chân khách ta có khi lại là những món ăn dân dã vỉa hè, đậm mùi xứ Huế… Bún bò Huế lạ lắm, gỏi gà, cháo gà xứ Huế cũng lạ lắm. Trở lại Huế cứ như tìm lại đường xưa quán cũ.


Chữ HUẾ ăn theo chữ BÚN BÒ đi khắp thế giới. Bún bò Huế dù ở đâu, Huế, Sài Gòn, Hà Nội… hay bên quận Cam, Eden… bên Mỹ cũng chỉ là phiên bản.

Nếu ở nước ngoài, ăn bún bò Huế, thì người bản xứ sẽ tự hỏi về chữ HUẾ, Huế ở đâu, Huế thế nào. Còn với người Việt xa xứ, Huế là quê hương qua chữ “bún bò”, bất kể sinh quán ở đâu, có khi họ chưa một lần đến Huế.

Bún bò Huế, bản gốc tìm không thấy, nói chi đến bản quyền!
Vũ Thế Thành

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2020

Một tài liệu quỷ: KHO SÁCH XƯA



KHO SÁCH XƯA 


Nhiều tài liệu quý...! Đúng là quý thật,chẳng hạn các báo PHỤ NỮ TÂN VĂN, TRUNG BẮC TÂN VĂN... thì làm sao còn có được bây giờ !
Vĩnh Bảo sưu tầm 12/6/2020

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2020

Huyền thoại về muối

Huyền thoại về muối


download
Có một lần nọ, ăn sáng chung ở bệnh viện với một ông bác sĩ người Mỹ chuyên về bệnh tim mạch, khi thấy tôi rắc muối lên những múi bưởi, ông ta trố mắt: “Anh không sợ bị cao huyết áp ư?”

Nhìn ánh mắt của người đồng nghiệp, tôi nghĩ lý do cao huyết áp không phải là quan tâm chính, mà là chuyện ăn bưởi với muối! Người Mỹ thường trộn đường vào trái cây chứ không phải muối, nhất là muối ớt. Tôi dụ ông ta thử, “chàng” gật gù khen ngon, vì muối bưởi dường như ngọt hơn, bớt chua và bớt đắng.


Trong gần 50 năm qua, các bác sĩ thường khuyên chúng ta không nên ăn mặn, trong khi đó, các cụ từ ngàn xưa lại nói, ăn mặn cho chắc da, chắc thịt. Thuở bé, tôi vẫn còn nhớ những nồi cá hay nồi thịt kho mặn đắng dành cho các sản phụ nhà hàng xóm, sau khi sanh.

Những nghiên cứu cũ, hơn 100 năm trước, suy diễn, biện luận một chiều, dựa trên những quan sát không đầy đủ, cho rằng ăn mặn có hại đến sức khoẻ tim mạch, thật ra không đúng hẳn. Theo các nghiên cứu gần đây, ăn nhiều muối cũng không đến nỗi tệ như người ta hằng nghĩ.

Hiện nay, chúng ta được khuyên, nên giới hạn lượng muối tiêu thụ ở mức 6 gram mỗi ngày, tức là 2.4 gram chất sodium (natri), vào khoảng độ một muỗng cà phê muối. Nếu bệnh nhân có bệnh cao huyết áp, bác sĩ thường khuyên nên giảm muối xuống còn 2/3 muỗng cà phê mỗi ngày. So với chế độ ẩm thực của người Việt, và ngay cả những thức ăn của các chủng tộc khác, giới hạn về muối nầy là chuyện nói cho vui, vì nó đi ngược lại bản năng sinh tồn của con người nói chung.

Từ thời cổ đại, nhất là ở những vùng đất xa biển, muối là một loại nhu cầu quý hiếm, người ta tôn thờ nó, giết nhau cũng vì nó. Muối rất quan trọng cho sự sống, không riêng gì cho con người mà cho cả những loài động vật. Ở xứ Kenya, quê hương thuỷ tổ của ông Obama, những con voi thèm muối, đang đêm, lặn lội vào hang sâu, để liếm những tinh thể muối tích tụ trên vách đá. Rồi những con khỉ đười ươi gorillas, theo vết, ăn phân của các cô chú voi, cũng vì muối. Ngay đến những chú khỉ nhỏ, ngồi bắt chí bắt rận cho nhau, chỉ để liếm vào da nhau, hưởng thừa chút muối tiết ra từ mồ hôi.

Con người chúng ta, thực tế, là một bịch muối biết đi, với những tế bào ngâm trong nước muối. Chúng ta khóc ra muối, đổ mồ hôi ra muối, khi thiếu nguồn muối bổ sung là đời tàn. Nghiên cứu gần đây cho thấy, khi thiếu muối, sự ham muốn về dục tính sẽ giảm đi, đàn ông dễ bị yếu sinh lý, mệt mỏi và… xụi. Phụ nữ thiếu muối cũng giảm bớt khả năng sinh sản và ảnh hưởng đến cân lượng của em bé.

Thiếu muối còn làm cho nhịp tim tăng, làm cho thận suy, làm cho tuyến giáp suy nhược, làm tăng độ vô cảm với chất insulin, và làm tăng cholesterol. Như thế, trên lý thuyết làm hại đến hệ thống tuần hoàn, tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch.

Chất sodium là thành phần chính trong máu và tất cả dịch thủy trong cơ thể, vừa giữ thể tích cho máu, bảo đảm áp suất cho hệ thống tuần hoàn, vừa duy trì các phản ứng sinh hoá cho các tế bào. Mất muối, hệ thống tuần hoàn bị rối loạn. Riêng với hệ thần kinh, sự thay đổi nồng độ sodium qua những cái bơm nhỏ ở tế bào thần kinh, tạo ra những tín hiệu truyền dẫn trong mạng lưới thần kinh. Thiếu muối, hệ thống thần kinh bị tê liệt, não bộ sẽ bị sưng lên, gây hôn mê. Trong trường hợp bị mất máu vì thương tích hay bị phỏng nặng, chúng ta mất nước và mất muối, làm cho các cơ phận có nguy cơ sụp đổ, ngừng hoạt động. Vì thế, khi vào nhà thương, truyền nước biển là chuyện đầu tiên.

Vậy thì, tại sao hầu hết các bác sĩ lại khuyên ta nên cử muối?

Lý do vì những suy luận cổ điển dựa trên những quan sát hạn hẹp, một chiều, cho rằng ăn nhiều muối sẽ làm tăng huyết áp. Đã thế, để chứng minh cho những tiền đề không đúng, những nghiên cứu lệch lạc đua nhau tìm cách chứng minh cho một tiền đề nông cạn về cơ bản. Một vòng lẩn quẩn!

Này nhé, người ta suy luận rằng, khi chúng ta ăn nhiều muối sẽ bị khát nước, vì thế sẽ uống nhiều nước. Nồng độ sodium từ muối tăng cao làm cho cơ thể giữ nước lại để pha loãng bớt độ mặn của máu, do đó thể tích máu tăng. Một khi thể tích máu tăng, sẽ làm tăng áp suất máu, đưa đến bệnh tim mạch, tai biến não, và các nguy cơ khác.

Lý thuyết trên đây, chính tôi, cũng như hầu hết các bác sĩ đều được dạy như thế trong những năm đầu của trường thuốc. Thoạt nghe thì rất ư là “logic”, nhưng dần dà những sự thật quan sát được lại không chứng minh được cho lý thuyết nầy.

Huyết áp của con người được kiểm soát bởi nhiều động cơ mà trong đó nồng độ sodium và thể tích máu chỉ là một. Kế đến nguy cơ bị bệnh tim mạch, truỵ tim, tai biến não lại là hệ quả của nhiều lý do khác nhau, trong đó cao hyết áp chỉ là một trong những lý do ấy. Theo quan sát, 80% người có áp suất bình thường, khi ăn nhiều muối, không bị tăng huyết áp. Ngay cả những người đã bị cao huyết áp, khoảng 60% không bị ảnh hưởng vì muối.

Ở đây, nồng độ của muối, của chất sodium, cũng như huyết áp được điều chỉnh bới trái thận. Những hormone từ tuyến thượng thận aldosterone, angiotensin từ lá gan, và renin từ trái thận, tạo thành một hệ thống gọi là renin–angiotensin–aldosterone system (RAAS), làm việc với nhau để kiểm soát nồng độ muối, thể tích máu cũng như áp suất máu. Như thế người có lá gan khoẻ, trái thận tốt, đa số sẽ đáp ứng rất nhạy bén cho nồng độ muối trong máu. Cao huyết áp không đơn thuần vì ăn nhiều muối, mà vì hệ thống RAAS không làm việc hữu hiệu. Lá gan yếu, thận hư thật ra lại do những lý do khác, về nếp sống, về ẩm thực như ăn nhiều đường và tinh bột chẳng hạn.

Nói như trên đây, cũng không có nghĩa là chúng ta có thể ăn mặn càng nhiều càng tốt, nhưng người bình thường lâu lâu lỡ ăn mặn tí xíu thì cũng không hại gì, trừ trường hợp những người thuộc vào diện cao huyết áp vì “nhạy cảm với muối”, phải cử muối vì trái thận hay trái tim đã suy. Trung bình, chúng ta có thể tiêu thụ muối vừa phải, khoảng độ từ 1.5 đến 3.5 muỗng cà phê muối là vừa. Nếu thấy khát nước là đã ăn quá mặn, không tốt cho trái thận, nên bớt ăn mặn cho lần sau. Không nên để “đời cha ăn mặn” để đến “đời con khát nước” mới cử muối thì hơi trễ!
Bs Hồ Ngọc Minh / (Nguồn : nguoi-viet.com)

Vĩnh bảo sưu tầm 11/6/2020

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2020

TIẾT LỘ NHIỀU NHÂN VẬT CAN THIỆP ĐÁM TANG TƯỚNG TR...

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2020


TIẾT LỘ NHIỀU NHÂN VẬT CAN THIỆP ĐÁM TANG TƯỚNG TRẦN ĐỘ



NHÀ BÁO LƯU TRỌNG VĂN TIẾT LỘ NHIỀU NHÂN VẬT 
CAN THIỆP ĐÁM TANG TƯỚNG TRẦN ĐỘ

Người viết điếu văn: Trịnh Đình Khôi (Nhà văn, Ban Tư tưởng TƯ);
Người ép ông Vũ Mão làm trưởng ban lễ tang: Nguyễn Văn An, Chủ tịch Quốc Hội;
Người tổ chức giật băng tang: Đại tá CA Trần Đại Quang;  

Người ép phải kể tội ông Trần Độ trong điếu văn là: Phan Diễn và Nông Đức Mạnh. 
_______

NỖI OAN CỦA ÔNG VŨ MÃO

Bài của Lưu Trọng Văn


Lâu không thấy ông vào bình luận hoặc like những bài viết của gã như mọi khi,nghĩ, ông muốn né ai đó "kiên định lập trường"chọc ngoáy ông một lãnh đạo của đảng lại vào hùa cùng bọn "gây rối" như gã. Nhưng rồi cũng ngày này năm ngoái nhạc sĩ Phó Đức Phương từ Hà Nội vào Sài Gòn bàn với gã việc lấy chữ kí của văn nghệ sĩ Sài Gòn kiến nghị không cho Trung Quốc đầu tư và tổng thầu dự án cao tốc Bắc- Nam. Phó Đức Phương nói: Bản kiến nghị này được ông Vũ Mão đóng góp nhiều ý kiến quan trọng và bày cách làm sao tác động tới chính phủ và BCT. Gã nghĩ ông Vũ Mão chả sợ gì sất đâu, chắc vì sức khoẻ thôi.


Và đột ngột nhận tin ông ra đi.
Buồn!
Thương!
Tiếc!

Điều tai tiếng duy nhất mà ông vướng phải và đau lòng cho đến khi giã biệt cõi đời là lễ tang Trần Độ, ông là trưởng ban tang lễ và đọc điếu văn. Gã chứng kiến lễ tang ấy và là người đứng cạnh ông khi ông bị các lão thành cách mạng công kích việc đọc cả thiếu sót của người quá cố. Gã chứng kiến ông đau khổ thế nào,mồ hôi vã đầm đìa. Gã hỏi, anh viết điếu văn đó à? Ông lắc đầu bảo Ban Tư tưởng VH viết. Gã hỏi ai chỉ đạo? Ông chỉ ngón tay trỏ lên cao quá đầu.

Sau lễ tang gã lên Nà Rì, Bắc Cạn với gs Nguyễn Lân Dũng gặp nhà văn Trịnh Đình Khôi chuyên viên Ban TTVH, gã hù Khôi: Hà Nội đồn rầm lên là ông viết điếu văn ông Trần Độ đấy. Khôi tái mặt kéo gã ra một góc nói thầm: đúng là tôi được phân công viết, nhưng tôi thề, đoạn nói về thiếu sót sai lầm của ông Trần Độ tôi không viết.

- Vậy ai viết?

- Ông đi mà hỏi mấy bố lãnh đạo ấy!

- Phải chăng ông Vũ Mão thêm vào?

- Không! Ông Vũ Mão còn không chịu làm trưởng ban lễ tang cơ mà. Ông ấy bị ép. Tôi biết chắc chắn người chỉ đạo việc viết thêm sai lầm của ông Trần Độ là cấp trên của ông Vũ Mão.

Trước khi ra đi ông Vũ Mão đã kịp viết lại sự thật về đám tang Trần Độ và nhờ một người bạn công bố trên mạng.

Việc lực lượng an ninh dưới sự chỉ huy của đại tá Trần Đại Quang phó tổng cục trưởng an ninh đại diện của bộ CA trong ban lễ tang được lệnh từ hai lãnh đạo cao nhất của đảng là không để bất cứ băng rôn nào có chữ "thương tiếc" và cấp bậc của Trần Độ vào viếng. Và đó là lý do mà vòng hoa của tướng Võ Nguyên Giáp, của gia đình tướng Lê Trọng Tấn và nhiều tướng lĩnh khác bị ách lại, bắt viết lại.

Cũng trong bản công bố này, ông Vũ Mão đã nói thẳng người ép mình làm trưởng ban tang lễ mà ông một mực từ chối là Nguyễn Văn An lúc đó là chủ tịch QH. Và hai lãnh đạo cao nhất của đảng đã trực tiếp chỉ đạo tang lễ cũng như ép phải có phần kể tội Trần Độ là Nông Đức Mạnh và Phan Diễn.

Ông Vũ Mão đau xót với những gì mình vướng phải vì ông là người luôn kính trọng Trần Độ. Ông cũng thẳng thắn phê phán ông Mạnh là "phủi tay" để mình ông lãnh đủ làn sóng phẫn nộ của dư luận.

Gã viết những dòng này để mong bạn đọc gần xa chia sẻ phần nào nỗi lòng của ông Vũ Mão và cầu mong hương hồn của ông được thanh thản về cõi vĩnh hằng.
_____________

Phụ lục của Tễu Blog:

Không biết nhà báo Lưu Trọng Văn nhắc đến bài viết nào của ông Vũ Mão. Tìm trên mạng thì chỉ thấy bài này và không có các chi tiết chỉ đạo và thực hiện như bài anh Văn nói:


Thư ông Vũ Mão về đám tang Trần Độ

Vũ Mão


Tháng 7 năm 2007 này, vừa đúng năm năm lễ tang ông Trần Độ. Hôm nay tôi viết lại đôi dòng về một khía cạnh đã diễn ra ngày ấy. Tôi là người được Tổ chức phân công đọc Điếu văn vì tôi là Trưởng ban Lễ tang. Còn việc vì sao phân công tôi làm Trưởng ban Lễ tang sẽ được trình bày vào một dịp khác.

Điếu văn đọc tại Lễ tang Ông Trần Độ được phân công chuẩn bị khá công phu. Sau đó, có tham khảo ý kiến của gia quyến. Gia quyến đề nghị bỏ đoạn nói về thiếu sót, khuyết điểm của ông Trần Độ. Bộ phận soạn thảo cũng muốn vậy nhưng không được cấp trên chấp nhận, vì lập luận rằng, phải công bằng và khách quan giữa cống hiến và khuyết điểm. Bản Dự thảo mới, tuy vẫn nói tới thiếu sót nhưng đã được giảm nhẹ và thu gọn lại. Đã có một cuộc họp nhanh, nói cho chính xác là có cuộc hội ý ngay sau phiên họp buổi chiều của Quốc hội. Các ý kiến phát biểu sôi nổi và vẫn giữ ý kiến như cũ, tức là phải nói cả công lao và thiếu sót. Cuối cùng, các đồng chí dự Hội nghị đã vui vẻ dặn tôi: Khi đọc Điếu văn, đoạn nói về những đóng góp của ông Trần Độ thì đọc to; còn về thiếu sót, khuyết điểm thì đọc nhỏ thôi.

Mọi người đều biết tôi không muốn nhận sự phân công này, đặc biệt trong Điếu văn lại phải đọc cả thiếu sót khuyết điểm của người quá cố là điều tối kỵ, chưa ai làm thế bao giờ, nên tôi càng không đồng tình.

Tuy nhiên, tôi không có cách nào khác là chấp hành sự phân công của Tổ chức và tôi đã thực hiện nghiêm chỉnh.

Tại Lễ truy điệu, tôi đọc Điếu văn. Trong lời đọc của mình, khi nói về công lao, thành tích, cống hiến của ông Trần Độ đối với Cách mạng, đối với Tổ quốc và Nhân dân thì tôi đọc to và rõ ràng, hào hùng đầy khí thế. Tôi xúc động thực sự từ đáy lòng mình. Khi đọc đến thiếu sót tôi đọc rất nhỏ, thực chất chỉ mấp máy môi để không ai nghe thấy gì cả. Trong trường hợp này, có thể nói: “Tôi là một Nghị sĩ đã đóng vai một Nghệ sĩ xuất sắc trong diễn đạt và biểu cảm”.

Tôi tự ví von, mình là một Nghị sĩ đóng vai một Nghệ sĩ xuất sắc, âu cũng là sự hài hước để giảm nhẹ bớt nỗi đau của riêng mình. Thế mới biết, dù có dùng bất cứ một thứ nghệ thuật nào và trình độ diễn đạt có siêu đẳng đến mấy cũng không thể thay thế cái công bằng của sự thật, tình nhân ái của con người.

Hội trường Ba Đình, ngày 1/8/2007


Nguồn: Tư liệu của Nhà văn Võ Bá Cường (Trích Thời tôi sống, Nxb Hội Nhà văn, 2012)
Nguồn: https://hahien.wordpress.com/2013/11/27/thu-ong-vu-mao-ve-dam-tang-tran-do/?fbclid=IwAR3Q9cryXKvfg5rP-sYMD0K6CCM8fM73PhAOZ62EutcBbch-SE3g3pjZcfI





Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2020

CANH CHUA 3 MIỀN

CANH CHUA 3 MIỀN

Bắc – Trung – Nam, miền nào cũng có món canh chua nhưng mỗi miền lại khác như thế này đây

Ẩm thực Việt Nam mới thật đa dạng làm sao, khi mà chỉ mỗi món canh chua thôi cũng có thể khác biệt đến vậy.


Từ lâu, vị chua trong ẩm thực Việt đã là một vị được yêu thích. Từ chút chua nhẹ trong tô bún riêu, hay chén nước chấm chua ngọt dùng để ăn nhiều món, hay trước khi ăn phở, mì, bún thì người ta thường hay vắt ít chanh vào. Đặc biệt, mùa nóng là mùa mà người người, nhà nhà thèm chua để chống biến ăn, kích thích vị giác. Vào mùa này thì canh chua là món ăn không thể thiếu trong mâm cơm cả ba miền, tuy nhiên bạn có biết canh chua ba miền lại khác nhau như thế nào không?

Miền Bắc

Quả sấu là một trong những cái tên vàng trong làng nguyên liệu nấu canh chua ở miền Bắc.

Ẩm thực miền Bắc phần nhiều đều mang nét thanh đạm nên các món chua cũng có một chất thanh rất riêng. Canh chua miền Bắc không quá chua, chỉ ở mức nhè nhẹ, mang hương thơm cùng sự tinh tế. Vị chua trong canh thường được tạo nên bởi những loại trái cây đặc thù trong mùa như quả sấu, quả khế, quả me, quả dọc hoặc một số loại gia vị lên men tự nhiên như giấm, mẻ… Đặc biệt, miền Bắc có món canh sấu được xem như món canh chua mùa hè phổ biến nhất. Canh sấu ăn cùng với rau muống và vài quả cà muối xổi là một trong những cách để xua đi cái nóng bức ngày hè miền Bắc.

Canh cá nấu sấu, một món canh chua phổ biến của người dân miền Bắc.

Công đoạn nấu canh chua ở miền Bắc tỉ mỉ và tinh tế hệt như nhiều đặc sản khác ở vùng này, và có thể thay đổi tuỳ theo loại quả có vị chua được "trưng dụng". Ví dụ như quả dọc hay mọc từ độ hè và thu được nấu khá cầu kì. Quả này phải nướng chín, lột vỏ rồi nấu cho mềm, sau đó mới dầm để lấy nước chua. Vị chua này thường được dùng để nấu chung với riêu cua, giúp món canh có vị thơm hấp dẫn.

Miền Trung

Vị chua trong ẩm thực miền Trung thường có từ quả khế, quả thơm (dứa), cà chua, dưa cải… Cái chua của những món ăn miền Trung thường được lẫn thêm chút vị ngọt, hoà hợp cùng vị chát nhẹ đặc trưng. Do là vùng đất hẹp và nằm ven biển, nguyên liệu nấu canh chua của miền Trung thường thấy là các loại hải sản, vậy nên vị chua và chát là hai vị cần thiết để át đi mùi tanh, không những có tác dụng dung hoà lẫn nhau mà còn tạo nên vị ngọt hậu rất đặc biệt.

Hến nấu với khế, một món canh chua đậm chất miền Trung.

Tô canh chua miền Trung cũng thường tận dụng các loại rau củ quả muối lên men như măng ngâm chua, dưa cải, cà muối… Ngày xưa vào những mùa "thóc cao gạo kém", hay ngập lụt khiến mùa màng thất bát, người dân lại có món nhút dân dã, được xem là món ăn "con nhà nghèo" nhưng vẫn rất hấp dẫn. Nhút được làm từ quả mít, muối mặn rồi ăn kèm cơm, nhưng cũng có thể kết hợp được để tạo ra những món ăn khác như canh chua nhút. 

Nhút - một đặc sản của miền Trung.

Mặt khác, cũng như bao món ăn miền Trung khác thì canh chua nơi đây không thể thiếu vị cay từ ớt được rồi. Tô canh chua miền Trung có thể đơn giản, song thường đủ vị chua, cay, mặn ngọt.

Miền Nam

Theo quyển Ẩm thực Việt Nam và Thế giới của tiến sĩ Nguyễn Thị Diệu Thảo, Nam Bộ được đánh giá là một vùng đất trù phú với sản vật đa dạng, phong phú. Nguyên liệu làm canh chua do đó cũng nhiều hơn các vùng khác, với những sự lựa chọn từ cà chua, thơm (dứa), me, khế, chùm ruột, chanh, trái giác, trái bần… Nói tóm lại, chỉ cần có một loại cá nào đó cộng thêm ít rau xanh là người miền Nam có thể cho ra đời chục món canh, món lẩu.

Canh chua cá linh miền Nam.

Những loại quả tạo chua này ở miền Nam mọc dại khắp nơi, từ hàng cây trước nhà hay ven bờ sông, bờ ruộng đều có thể thấy. Bên cạnh đó còn có các loại lá tạo chua như lá giang, lá me, lá giấm… Mỗi tô canh chua miền Nam thường nấu chung với một loại cá nào đó tuỳ mùa, có khi là cá chốt, cá linh, có khi là những con béo núc còn ôm bụng trứng căn phồng.
Theo: Trí Thức Trẻ

Vĩnh Bảo sưu tầm 23/5/2020

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2020

Sách Giáo khoa Luân lý Lớp Đồng-Ấu

Sách Giáo khoa Luân lý

Cuốn sách cổ, cực kì quý. Được anh Thuận gửi cho qua đường Email. Lưu lại đây để đọc dần. Thời nay nói từ luân lý, e rằng xa sỉ quá. Người ta đang hò nhau học tập, và làm theo cái gì đó, để cho xã hội ngày càng băng hoại về mặt đạo đức. Bao giờ người ta mới biết quý trọng di sản của người xưa?

LUÂN-LÝ
GIÁO-KHOA THƯ

(Lớp Đồng-Ấu)


(Sách này do Nha Học-chính Đông-Pháp đã giao cho ông
TRẦN-TRỌNG-KIM, ông NGUYỄN-VĂN-NGỌC, ông ĐẶNG-ĐÌNH-PHÚC
và ông ĐỖ-THẬN soạn)


IN LẦN THỨ MƯỜI BA


NHA HỌC-CHÍNH ĐÔNG-PHÁP
XUẤT BẢN
1939

MỤC LỤC

1. Gia tộc.
2. Yêu mến cha mẹ.
3. Kính trọng cha mẹ.
4. Vâng lời cha mẹ.
5. Biết ơn cha mẹ.
6. Giúp đỡ cha mẹ.
7. Phải thật thà với cha mẹ.
8. Anh chị em.
9. Đối với ông bà.
10. Thờ phụng tổ tiên.
11. Người trong họ.
12. Tôi tớ trong nhà.
13. Người quen thuộc với nhà mình.
14. Một nhà xum họp.
15. Một nhà hòa hợp.
16. Nghĩa gia tộc.
17. Trường học.
18. Phải yêu mến thầy.
19. Phải tôn kính thầy.
20. Phải vâng lời thầy.
21. Phải biết ơn thầy.
22. Phải thật thà với thầy.
23. Chuyên cần.
24. Đi học phải đúng giờ.
25. Lòng tốt đối với bạn.
26. Phải biết chiều bạn.
27. Bênh vực kẻ yếu.
28. Giúp đỡ lẫn nhau.
29. Nghĩa hợp quần.
30. Chọn bạn mà chơi.
31. Phải sạch sẽ.
32. Có thứ tự.
33. Phải chú ý.
34. Phải làm lụng.
35. Phải chăm học.
36. Đứa học trò xấu.
37. Lười biếng (nhác nhớn).
38. Không có thứ tự.
39. Không có ý tứ.
40. Tính ương ngạnh.
41. Tính khoe khoang và hợm mình.
42. Tính nhát sợ.
43. Tính nói dối.
44. Tính nói xấu.
45. Tính mách lẻo.
46. Tính hay chế nhạo.
47. Tính ghen.
48. Tính tức giận.
49. Tàn bạo.
50. Tính độc ác.
__________________

1.                MỘT GIA TỘC




Nhà tôi có ông bà, cha mẹ, anh em và chị em tôi.

Cha tôi thì đi làm để nuôi cả nhà. Mẹ thì trông nom (1) dạy bảo chúng tôi và coi sóc mọi việc trong nhà. Chúng tôi lúc nào cũng nết na dễ bảo, để cho ông bà, cha mẹ được vui lòng.

Kể cả người trong họ thì còn có chú bác, cô dì, anh em, chị em họ, là những người cùng máu mủ với tôi.


Đại cương – Gia tộc. Người ta ai cũng có gia tộc, nghĩa là có ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì, anh em, chị em. Ta khôn lớn lên, ta học tập được thành người, cũng nhờ có gia tộc.


Con có cha như nhà có nóc


----------

(1) Coi sóc.
2.   


MỘT ĐỨA CON BIẾT YÊU MẸ



Tí lên sáu tuổi, tính rất ham chơi. Một hôm, nó đang vui chơi với lũ trẻ, thấy mẹ kêu nhức đầu lên giường nằm. Nó thôi không chơi nữa, chạy ngay lại sờ (2) trán mẹ mà hỏi rằng: “Mẹ làm sao thế?” – “Mẹ nhức đầu lắm.” – “Để con bóp đầu cho mẹ chóng khỏi nhé!”. Nó vừa nói, vừa trèo lên giường, ngồi bóp đầu cho mẹ.


Đại cương – Yêu mến cha mẹ – Cha mẹ hết lòng yêu mến con, lúc nào cũng lo tính cho con được sung sướng. Vậy kẻ làm con phải hết lòng yêu mến cha mẹ.


Dạy con con chớ quên lời,
Mến yêu cha mẹ suốt đời mới nên.


----------

(2) rờ
__________________

3.    ĐỨA BÉ NGOAN

Hợi hãy còn bé mà đã biết ăn ở như người lớn. Cha mẹ yêu nó và chiều nó lắm, vì chỉ có một mình nó mà thôi. Tuy vậy mà nó chẳng hề làm nũng bao giờ.

Khi cha mẹ hỏi han gì, nó trả lời rất cung kính; sai bảo gì, nó vui lòng làm ngay (3).

Hợi là một đứa bé có lễ phép, ai cũng yêu mến.


Kính trọng cha mẹ. Con mà yêu mến cha mẹ, thì bao giờ cũng kính trọng cha mẹ. Kính trọng nghĩa là ăn ở có lễ phép, và lúc nào cũng ngoan ngoãn (4) từ tốn , gọi (5) dạ bảo vâng.


Thờ cha kính mẹ ấy là người ngoan.



-----

(3) liền
(4) nết na
(5) kêu
4.               
ĐỨA BÉ BIẾT VÂNG LỜI


Bính và Đinh dắt (dắc) nhau đi chơi. Bính muốn ra chơi ở gần bờ ao, rủ Đinh cùng đi.

Đinh nói: "Cha mẹ tôi vẫn bảo tôi rằng: trẻ con không nên chơi gần bờ ao, vỉ lỡ trượt (6) chân ngã (bổ) (7) xuống ao thì ướt cả quần áo, và có khi chết đuối." Bính nói: "Anh cứ ra chơi với tôi, cha mẹ anh đi vắng biết đâu mà sợ". Đinh lắc đầu: "Cha mẹ tôi đã dặn câu gì, thì lúc vắng mặt cũng như có mặt, tôi chẳng dám sai lời."


Vâng lời cha mẹ. Cha mẹ là người đã trải việc đời, biết rõ điều (8) hơn lẽ thiệt. Vậy cha mẹ có dặn bảo điều gì, ta phải vâng lời.


Cá không ăn muối cá ươn,
Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư.



-----

(6) té
(7) trợt
(8) đều
__________________

5.    MỘT ĐỨA BÉ CÓ HIẾU

Một hôm, Mão đi học coi bộ buồn rầu lắm; đến giờ chơi, cứ đứng một chỗ, anh em chơi đùa (9) cũng mặc. Thầy lấy làm lạ, mới hỏi: "Con nghĩ gì mà thừ người (10) ra thế?" - Thưa thầy, sáng hôm nay mẹ con ở nhà ngã (11) đau lắm, không đi chợ được, nên con buồn."

Thầy ngoảnh lại bảo các học trò đứng xung quanh đấy rằng: "Các anh nghe đấy, Mão từng này tuổi mà đã biết thương cha mẹ như vậy, thật là đứa bé (12) có hiếu."


Biết ơn cha mẹ. Cha mẹ nuôi con, công trình khó nhọc, kể sao cho xiết. Vậy phận làm con phải biết đền ơn cha mẹ.


Công cha như núi Thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong (nghuồn) nguồn chảy ra.



-----

(9) trửng
(10) đờ
(11) té
(12) nhỏ
6.    BÉ LÀM VIỆC NHẸ




Cha anh Dần làm nghề thợ mộc, mẹ anh đi chợ bán hàng. Ngày nào cũng sáng sớm đi, đến tối mịt mới về. Anh thấy cha mẹ phải làm ăn vất vả như thế, mà anh thì chẳng đỡ đần được việc gì, trong bụng lấy làm áy náy. Nên sáng nào anh cũng dậy sớm, trước khi đi học, thì lấy chổi quét nhà, và làm những việc nhẹ để giúp đỡ cha mẹ.


Giúp đỡ cha mẹ. Ta còn ít tuổi, chưa làm được công việc nặng nề, cũng nên giúp đỡ cha mẹ để cha mẹ được vui lòng.

Làm con sớm tối phải đỡ đần cha mẹ.
__________________

7.    THÚ TỘI



Một hôm cha mẹ đi vắng, cậu Giáp ở nhà chơi đùa (13) với lũ trẻ, đánh vỡ một cái bát cổ (14).

Khi mẹ về, thấy thế, giận lắm, hỏi: "Đứa nào đánh vỡ cái bát này đây?" Cậu Giáp run sợ, nhưng đánh bạo nói rằng: "Lạy mẹ, con trót dại, lỡ tay đánh vỡ, xin mẹ tha cho con." Mẹ khoan thai bảo: "Con chơi nghịch dại thế, làm hại mất cái bát quí của mẹ. Đáng lẽ thì con phải đòn, nhưng đã biết thú thật, thì mẹ tha cho. Từ rày phải có ý tứ."


Phải thật thà với cha mẹ. Làm con phải lấy bụng thật thà ngay thẳng mà ở với cha mẹ. Hoặc có khi lầm lỗi điều gì cũng không được giả dối.


Có lỗi thì phải thú thật.



-----

(13) trửng
(14) từ xưa
8.   
NHƯỜNG LẪN NHAU


Nhà ông Bá được một gái là Lan và hai giai là Giáp và Ất.

Một hôm, có hàng xóm đem cho hai cái bánh. Ông Bá đưa cho ba con, bảo chia nhau mà ăn. Lan nói: "Chị hơn tuổi, chị không ăn, để mỗi em một cái, khỏi phải cắt ra mà chia." Ất nói: "Em bé nhất, xin nhường cho chị và anh." Giáp nói: "Chị lớn hơn thì phần chị một cái, và một cái thì phần Ất, vì nó là em bé nhất nhà. Còn tôi thì lần sau tôi hãy ăn cũng được." Ba chị em cứ nhường nhau mãi. Cha thấy vậy, lấy làm vui lòng mà bảo rằng: "Các con nhường nhịn nhau là phải, nhưng cứ thế này mãi thì làm thế nào (15)? Thôi, đưa đây thầy chia cho". Nói đoạn, người cha lấy bánh chia làm ba phần rồi đưa cho ba con.


Anh em chị em. Anh em, chị em trong nhà, nên hòa thuận và nhường nhịn lẫn nhau, chớ nên tranh giành, cãi cọ nhau để cho cha mẹ phải phiền lòng.


Anh em như thể tay chân.



-----

(15) sao
9.               
ĐỨA CHÁU NGOAN (GIỎI) (16)


Ông bà anh Ngọ đã già: ông thì đầu râu tóc bạc, bà thì răng rụng lưng còng (còm). Cha mẹ anh Ngọ ngày ngày ra đồng làm ruộng, chỉ có anh ở nhà với ông bà.

Anh rất yêu mến và kính trọng ông bà, nên lúc nào anh cũng chơi quanh quẩn ở nhà. Trẻ con hàng xóm đến rủ anh đi chơi, anh cũng không đi.

Mỗi khi ông bà gọi, thì anh dạ mà chạy ngay (17) đến. Anh chăm chỉ hầu hạ, nào lấy kính (gương) để ông xem sách, nào lấy cối (18) để bà giã trầu (xáy trầu). Anh hầu hạ được việc gì, thì trong bụng lấy làm vui vẻ lắm.


Đối với ông bà. Ông bà yêu cháu chẳng khác gì cha mẹ yêu con. Vậy cháu nên phải kính mến ông bà cũng như cha mẹ.


Có ông bà mới có cha mẹ.



-----

(16) nết na
(17) liền
(18) ống ngoáy
10.         

NHÀ THỜ ÔNG VẢI



Ngày tết nguyên đán, mọi người trong họ đều đến nhà thờ, để lễ tổ.

Hôm ấy, ông Lý và các con cũng đi lễ tổ. Khi đến nhà thờ ông Lý giảng cho các con nghe rằng: "Đây là nhà thờ của họ ta, để thờ cúng tổ tiên, vậy nay nhân ngày mồng một tết, chúng ta là cháu chắt, phải đến lễ để tỏ lòng kính nhớ."


Thờ phụng tổ tiên. Tổ tiên là những bậc sinh thành ra ông bà cha mẹ mình. Vậy mình là dòng dõi của tổ tiên, phải thờ phụng tổ tiên để tỏ lòng nhớ ơn.


Chim tìm tổ (19), người tìm tông.


-----

(19) ổ
__________________

11.             MỘT TẬP TRANH



Thìn đang giở tập tranh ra xem, thấy Xuân và Hạ là em họ đến chơi, vội vàng cất ngay (20) vào trong tráp.

Mẹ anh Thìn trông thấy, bảo rằng: "Con không nên thế (21), lấy tranh ra cho Xuân và Hạ cùng xem. Anh em trong họ với nhau, mà có mấy tờ tranh mà cũng giấu, không cho nhau xem, thế chẳng hóa ra lại tệ hơn người ngoài hay sao."

Thìn vâng lời mẹ, lấy ngay (22) tranh ra cho Xuân và Hạ xem.


Người trong họ. Đối với mọi người trong họ, bất cứ xa gần hay nội ngoại, ta phải ăn ở cho có tình thân ái, chớ nên chểnh mảng (23) thờ ơ (24) như người dưng nước lã.


Giải nghĩa. - Nội = họ nội tức là họ về bên cha. - Ngoại = họ ngoại tức là họ về bên mẹ.
Mt git máđào hơn ao nước lã.


-----

(20), (22) liền.
(21) vậy.
(23) lơ là.
(24) lạc lẽo
12.             CÁCH ĐỐI ĐÃI TÔI TỚ



Một hôn, anh Mậu đang quát mắng (25) đầy tớ, người cha thấy vậy, mới bảo rằng: "Kẻ đầy tớ ở với ta, giúp ta được bao nhiêu công việc: nào quét nhà, gánh nước, nào chẻ củi, nấu cơm, làm đủ mọi việc, thật là vất vả khó nhọc. Ví không có đầy tớ, liệu con có làm lấy được không? Vậy đối với đầy tớ, ta phải nên ăn ở cho có lượng, đừng hơi một tí (26) đã quát tháo (27) lên như thế."


Tôi tớ trong nhà. Tôi tớ ở với mình, giúp công việc cho mình, cũng như người nhà mình. Mình phải lấy bụngkhoan hòa, nhân ái, công bằng mà xử với tôi tớ.


Giải nghĩa. - Có lượng = có bụng thương kẻ dưới. - Khoan hòa = bụng rộng rãi. - Nhân ái = hiền lành.
Ngườ xét công.


-----

(25) la rầy.
(26) chút.
(27) la rầy.
__________________

13.             ĐỨA TRẺ VÔ PHÉP



Một hôm, ông Bá đánh cờ chơi với bác Phó là anh cả thằng Thìn. Ông Bá xưa nay vẫn cậy mình là người cao cờ. Hôm ấy đánh thua luôn mấy ván (28).

Thìn đứng cạnh (29), cứ mỗi lần thấy ông Bá thua, lại cười ầm lên. Bà mẹ ngồi may bên chái bên, làm thinh như không nghe tiếng. Nhưng lúc ông Bá về rồi, bà mẹ mới gọi (30) Thìn lại mắng rằng: "Lúc nãy (khi hồi) mày cười ông Bá như thế, là vô phép với với một người bạn của nhà ta. Mày hư lắm! Tối hôm nay tao không cho mày đi chùa nữa."

Thìn biết mình có lỗi, đứng cúi mặt xuống, không dám nói gí, và từ đấy trở đi nó ăn ở có lễ phép với cả mọi người.


Những người quen thuộc với nhà mình. Những người quen thuộc cha mẹ ta là những bậc tôn trưởng. Đối với những bậc ấy, ta phải kính nhường và ăn ở cho có lễ phép.


Giải nghĩa. - Tôn trưởng = bậc trên, bậc anh.
Kính bn cha cũng như cha.



-----

(28) bàn.
(29) bên.
(30) kêu.
14.  MỘT NHÀ ĐÔNG ĐỦ (31)


Anh Xuân mới thi đậu bằng tiểu học Pháp Việt. Anh về nhà nghỉ hè. Ông bà, cha mẹ, anh em, chị em đón rước anh rất là vui vẻ. Họ hàng, bà con được tin anh về, tấp nập (32) đến chơi, kẻ mừng người hỏi, ân cần vồn vã (hớn hở).

Còn anh Xuân đằng đẵng mấy tháng trời ở tỉnh, nay được về nhà, gặp cha mẹ họ hàng thì trong bụng cũng lấy làm hớn hở.


Một nhà xum họp. Những ngày đông đủ cả ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì, anh em, chị em là những ngày vui hơn cả. Cái cảnh một nhà già trẻ, xa gần được xum họp với nhau, thật là sung sướng.
Chng gì vui bng
C
ái cnh mt nhà xum hp.



-----

(31) hiệp.
(32) rộn rực.
__________________

15.             MỘT QUẢ CAM



Một người mẹ cho con một quả (33) cam. Con cầm lấy, nhưng không ăn, chạy ngay (34) ra sân đưa cho em bé. Thằng bé cầm lấy rồi nói rằng: "Tôi không ăn, để đem cho cha ăn cho mát ruột". Nói rồi, nó chạy ngay ra đồng đưa cam cho cha nó. Người cha cầm lấy, nhưng cũng không ăn, lại đem về cho vợ.

Thành ra quả cam tự tay người mẹ cho, rồi lại về tay người mẹ. Cái cảnh một nhà âu yếm nhau như vậy, thật đáng quí.


Một nhà hòa hợp (35). Người một nhà phải âu yếm hòa thuận với nhau. Có âu yếm hòa thuận, thì mới có sức mạnh và làm ăn mới được thịnh vượng.
Thun v thun chng,
t
át bđông cũng cn.



-----


(33) trái.
(34) liền.
(35) hiệp
16.             ĐỨA BÉ MẤT DẠY



Dần là một đứa bé ngỗ nghịch, cứ hay ném gạch sang nhà bên cạnh (36). Một hôm, ném thế nào (37) vào đầu con người ta. Bà cụ láng giềng chửi ầm lên. Mẹ nó nghe tiếng, gọi nó vào, vừa đánh vừa mắng rằng: "Mày làm gì để người ta chửi bới như thế? Thật là con nhà mất dạy, làm nhục đến mẹ cha. Mày thử nghĩ xem mày đã làm được công trạng gì chưa, mà để người ta sỉ nhục ông cha như thế?


Nghĩa gia tộc. Ta phải giữ lấy cái nền nếp của nhà ta, cố làm cho ông cha được vẻ vang thêm lên. Đừng làm điều gì xấu xa, phạm đến danh tiếng nhà ta.



Giải nghĩa:
- Mất dạy = không ai dạy bảo.
- Công trạng = sự nghiệp đã làm nên.
Giy rách phi gi ly l.



-----


(36) một bên
(37) làm sao
__________________

17.             PHẢI ĐI HỌC



Đồng hồ sắp đánh tám giờ. Học trò tấp nập (36) đi học. lũ năm lũ ba, tay cắp sách, vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ.

Đến trường, ai nấy vào học. Các lớp học đều rộng rãi mát mẻ.

Thầy giáo hết lòng dạy các các cậu, mà các cậu học hành rất chăm chỉ.

Sự học hành cần lắm. Ta phải rủ nhau đi học. Có học mới khôn được.


Trường học.
Khuyên con khuya sớm chuyên cần,
Học hành cố chí lập thân kịp người.

Bé chẳng học, lớn làm gì?



-----

(36) rộn rực.
18.             HỌC TRÒ YÊU THẦY



Chưa đến giờ học, học trò hãy còn chơi ở sân nhà trường. Anh Ba bảo các anh em bạn rằng: "Này các anh ạ, thầy yếu mới khỏi, chắc là thầy còn mệt; vậy hôm nay vào lớp, ta phải để trí mà nghe thầy dạy, đừng để thầy phải nói nhiều; như vậy thì thầy đỡ mệt, mà anh em ta mới tỏ được bụng yêu mến thầy." Các anh em đều nói: "Phải lắm, phải lắm."

Lúc vào học, ai nấy ngồi im (37) phăng phắc, cố ý nghe lời thầy dạy. Thầy dạy hết buổi học mà không thấy nhọc mệt, vì không phải nói to (38), không phải quở phạt ai cả. Thầy lấy làm bằng lòng lắm.


Phải yêu mến thầy. Thầy học là người thay quyền cha mẹ mà dạy dỗ ta để ta được nên người tử tế. Vậy ta phải yêu mến thầy học cũng như yêu mến cha mẹ.
Muốn sang thì bắc cầu kiều,
Muốn cho hay chữ phải yêu mến thầy.



-----

(37) nín
(38) lớn
__________________

19.             THẦY GIÁO



Kể trong bách (39) nghệ, thì nghề nào cũng quí, nhưng nghề dạy học là đáng quí hơn cả. Không có người làm ruộng, thì ta không có cơm mà ăn; không có người dệt vải, thì ta không có áo mà mặc; không có thợ nề (40), thợ mộc, thì ta không có nhà mà ở. Nhưng nếu không có thầy dạy học, mở mang trí tuệ cho ta, thì dẫu ta làm nên gì đi nữa, cũng là phường giá áo túi cơm mà thôi! Như thế thì cái đời còn có giá trị gì! Vậy ta phải tôn kính thấy học lắm mới được.


Phải tôn kính thầy. Cha mẹ sinh ta và nuôi ta, thầy dạy ta để mở mang trí tuệ cho ta. Vậy ta phải tôn kính thầy cũng như tôn kính cha mẹ.


Giải nghĩa. - Trí tuệ = khiếu để hiểu biết mọi việc. - Giá áo túi cơm = nói ví người như cái giá móc áo, cái túi đựng cơm.
Trng thy mđược làm thy.



-----

(39) bá
(40) hồ
20.             NGƯỜI HỌC TRÒ VÂNG LỜI



Thu có thói hay dậy trưa. Cha mẹ chiều (41) anh, vì anh là con một, nên không quở mắng gì. Song có người nói đến tai thầy giáo biết, một hôm thầy bảo anh Thu rằng: "Dậy trưa là một nết xấu. Nếu con dậy trưa, thì con đi học muộn (trưa), mất thời giờ mà lại làm ngăn trở cả việc học hành của bạn con nữa. Từ rày con phải tập dậy sớm mới được." Từ hôm ấy trở đi, sáng nào anh Thu cũng dậy sớm và trước giờ học, anh đã đến trường rồi. Thu là học trò biết vâng lời thầy.


Phải vâng lời thầy. Thầy dạy bảo ta, là mong cho ta được hay. Vậy ta phải vui lòng mà vâng lời thầy.
Nào là nhng k hc trò,
Ph
i nghe thy dy mà lo sa mình.



-----

(41) chìu
__________________
21.             BIẾT ƠN THẦY



Tục ta thuở trước, cứ mồng năm ngày tết là học trò phải đến tết thầy. Không những khi còn đang học, mà khi đã thôi học rồi, có khi đã làm nên danh phận, cũng vẫn phải giữ lệ ấy. Học trò trọng thấy như cha vậy. Khi thầy mất thì học trò phải tống táng, phải trông nom (42) phần mộ, và đến ngày giỗ thì phải cúng tế.

Ấy cái tục của ta ngày xưa trọng thầy như vậy.


Phải biết ơn thầy. Thầy cũng như cha. Cha mẹ thì có công sinh thành, mà thầy thì có công giáo hóa. ta phải biết ơn thầy cũng như ơn cha mẹ.


Giải nghĩa. - Sinh thành = đẻ ra và nuôi mình nên người. - Giáo hóa = dạy dỗ.
Không thày đ mày làm nên.



-----

(42) coi.
22.             CẬU HỌC TRÒ THẬT THÀ



Thầy giáo đang viết bài trên bảng. Bỗng chốc ở đàng cuối lớp có tiếng động, và mấy cậu học trò cười khúc khích. Thầy ngoảnh lại hỏi rằng: "Đứa nào nghịch (43) gì đấy?" Học trò ngồi im (44), không ai nói gì cả. Sau thấy anh Sáu đứng dậy thưa rằng: "Thưa thầy, con lỡ tay đánh rơi hộp bút (45), xin thầy tha cho con." Thầy nói: "Nghịch ở trong lớp thế là có lỗi, đáng lẽ phải phạt, song mày đã biết thú thật, thì ta tha cho. Từ rày đừng nghịch thế nữa."


Phải thật thà với thầy. Bao giờ ta cũng phải nói thật với thầy. Nếu đã làm điều gì trái, thì ta phải thú ngay. Ta không nên nói dối, vì nói dối là một thói rất xấu.
Đã lòng tri quá thì nên.



-----

(43) rắn mắt.
(44) nín.
(45) viết.
__________________
23.             ĐỨA BÉ TRỐN HỌC



Thằng Tạ ở nhà cắp sách ra đi học. Nhưng kỳ thật nó trốn học, đi chơi. Cha nó bắt được nó đang trèo lên cây để lấy tổ (46) chim, gọi (47) xuống rồi đem đến trường học mách thầy.

Thầy giáo phạt Tạ và mắng Tạ rằng: "Mày trốn học như vậy, tôi nặng lắm. Ở nhà nói dối cha, đến trường nói dối thầy. Từ rầy phải chừa, phải đi học cho chuyên cần."


Chuyên cần. Học hành phải chuyên cần. Đi học mà buổi có buổi không, chẳng những thiệt cho mình, mà lại thất lễ với thầy nữa. Học trò trốn học đi chơi là học trò hư.


Giải nghĩa. - Chuyên cần = siêng năng, chăm chỉ.
Hc tinh ư cn.



-----

(46) ổ
(47) kêu
24.             VƠ VẨN DỌC ĐƯỜNG



Thằng Mùi và con Quý cắp sách đi học. Mẹ dặn rằng: "Phải đi cho mau, đừng có nghênh (48) ở đường nhé! Tao thấy nói chúng bay hay đến trường chậm lắm đấy." - "Vâng, chúng con đi thật nhanh (lanh)."

Nói rồi, cả hai đứa cùng chạy. Chạy được một lát, chúng nó dừng lại, nghỉ bên mé đường, rồi lại chạy. Gặp thằng bé (49) chăn trâu, lại đứng nói chuyện một lúc, rồi lại chạy. Cách một quãng, gặp một người mài dao, thấy hay hay, chúng nó đứng lại xem. Xem một lát, sực nhớ đến trường lại cắm đầu chạy để đến cho kịp giờ; nhưng đến trường, thì học trò vào học đã lâu rồi.


Đi học phải đúng giờ. Đi học ta phải trông (50) đồng hồ để liệu đến trường cho đúng giờ. ta không nên vơ vẩn dọc đường. Nếu đến trễ thì không những mất thì giờ của mình, mà lại ngăn trở cả viêc học của bạn nữa.
Đi đến nơi, vđến chn.



-----

(48) vác mặt
(49) nhỏ
(50) coi
__________________

25.             MỘT NGƯỜI BẠN TỐT



Bảy. Hôm nay nghỉ, ta đi chơi đi.

Tám. Không, tôi còn muốn đi đàng này kia.

Bảy. Đi đâu?

Tám. Anh Chín mệt, nghỉ học đã mấy hôm nay, tôi muốn đến thăm anh ấy.

Bảy. Đến làm gì! Nói chuyện với người ốm (51) thì còn có gì thú?

Tám. Anh nghĩ nhầm (lầm)! Nói chuyện với bạn mà lại không thú! Dễ cứ nô đùa (52), thì mới thú hẳn!

Anh Bảy còn ngần ngừ, anh Tám lại nói rằng: "Anh thử nghĩ xem: giá anh yếu (53) mà nằm buồn một mình, thì anh có muốn cho bạn đến chơi không? Ta đến, ta kể chuyện nhà trường cho anh Chín nghe, chắc anh ấy cũng đỡ buồn."

Bảy. Ừ thì tôi cũng đi với anh.


Lòng tốt đối với bạn. Anh em bạn học cùng một trường, sớm trưa có nhau phải yêu mến nhau như anh em một nhà, ở với nhau phải giữ hết lòng trung hậu.
Bn bút nghiên mt sách mđèn.



-----

(51) đau
(52) trửng dỡn
(53) đau
26.             MỘT ĐỨA TRẺ BIẾT CHIỀU BẠN



Ba. Tôi muốn đến chơi anh Năm, anh có đến không?

Tư. Có. Nội các bạn trong trường, tôi thích anh ấy nhất, vì anh ấy biết nhường nhịn bạn, không để ai mất lòng bao giờ.

Ba. Phải, anh ấy có tính tốt, hay chiều (54) lòng bạn. Anh ấy biết rằng tôi thích đi câu, nên hễ đi chơi với tôi, anh chỉ nói chuyện đi câu cho tôi nghe. Không những thế, mà hễ anh ấy đi câu bao giờ, cũng lại rủ tôi.

Tư. Chả bù với anh Sáu nhỉ? Chỉ biết có mình thôi, mà chơi thì cứ muốn cho ai cũng phải theo mình.

Ba. Phải, như anh Sáu thế là người không tốt. Phàm chơi với bạn, có biết chiều lẫn nhau như anh Năm thì mới vui vẻ.


Phải biết chiều bạn. Anh em chơi với nhau, phải biết tính nhau và phải biết chiều nhau, thì mới được vui vẻ.
D người d ta.



-----

(54) chìu
__________________

27.             ĐÀN QUẠ



Thầy trò đi chơi, ngồi nghỉ chân trước cửa chùa. Thấy một người trèo lên cây gạo, định phá cái tổ (55) quạ. Có hai con quạ trong tổ bay ra kêu ầm lên. Một chốc (56) thấy bao nhiêu quạ tứ phía bay đến, xúm lại đánh người kia bù cả đầu, toạc cả mặt, phải vội vàng trụt xuống.

Thầy giáo thấy thế, nhân dịp (nhịp) bảo học trò rằng: "Lũ quạ biết bênh vực nhau như vậy, tức là cái nghĩahợp quần đấy. Các con nên coi gương ấy mà bắt chước. Các con phải yêu mến nhau, giúp đỡ nhau, đùm bọc lấy nhau như con một nhà".


Nghĩa hợp quần. Học trò một trường phải coi nhau như ruột thịt một nhà. Phải quây quần đùm bọc lấy nhau: phúc cùng hưởng, họa cùng đau.


Giải nghĩa. - Hợp quần = nhiều người họp nhau lại mà bênh vực nhau.
Mt cây làm chng nên non,
Ba c
ây gim li nên hòn núi cao.



-----

(55) ổ
(56) chút
28.             NGƯỜI HỌC TRÒ TỐT



Anh Năm ở xa mà hôm nào đi học cũng đúng giờ. Ở lớp học, anh có ý tứ và chăm chỉ. Bài học bao giờ cũng thuộc, bài làm bao giờ cũng hay, nên anh được ngồi trên. Đến giờ nghỉ, anh chơi tử tế với cả mọi người. Buổi tan học, anh không chơi vơ vẩn dọc đường. Ở nhà, lúc làm xong bài, anh lại giúp đỡ cha mẹ.

Thầy giáo được một người học trò tốt như anh Nam, lấy làm vui vẻ. Mà chúng tôi được một người bạn tốt, cũng lấy làm sung sướng. Ai nấy cũng muốn bắt chước anh Năm, cố làm cho được hay như anh.


Chọn (57) bạn mà chơi. Anh em bạn học, ai hay thì ta năng lui tới và cố bắt chước lấy cái hay. Ai dở thì chớ nên gần và cố làm điều hay cho người ta bắt chước.
Gđèn thì sáng.



-----

(57) lựa
__________________

29.  MỘT CẬU BÉ (58) CAN ĐẢM


Mão lủi thủi cắp (59) sách đi về nhà một mình. Bỗng có mấy đứa vô cớ đến trêu ghẹo, rồi đuổi đánh. Mão kêu khóc rầm rĩ. Tí cũng vừa đi học về đến nơi, thấy có người ăn hiếp bạn, vội vàng chạy lại bênh. Tí cũng chẳng khỏe gì, nhưng hăng lên, xông vào đánh. Lũ trẻ kia phải bỏ chạy. Tí đến cầm tay Mão, bảo rằng: "Anh đừng sợ. Đã có tôi. Tôi đưa anh về nhà."

Tí thật đã hiểu cái bổn phận của kẻ mạnh là phải bênh vực kẻ yếu.


Bênh vực kẻ yếu. Ta có sức khỏe hơn người, ta chẳng nên cậy khỏe mà ăn hiếp người. Ta phải đem sức khỏe mà bênh vực kẻ hèn yếu.
Kẻ mạnh phải bênh vực kẻ yếu.



-----

(58) nhỏ
(59) cặp
30.             MỘT CẬU BÉ CÓ LÒNG THẢO



Ở trường chúng tôi có anh Ngọ rất tử tế. Lúc ở trong lớp, ai thiếu cái bút (60) chì hoặc cái thước, thì anh cho mượn. Lúc chơi ngoài sân, anh có cái gì cũng cho bạn chơi chung và không hề cãi nhau với ai bao giờ. Hôm nọ anh Ba ngã (61) (bổ), anh vội chạy lại đỡ dậy, rồi lau mặt và phủi quần áo hộ (62). Hôm qua lúc tan học, trời mưa, Năm quên đem dù đi, anh bảo Năm cùng đi một dù với anh và đưa về đến tận nhà.

Anh giúp được ai việc gì, thì anh không nề hà (63) bao giờ.


Giúp đỡ lẫn nhau. Anh em cùng học một trường phải giúp đỡ lẫn nhau. Khuyên bảo nhau đã là hay rồi, mà giúp đỡ lẫn nhau lại là hay hơn nữa.


Giải nghĩa. - Không nề hà = không quản công.

Chị ngã em nâng.



-----

(60) cây viết
(61) té
(62) giùm
(63) suy nệ
__________________

31.             ĐỨA BÉ Ở SẠCH



Khiết là một đứa bé ở sạch. Sáng dậy nó rửa mặt, rửa cổ, rửa tay. Rồi chải đầu, mặc áo, đi giày thật tiêm tất.

Khi nó viết, nó giữ không dể mực dây ra tay. Sách vở của nó bao bọc sạch sẽ.

Khi nó chơi, nó giữ gìn quần áo, không để lấm, không làm rách.


Phải sạch sẽTa phải giữ thân thể, quần áo, sách vở cho thật sạch. Có sạch thì người ta mới ưa. Bẩn thỉu (64) (nhớp nhúa) thì ai cũng ghét.


Giải nghĩa. - Tiêm tất = gọn gàng, tử tế.
Đói cho sch, rách cho thơm.



-----

(64) dơ dáy
32.             ĐỨA BÉ CÓ THỨ TỰ



Năm là một đứa bé có thứ tự. Áo nó treo trên mắc, đồ chơi có xếp vào hòm (65); sách, vở, bút, thước nó để trên bàn, hay xếp trong cặp; vật nào chỗ ấy, đầu vào đấy cả. Nên không hay mất mát bao giờ, và khi cần đến cái gì là thấy ngay (66), không phải mất công, mất thời giờ đi tìm.


Có thứ tựĐồ vật xếp đặt có ngăn nắp, công việc làm ăn có trước sau, thế là có thứ tự. Thứ tự là một tính tốt. ta phải tập cho có thứ tự ngay từ kúc còn bé.
Vic làm phi có th t.



-----

(65) rương
(66) liền
__________________

33.             ĐỨA BÉ ĐÃNG TRÍ



Sáu là đứa bé hay đãng trí. Ở lớp học, nó chỉ thích nói chuyện, hay là nghênh (67) ra ngoài sân.

Sáng hôm nay, thầy giáo hỏi học trò:"Các anh có biết con vật nào là vật to hơn cả không?"

Sáu không để tai nghe câu hỏi của thầy, đứng dậy đáp ngay rằng: "Thưa thầy con ạ".

Anh em cười ầm lên.

Thầy giáo cũng bật cười mà bảo rằng: "Mày là con vật à? Nếu mày học hành cứ lơ đễnh như thế, thì ngày sau *** nát, cũng chẳng khác gì con vật".


Phải chú ý. Lúc học, ta không nên đãng (lãng) trí. Ta phải chú ý vào lời thầy giảng, thì học mới chóng tấn tới.
Hc mà không chúý,
th
ì chng hđược gì c.



-----

(67) vác mặt
34.             AI AI CŨNG LÀM VIỆC



Cha anh làm việc cả ngày ở ngoài đồng hay trong xưởng thợ. Mẹ anh bán hàng ở ngoài chợ. Chị anh coi sóc các anh và trông nom (68) cơm nước.

Thợ nề làm nhà; thợ rèn rèn sắt; thợ dệt dệt vải; thợ may may quần áo. Thầy thuốc chữa bệnh; thầy giáo dạy học trò.

Con ong gây (gầy) mật; con chim làm tổ (69) hay đi kiếm mồi về nuôi con.

Các anh xem có phải là muôn vật trong trời đất này đều làm việc cả không. các anh còn nhỏ, chưa làm được việc gì, nhưng các anh cần phải học hành để ngày sau làm được việc có ích cho mình, cho xã hội.


Phải làm lụng. Ở đời ai cũng phải làm. Có làm thì mới có ăn. làm việc là cái bổn phận thứ nhất của người ta.


Giải nghĩa. - Xưởng = nơi có nhiều thợ làm việc. - Gây = cũng nghĩa như làm.
Có khó mi có miếng ăn.



-----

(68) coi
(69) ổ
__________________

35.             BUỔI HỌC CUỐI CÙNG



Một buổi chiều, cơm nước xong, thầy anh Sửu gọi anh mà bảo rằng: "Ta nghe trong mình nhọc mệt, mà mẹ con thì cũng già yếu rồi. Vậy từ mai trở đi thì con thôi học, ở nhà để giúp đỡ thầy mẹ."

Mấy lời đó làm cho anh Sửu buồn bã vô cùng. Từ khi anh đi học, nào có thiết gì đến học! Anh chĩ mê chơi, nay nghỉ, mai nghỉ. Bây giờ phải thôi học, thành ra dở dang, chẳng biết gì cả. Ấy cũng vì lúc đi học, anh không chuyên cần chăm chỉ nên mới chịu *** cả đời.


Phải chăm học. Ta phải chăm học. Không nên hơi váng đầu, sổ mũi đã lấy nê (cớ) mà xin nghỉ. Việc gì nên làm thì làm ngay, đừng để chậm trễ.
Có chăm hc thì mi nên.

36.             ĐỨA TRẺ MẤT DẠY



Thằng Đông là đứa trẻ hư lắm. Nó lơ đễnh và làm biếng, nên học hành không tấn tới. Nó hay khoe khoang và kiêu ngạo, hay sinh sự cãi nhau với anh em, nên không ai muốn chơi với nó.

Ở nhà, cha mẹ bảo nó điều gì nó cũng không nghe. Thằng Đông lại vô phép vô tắc, nói dối nói dá (trá), nên ai cũng ghét. Nếu nó không chịu sửa mình lại, thì ngày sau sẽ khổ đến thân.


Đứa học trò xấu. Đứa học trò xấu làm phiền cho thầy và cho cha mẹ, làm gương xấu cho anh em bạn ta. Ta không nên chơi với nó.
Gn mc thìđen.
__________________

37.             THẰNG LƯỜI



Học trò đã vào học được một lúc rồi, mới thấy thằng Đông mở cửa vào. Nó đến trễ vì nó ngủ trưa. Ấy là còn khá, có hôm nó còn giả ốm (70) để nghỉ học ở nhà. Nó lười (71) biếng như thế, cho nên đi học đã hơn sáu tháng, mà chưa đọc được, chưa viết được quốc ngữ. Thầy giáo quở phạt nó luôn.

Nếu nó không chăm bọc, thì rồi nó chịu *** suốt đời.


Lười (72) biếng (nhác nhớn). Người lười (73) đã không làm được việc gì, lãi còn ăn hại. Ai lười (74) biếng thật là đáng khinh bỉ.
Cn hu công, hí vôích.



-----

(70) đau
(72) biếng nhác
(73), (74) làm
38.             ĐỨA BÉ KHÔNG CÓ THỨ TỰ



Thằng Lân là một đứa bé nết na, nhưng nó phải cái tật không có thứ tự.

Trong phòng nó ở, đồ đạc, chăn (75) chiếu ngổn ngang. Quần áo bạ đâu bỏ đó. Giày thì chiếc ở gậm giường (76), chiếc ở xó cửa. Trên bàn, sách vở bề bộn, quyển (77) thì rách gáy, mất bìa, quyển thì nhọ nhem (lọ lem) những mực. Bình mực thì không có nút, quản bút (78) thì không có ngòi.

Thằng Lân không có thứ tự như thế, nên lúc nó cần đến cái gì, phải tìm (79) mãi mới thấy.


Không có thứ tự. Đồ vật để bừa bộn, công việc làm hồ đồ, thế là không có thứ tự. Người không có thứ tự thường hay rối việc, mất thời giờ.
Không có th t,
Th
ì hay tn công hng vic.



-----

(75) mền
(76) dưới sàn
(77) cuốn
(78) viết
(79) kiếm
__________________

39.             MỘT ĐỨA BÉ LƠ ĐỄNH



Giấp có tính hay nghịch và làm cái gì cũng không có ý tứ. Ở bên láng giềng, người ta mua cát về đổ thành đống, để sắp làm nhà. Giấp đi qua hay nhảy vào giữa đống cát chơi.

Một hôm, thợ nề đem vôi trộn với cát. Giấp không biết, cứ quen như mọi ngày, chạy từ xa nhảy vào giữa đống vôi, ngập quá đầu gối. Giấp không sao lôi chân lên được, kêu la rầm rĩ. Người láng giềng nghe tiếng, ra kéo nó lên, quấn áo lấm bết những vôi.

Về nhà, cha mẹ trông (80) thấy, mắng đánh, Giấp kêu van xin chừa, từ nay không dám lơ đễnh (81) như thế nữa.


Không có ý tứ. Không có ý tứ thường làm hỏng (82) (sai việc), và có khi nguy đến thân. Vậy làm việc gì ta phải có ý tứ và cẩn thận.
Làm vic gì cũng phi cóý t.



-----


(80) ngó
(81) đĩnh
(82) hư
40.             MỘT ĐỨA TRẺ ƯƠNG NGẠNH



Ngọ là đứa trẻ tinh nhanh (lanh), nhưng tính (83) hay ương ngạnh. Nó đã làm cái gì, thì ai bảo làm sao nó cũng không nghe. Đã nhiều lần ở nhà bị cha mẹ đánh mắng vì nỗi cứng đầu cứng cổ.

Một hôm, đang buổi học, nó nói chuyện. Thầy bảo ngồi im (84), nhưng nó cứ nói. Thầy bắt nó đứng dậy, nó không đứng. Lúc tan buổi học, nó phải phạt ở lại hơn nửa giờ mới được về.

Nếu nó cứ ương ngạnh như thế, rồi có ngày phải đuổi, không được học nữa.


Tính ương ngạnh. Đứa trẻ ương ngạnh là đứa trẻ làm cái gì cũng tự ý mình, ai nói thế nào cũng không được. Ương ngạnh thì ai cũng ghét.

Ta nên nghe lời những bậc phụ huynh dạy bảo, thì rồi mới nên được người ngay lành.


Giải nghĩa. – Phụ huynh = phụ là cha, huynh là anh. Nói rộng là bậc ngang với cha với anh mình.
Cá không ăn mui cáươn.



-----


(83) tánh
(84) nín lặng
__________________

41.             TÍNH KHOE KHOANG VÀ HỢM MÌNH




Dần là con ông Bá, nhà giầu. Một hôm, Dần đóng quần áo vào, rồi đi ra đường, có ý khoe mình có quần áo đẹp. Gặp lũ anh Tí là bạn học, đến rủ Dần đi chơi. Dần lên mặt, nói rằng: “Chúng bay ăn mặc như thế kia, tao nào thèm đi chơi với chúng!” Bọn anh Tí mắng lại rằng: “Mày tưởng mày có quần lành áo tốt, là mày hơn người hay sao? Mày là một thằng hợm mình chơi với các công tử.” Nói xong, bọn anh Tí đem nhau đi chơi, chuyện trò vui vẻ, để Dần lủi thủi với cái hợm của mình.


Tính khoe khoang và hợm mình. Những kẻ hay khoe khoang và hợm mình (85) thì thật là dởm (86) và khó chịu. Những kẻ như thế thì không ai ưa, mà ai cũng khinh bỉ.

Giải nghĩa. – Dởm = làm cái gì đáng chê cười. – Hợm mình = cậy mình có quần áo đẹp hay có nhiều tiền của mà lên mặt. – Công tử = con các quan.

Ch nên khoe mình.



-------


(85) kiêu căng.
(86) rởm.
42.             THẰNG BÉ NHÁT SỢ




– Ba, ra vườn lấy cái rổ đem vào đây cho tao.

– Thưa mẹ, con sợ lắm.

– Sợ cái gì?

– Trời tối lắm, con sợ ma.

– Ai bảo mày có ma? Ma ở đâu? Chỉ nói nhảm (87) thôi. Đi ra xách cái rổ vào đây cho tao. Con trai đâu mà nhát (non gan) thế.

Ba nghe lời mẹ, chạy ra vườn lấy cái rổ vào, ra dáng bạo dạn lắm.


Tính nhát sợ. Tại làm sao mà người ta hay sợ? Sợ là tại có tính nhu nhược và không chịu nghĩ. Vậy khi có cái gì làm cho ta sợ, thì ta hãy xét xem có thật đáng sợ không đã, đừng có sợ hão (88) mà người ta cười là nhát.

Giải nghĩa.
 – Nhu nhược = nhu là mềm; nhược là yếu. Nhu nhược là hèn yếu, không có can đảm.
Đa tr có can đm không bao gi
s
 cái không đáng s.



-------


(87), (88) bậy.
__________________

43.             ĐỨA TRẺ NÓI DỐI




Ất là con người hàng nước (89) ở trên bờ đê. Nó có tính hay nói dối. Đã nhiều lần nó kêu cháy để đánh lừa (90) người ta mà cười.

Một hôm, cha mẹ nó đi vắng, lửa bốc lên cháy nhà. Nó chạy vào trong làng kêu cháy rầm lên. Nhưng người ta tưởng là nó lại nói dối để đánh lừa, cho nên không ai ra cứu. Đến khi biết là cháy thật, thì chữa không kịp nữa.

Bấy giờ, Ất mới biết nói dối là dại và thiệt cho mình.


Tính nói dối. Nói dối là bụng nghĩ một đàng, mồm (91) nói một nẻo. Ta không nên nói dối bao giờ. Nói dối là một tính rất xấu.
Mt li nói di, sám hi by ngày.



-------

(89) bán quán.
(90) nói gạt.
(91) miệng.

44.             MỘT ĐỨA TRẺ HAY NÓI XẤU




Một hôm, ở nhà ông Mậu có mấy người đang ngồi uống nước, nói chuyện. Ông Mậu trông thấy anh Bính đi qua cửa, mới trỏ mà nói rằng: "Thằng bé kia là con ông Hai ở gần đây. Nó ngoan (92), lại học giỏi nữa. Nghe đâu thầy giáo khen nó lắm." Anh Ngọ ngồi gần đấy, thấy cha khen anh Bính, liền nói rằng: "Cha đừng tưởng Bính học giỏi đâu, vừa hôm kia đây, nó không thuộc bài, bị thầy mắng. Người ta lại còn nói nó có tính tham ăn nữa đấy."

Ông Mậu trừng mắt lên, mắng Ngọ rằng: "Không biết chuyện thằng Bính thật hư thế nào, nhưng hãy biết mày nói xấu nó, mày là một đứa hư rồi. Mày hãy giữ mình cho trong sạch, chớ nên nói xấu người ta."


Tính nói xấu. Đem chuyện xấu của người ta ra mà nói làm cho người ta mất danh giá, là mình xấu bụng không có độ lượng. Ta chớ nên nói xấu ai bao giờ.


Giải nghĩa. – Độ lượng = bụng rộng rãi.
Soi chân mình ri hãy soi chân người.



-------

(92) nết na.
__________________

45.             MỘT ĐỨA TRẺ XẤU BỤNG



Anh Nhị nghỉ học một ngày, hôm sau đến trường nói dối thầy rằng: "Hôm qua con sốt (93), không đi học được." Nghiêm ngồi ở cuối lớp, muốn làm cho Nhị phải phạt, đứng dậy mách rằng: "Thưa thầy, anh Nhị nói dối đấy ạ, hôm qua con trông thấy anh ấy đi câu với một người nữa ở ngoài bờ sông." Thầy giáo ngoảnh lại mắng Nghiêm rằng: "Tao có hỏi mày đâu, mà mày nói? Thằng Nhị nói dối có tội đã đành, nhưng mày mách lẻo như thế thì mày là đứa vô hạnh."

Cả lớp nhìn Nghiêm ra dáng khinh bỉ lắm. Nghiêm thẹn đỏ mặt, cúi gầm đầu xuống.


Tính mách lẻo. Đứa trẻ hay mách lẻo làm cho anh em bạn phải phạt, là đứa trẻ bụng dạ hèn mạt, làm điều đáng khinh bỉ. Ta không nên mách lẻo.


Giải nghĩa. - Vô hạnh = vô là không, hạnh là nết tốt; nghĩa là không có nết tốt.
Vic mình mình biết,
vi
c người người hay.



-------

(93) nóng lạnh
46.             ĐỨA TRẺ HAY CHẾ NHẠO



Giờ nghỉ học, học trò ra chơi ngoài sân. Giáp chạy vấp, ngã vào một cái cây, đứng ôm bụng mà khóc. Anh Nhân và mấy người nữa chạy lại săn sóc hỏi han.

Đinh thấy thế thì đứng cười và lại chế Giáp rằng: "Anh đau bụng đấy à? Sao mà kêu khóc thế?" Chẳng ngờ được một lát, Đinh cũng trượt chân ngã, đứng nhăn nhó kêu đau. Anh em thấy thế, ai cũng cười chế lại rằng: "Thế bây giờ anh đau răng đấy à?"

Đinh vừa mới chế Giáp xong, bây giờ lại bị người ta chế mình, thật là đáng kiếp.


Tính hay chế nhạo (nhạo cợt). Ta chớ nên chế nhạo ai bao giờ. Khi ta thấy ai gặp việc chẳng may, thì ta phải săn sóc hỏi han, tìm cách hiúp đỡ nhười ta. Như vậy mới phải đạo làm người.
Cười người hôm trước,
h
ôm sau người cười.
__________________

47.             MỘT ĐỨA TRẺ HAY GHEN



Mão thấy mẹ yêu em hơn mình, ra bộ ghen tị. Bà mẹ biết ý, mới gọi Mão mà bảo rằng: "Em con nó còn dại, chưa biết gì, cho nên mẹ phải yêu nó, chiều nó. Con thì đã lớn rồi, đã biết nghĩ, có lẽ nào lại muốn mẹ coi cũng như đứa con nít hay sao. Thế mà bây giờ con thấy mẹ yêu em, thì con lại có ý không vui là nghĩa làm sao? Con phải biết rằng: "Ghen tị như thế là một thói xấu, phải chừa đi mới được."


Tính ghen. Anh em, ai được sung sướng thì ta mừng; bạn hữu ai học hành được tấn tới thì ta vui. Ta chớ nên ghen tị (ghen ghét) với ai, chớ nên đem lòng làm hại ai bao giờ.

Ghen ghét là mt thói xu.



48.             VÌ TỨC GIẬN MÀ BỊ ONG ĐỐT



Đinh ra chơi ngoài vườn, thấy ở bụi cây có cái hoa đẹp (94), chạy lại hái, để vào mũi ngửi. Chẳng ngờ có con ong ở trong hoa (95), đốt (96) ngay vào cằm, rồi bay đi mất.

Đinh tức giận đuổi đánh con ong. Bỗng thấy gần đấy có tổ (97) ong, càng giận thêm, liền lấy hòn đá ném vào giữa tổ. Đàn ong bay ra, xúm lại đốt Đinh sưng cả mặt.

Ấy cũng vì tức giận mà thành phải chịu đau.


Tính tức giận. Khi ta nói điều (98) gì, hay làm việc gì, ta phải giữ mình, đừng có nóng nảy, tức giận. Tức giận lên thì thường quên mất cả lẽ phải, có khi sinh ra làm xằng (99).

No mt ngon, gin mt khôn.



-------


(94) bông tốt
(95) bông
(96) chích
(97) ổ
(98) đều
(99) quấy 
__________________
49.             MỘT ĐỨA TRẺ TÀN BẠO



Một hôm, Định trông thấy con chó nhà láng giềng chạy vào nhà mình, nó liền đóng cửa lại, rồi lấy gậy đuổi đánh. Con chó kêu rầm lên và chạy đánh đổ vỡ cả đồ đạc. Định thấy vậy lại càng đuổi đánh mãi. Sau con chó tức lên, nhảy vào cắn chân Định một miếng thật đau. Định ngồi ôm chân mà khóc.


Tàn bạo. Tàn bạo là một tính rất xấu. Người ta đối với kẻ hèn yếu hay giống súc vật, bao giờ cũng phải nhân từ thì mới phải đạo.
Ta ch nên tàn bo.



-------


(100) bể
50.             MỘT ĐỨA ĐỘC ÁC



Thằng Quý là một đứa độc ác, chơi với ai chỉ tìm cách hại người ta.

Một hôm, ở lớp học, nó lấy bút (101) của Nhân ngồi bên cạnh, cắm vào khe bàn, làm cho ngòi bút quằn lên. Đến khi thầy giáo bảo học trò viết ám tả, Nhân cầm đến bút, thì thấy ngòi bút hỏng, không biết làm thế nào, mới ngồi khóc.

Trước thầy giáo đã trông (102) thấy thằng Quý nghịch bút lúc ấy mới biết là bút của Nhân, bèn gọi (103) Quý lên mắng và bắt phạt, rồi lấy ngòi bút khác cho Nhân.


Tính độc ác. Những đứa độc ác thì ai cũng ghét. Bé mà độc ác thì lớn lên thành ra người bất nhân.


Giải nghĩa. - Bất nhân = bất là chẳng, nghĩa là bạc ác, không lương thiện.
 hin gp lành, ác gác.



-------

(101) viết
(102) ngó
(103) kêu
__________________

MỤC LỤC

1. Gia tộc.
2. Yêu mến cha mẹ.
3. Kính trọng cha mẹ.
4. Vâng lời cha mẹ.
5. Biết ơn cha mẹ.
6. Giúp đỡ cha mẹ.
7. Phải thật thà với cha mẹ.
8. Anh chị em.
9. Đối với ông bà.
10. Thờ phụng tổ tiên.
11. Người trong họ.
12. Tôi tớ trong nhà.
13. Người quen thuộc với nhà mình.
14. Một nhà xum họp.
15. Một nhà hòa hợp.
16. Nghĩa gia tộc.

17. Trường học.
18. Phải yêu mến thầy.
19. Phải tôn kính thầy.
20. Phải vâng lời thầy.
21. Phải biết ơn thầy.
22. Phải thật thà với thầy.
23. Chuyên cần.
24. Đi học phải đúng giờ.
25. Lòng tốt đối với bạn.
26. Phải biết chiều bạn.
27. Bênh vực kẻ yếu.
28. Giúp đỡ lẫn nhau.
29. Nghĩa hợp quần.
30. Chọn bạn mà chơi.
31. Phải sạch sẽ.
32. Có thứ tự.
33. Phải chú ý.
34. Phải làm lụng.
35. Phải chăm học.

36. Đứa học trò xấu.
37. Lười biếng (nhác nhớn).
38. Không có thứ tự.
39. Không có ý tứ.
40. Tính ương ngạnh.
41. Tính khoe khoang và hợm mình.
42. Tính nhát sợ.
43. Tính nói dối.
44. Tính nói xấu.
45. Tính mách lẻo.
46. Tính hay chế nhạo.
47. Tính ghen.
48. Tính tức giận.
49. Tàn bạo.
50. Tính độc ác.

Vĩnh Bảo sưu tầm 22/5/2020