Thứ Năm, 25 tháng 3, 2021

ĐÍT BỒ TRÔN VẠI ĂN HẠI CHỒNG CON

ĐÍT BỒ TRÔN VẠI ĂN HẠI CHỒNG CON


Mông Square Image
                    : ST
Hoàng Tuấn Công Một số hình ảnh, từ ngữ trong bài viết, có thể gây dị ứng cho những người cảm. You read balance before see. Trân trọng. Trong khá nhiều từ điển và tục ngữ Việt Nam mà chúng tôi có trong tay, duy nhất “ Từ điển tục ngữ Việt ” (Nguyễn Đức Dương-NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh-2010) thu thập và giải thích : “ Dít bồ kết, ăn hại chồng con . Dít mà to như cái bồ, (lỗ) trôn mà lớn như cái vại (là hai nét hay gặp ở đàn bà) chuyên ăn hại chồng con ”.






Tiếc rằng, tác giả “ Từ điển tiếng Việt ”, mới dừng ở mức diễn giải nội dung câu tục ngữ, chứ không giải thích tại sao dân gian lại nói như vậy. Other face, how to do not precision.
Chúng tôi không tìm thấy hình ảnh minh họa của cái bồ kết trong câu tục ngữ.
Nhưng về cơ bản, cái bồ lúa (đến gấp đôi lần) cũng giống
hình dạng cái bao đựng thức ăn của người Thái.
Ảnh: St

Hình dáng cái vại
Ảnh:ST
Kiểu mông "đít bồ trôn vại"
Ảnh: ST

Cụ thể, “đít” (trong “đít bồ”); “trôn” (trong “trôn vại”), đều chỉ cái “đít”, "mông", “mông đít”, "khu", "khu đít", "trái đít"..., (“khối thịt dày và chắc ở hai bên hậu môn; Ăn rồi cắp đít ra về, Thấy hàng chả chó lại lê trôn vào-cd”-Từ điển tiếng Việt-Vietlex), chứ không phải “đít” chỉ cái “mông”, còn “trôn” lại là “(lỗ) trôn” (tức “lỗ đít”, “hậu môn” của người, như Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương giải thích).

Có lẽ, Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương cho rằng, "(lỗ) trôn" lớn như cái vại", nên "ăn lắm, ỉa nhiều" ("ăn hại chồng con"). Nhưng, về hình tượng, không ai ví “(lỗ) trôn” to như cái vại. Vì trôn vại kín mà bằng, không hề có lỗ. Mặt khác, đây là câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm “nhân tướng học dân gian”, cụ thể là “tướng mông” (đồn bộ tướng-臀部相), chứ không phải tướng “(lỗ) trôn” (to, nhỏ). Lỗ trôn đàn hồi, to nhỏ, giãn rộng hay đóng kín, còn tuỳ theo cơ chế hoạt động. Và nhất là không ai xem tướng qua quan sát “(lỗ) trôn” cả. Thế nên, ở dị bản thuộc mục chữ cái C, chính Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương đã giải thích: “Chân vò đít vại ăn hại chồng con: Chân mà to như cái vò, mông mà to như cái vại (là hai nét hay gặp ở những ả đàn bà chỉ giỏi ăn hại chồng con)”. Theo đó, “đít vại” hay “trôn vại” đều chỉ cái mông, cái đít, theo lối nói ngoa dụ của dân gian mà thôi[1].

 Trở lại với nội dung câu tục ngữ.

Người xưa tổng kết, “Đàn bà to mông, đàn ông to vai”. Đàn ông sức dài vai rộng, nên vai, lồng ngực phải vạm vỡ ; đàn bà đảm nhận thiên chức sinh đẻ, nên mông cần nở nang, khung xương chậu phải phát triển (phong nhũ, phì đồn-豐乳肥臀-Vú đầy, mông nở).
1.Mông vuông (phương hình); 2.Mông tròn (viên hình); 3.Mông trái tim (tâm hình); 4.Mông chữ V
Ảnh: ST

 Về “tướng mông” (chủ yếu) người ta chia làm ba loại:
1.Mông vuông (phương hình đồn-方形臀), còn gọi mông chữ H.
 2. Mông tròn (viên hình đồn-圓形臀), còn gọi mông chữ O.
 3. Mông trái tim (tâm hình đồn-心形臀), còn gọi mật đào đồn-蜜桃臀 (mông trái đào), hoặc mông chữ A.
 4. Mông chữ V.
Mông trái tim
Ảnh: ST 

Xét về mặt mỹ học và nhân tướng học:

-Kiểu “mông vuông”, trên dưới bằng nhau, đại cơ nhỏ; cơ phát triển về hai bên; “mông chữ V”, trên rộng dưới hẹp (phía trên mông rộng; dưới mông [phần trái đít] beo lại, chúm lại). Hai loại mông này nhìn xấu, không có đường nét gì, biểu hiện cơ mông hoặc khung xương chậu nói chung kém phát triển; mông to mà thẳng đuột (hầu như không phân biệt phần mông với eo lưng).



Mông vuông
"Mông vuông". Phía dưới của mông vuông, bằnglép, trông như "đít bồ, trôn vại"
Ảnh: ST

Xét hình dáng, thì bồ và vại cũng to thô, bằng phẳng, trùng trục từ trên xuống dưới đáy, không hề có dáng phình, cong (“Cháy nhà hàng phố, bình chân như vại”-tục ngữ). Thế nên, “đít bồ, trôn vại”, hay “chân vò, đít vại”, là kiểu mông to mà kém nở nang, không có đường nét, khi ngồi thì bằng, thẳng đuột, to thô như đít bồ, trôn vại. Câu tục ngữ “Cả vú to hông, cho không chẳng màng”, chính là chê tướng đàn bà “đít bồ trôn vại”, hông to bằng mông, sồ sề, cục mịch, lười vận động.
Mông tròn (còn gọi "mông chữ O") không xấu, nhưng cũng không đẹp
Ảnh: ST

-Kiểu “mông tròn”, cơ mông khá nở nang, phát triển săn chắc, hai “trái đít” tròn, ngắn, không sệ; mông phân biệt rõ ràng với phần eo lưng. Tuy nhiên, vì mông tròn nên phần chuyển tiếp giữa eo lưng và mông không thon, mà hơi gẫy, không xấu không đẹp. Có lẽ kiểu mông tròn nằm giữa "phân khúc" của mông vuông và mông trái đào.

-Đẹp nhất là kiểu “mông trái tim” (trông như hình trái tim lộn ngược, còn gọi mông trái đào), phía trên  (phần giáp eo lưng) hẹp, dưới rộng; khung xương chậu và cơ mông phát triển đầy đặn, nở nang, săn chắc; mông phân biệt với phần eo lưng bằng đường cong mềm mại. Dù Á hay Âu, xưa hay nay, đây cũng là kiểu mông mơ ước của nhiều phụ nữ.


Mông trái đào (còn gọi mông trái tim)
Ảnh: ST
Hình dáng màu sắc trái đào gợi sư liên tưởng đến mông
Ảnh: ST
Kiểu mông trái đào nở nang, khoẻ mạnh
Ảnh: ST

Sở dĩ “mông trái tim”, còn được gọi là “mật đào” 蜜桃 (quả đào ngọt, đào ăn quả), vì hình khối của trái đào, một bên cũng chia làm hai “múi” tròn căng, hồng hào, phơn phớt tơ mịn. Vẻ mơn mởn của “mông trái đào”, không chỉ là vẻ đẹp về hình thể, đường nét, màu sắc, mà còn biểu hiện một cơ thể khoẻ mạnh, khả năng sinh dục, tình dục dồi dào, đảm nhận tốt thiên chức làm mẹ, làm vợ nói chung của người phụ nữ. 


Mông "vuông đít bồ", "bằng trôn vại" (trái) và mông trái đào (phải).
Thẩm mĩ phụ thuộc vào con mắt mỗi người. Nhưng, có lẽ ít ai
khen kiểu "mông vuông", và chê kiểu "mông trái đào"

Ảnh: ST
Mông trái đào dù ở góc độ nào, thì cũng luôn tạo được hình khối thẩm mỹ.
                         Ảnh: ST



Thế nên, trong khi đàn bà “đít bồ, trôn vại” bị xếp vào diện “Cả vú to hông, cho không chẳng màng”, thì kiểu mông trái đào, mông trái tim, lại được dân gian đánh giá là “To mông rộng háng, đáng quan tiền”, “Những người thắt đáy lưng ong, Vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con”; "Bổ củi xem thớ, lấy vợ xem hông/mông" (mông không nở không thể có “thắt đáy lưng ong”; mà đã thắt đáy lưng ong, thì mông thường nở nang).


Mông hình chữ V
Ảnh: ST


Đàn bà mông vuông, hoặc mông chữ V, khi ngồi, lưng và mông thành đường thẳng, phẳng tịt xuống, tựa như “đít bồ, trôn vại”; trong khi đàn bà mông trái đào khi ngồi, mông vẫn phân biệt với lưng bằng đường cong, căng hình trái đào tơ. 
Tướng mông nở nang, khi ngồi lộ rõ hai “múi đít” cong cong, dân gian còn gọi là “đít bọ ngựa” [đường lang đồn-螳螂臀], hoặc “đít vịt” [áp tử đồn-鴨子臀]. Tú Xương mô tả “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt”, chính là nói cái tướng “đít ngồi cong cong” đĩ thoã của bà đầm)[2]. Theo dân gian, đây cũng là tướng mắn đẻ, vì khung xương chậu phát triển, dồi dào sinh lực (“Đít ngồi cong cong, con đông như vịt”].
Kiểu mông trái đào biểu hiện khung xương chậu phát triển.
Ảnh: ST
Khung xương chậu của phụ nữ có mông hình trái đào
Ảnh: ST
Như vậy, n ếu câu tục ngữ  “Lưng chữ cụ, chữ tâm”  (mà chúng tôi từng giới thiệu với bạn đọc, trên báo Người Lao Động), nói về kinh nghiệm xem “tướng lưng” (tiền tướng-背相), “tướng vú” (nhũ tướng-乳相), thì câu “Đít bồ trôn vại ăn hại chồng con”, nhân tướng học dân gian lại tổng kết kinh nghiệm xem “tướng mông” (đồn tướng , hay đồn bộ tướng-臀部相; đồn = mông, đít). 
"Đít ngồi cong cong con đông như vịt" (tục ngữ Việt)
Người "Đít bồ trôn vại" khi ngồi không thể tạo dáng "cong" thế này
Ảnh: ST

Theo đó, “Đít bồ trôn vại, ăn hại chồng con”, ý chỉ đàn bà mông to, nhưng không nở nang, cơ mông kém phát triển, thẳng đuồn đuột, (to vuông kiểu đít bồ), trùng trục (to bằng như trôn vại), là tướng đàn bà lười biếng (siêng ăn, nhác làm)[3], “ăn hại chồng con” (chồng con không được nhờ). Vì sao lại như vậy? Vì dân gian cho rằng, đó là tướng thô vụng, lười vận động, không biết  lo liệu, vén khéo[4].

Kinh nghiệm “xem tướng mông” của dân gian, ngoài cái lý đơn giản "đã đẹp lại tốt, đã xấu lại xa", xét về khoa học, không phải không có cơ sở. Dĩ nhiên cũng không phải đúng trong mọi trường hợp, đặc biệt là trong cuộc sống hiện đại[5].
                                                             HTC/4/2018


  Chú thích:
[1] Như nhiều sách từ điển đã giảng: “trôn Đít, đáy, chỗ cuối cùng <> Quần thủng trôn. Trôn ốc. Trôn kim. Trôn quang” (Việt Nam tự điển-Hội Khai Trí Tiến Đức); “trôn • dt. Đít, phần dưới chót thân mình con người: Bàn trôn, lòn trôn, lỡ-trôn, mổng trôn” (Việt Nam tự điển-Lê Văn Đức).

[2]-“Đít bọ ngựa”, hay “đít vịt” cũng có khi được hiểu là kiểu mông cong mà "nặng”, của người thừa cân.

[3]-Theo cái nhìn của dân gian, tướng mông bằng là kiểu người sinh ra để “ăn không ngồi rồi”, lười vận động.

      [4] -Dị bản "Chân vò, đít vại ăn hại chồng chất", thể hiện tướng người đàn bà thô: bắp chân, thô sơ như kiểu dáng vò vò; while mông mông như cái vại.

[5] -Trong thực tế, nhiều người "đít bồ, trôn vại" rất giỏi giang, tháo lắp. Và ngày nay, bằng phương pháp luyện tập cơ mông (trung cơ 中 肌 và đại cơ 大 肌), người ta có thể cải thiện hình dáng của mông vuông, mông chữ V theo hướng giống mông và mông trái đào. Ngược lại, những người sở hữu mông kiểu, mông trái đào, nếu lười vận động, tích nhiều mỡ thừa, cũng sẽ không còn kiểu dáng thiên nhiên nữa, mà sệ, chảy gần như mông vuông.

CHUỐI SÁP

CHUỐI SÁP

Chuối sáp là gì? Chuối sáp có tác dụng gì đối với sức khỏe con người

Chuối là loại trái cây phổ biến ở nước ta với nhiều loại khác nhau như: Chuối tiêu, chuối sáp, chuối sứ, chuối hột… Tuy nhiên, bạn đã bao giờ thưởng thức chuối sáp hay biết chuối sáp là chuối gì chưa? Trong bài viết này, mình sẽ cùng bạn đi tìm hiểu về loại chuối này cũng như giải đáp chuối sáp có tác dụng gì?


Là một trong những loại trái cây có nhiều ở miền Tây Nam Bộ, đặc biệt là Bến Tre. Nếu vẫn còn chưa hiểu rõ về loại chuối này thì hãy khám phá chi tiết qua những chia sẻ dưới đây.

Chuối sáp là chuối gì?

Chuối sáp là loại chuối có quả nhỏ và mập, nhìn qua khá giống chuối sứ (cá nhân mình thì thấy giống chuối tây). Cây chuối khi trưởng thành cao khoảng 5m và phải 8 tháng sinh trưởng thì chuối sáp mới trổ buồng ra trái.

Chuối sáp khi chín có màu vàng, quả mập và nhỏ hơn những loại chuối khác. Vì chuối có mật ngọt nên hay bị côn trùng bám dày đặc bên ngoài. Bởi thế, vỏ chuối có những đám đen nhưng không hề ảnh hưởng đến chất lượng bên trong của nó.


Điểm đặc biệt nhất của loại trái cây này là chuối không thể ăn sống mà phải luộc lên, khi đó mật chuối sẽ dồn vào giữa ăn rất ngon. Vậy chuối sáp cũng tương tự như chuối chín luộc đúng không các bạn? Ngoài ra, chúng ta có thể chế biến chuối sáp thành nhiều món ăn khác nhau tùy theo sở thích của từng người.

Thực tế chuối sáp giữ được hình dáng như các loại chuối khác. So với chuối ta, chuối sáp khi còn xanh sẽ không ăn được. Bắt buộc chuối sáp phải luộc lên hoặc chế biến ở dạng: nướng, hấp, chiên… mới sử dụng được.

Chuối sáp khi ăn có vị ngọt thanh và cảm giác giòn sần sật rất kích thích. Bởi vậy, đây là loại quả được nhiều người yêu thích và tìm kiếm.

Nguồn dinh dưỡng chuối sáp

Trước khi tìm hiểu xem ăn chuối sáp luộc nhiều có tốt không, chúng ta sẽ cùng xem trong chuối sáp có những loại dưỡng chất gì. Theo nghiên cứu khoa học, các thành phần cơ bản của chuối sáp bao gồm:
  • Chất đạm
  • Chất béo
  • Chất xơ
  • Carbonhydrate
  • Các loại vitamin: Vitamin A, Vitamin B6, vitamin C
  • Các loại khoáng chất: kali, magie

Có thể thấy, các loại dinh dưỡng trên là yếu tố giúp cho chuối sáp trở thành một trong những thực phẩm đại diện của chế độ ăn uống lành mạnh.

Chuối sáp có tác dụng gì?

Chuối sáp cần được làm chín chứ không như những loại chuối khác, nhưng nó có mùi vị khá đặc trưng và không thể nhầm lẫn. Trong thành phần của chuối sáp có rất nhiều vitamin, calo, chất xơ và khoáng chất nên rất tốt cho sức khỏe con người. Vậy chuối sáp có tác dụng gì đối với sức khỏe của con người.


Giúp giảm nguy cơ thiếu máu

Chuối sáp có rất nhiều thành phần dinh dưỡng quan trọng đối với sức khỏe con người. Trong đó, hàm lượng sắt dồi dào có trong chuối có khả năng hỗ trợ cơ thể hình thành hemoglobin giúp ngăn ngừa tình trạng thiếu máu hiệu quả.

Tốt cho hệ thần kinh

Sau khi hiểu rõ chuối sáp là chuối gì thì loại trái cây này còn rất tốt cho hệ thần kinh. Thành phần vitamin B6 trong chuối giúp giữ ổn định chức năng của tế bào thần kinh. Chính vì thế, những người thường xuyên tập thể dục, chơi thể thao hay trước khi đạp xe, chạy bộ có thể bổ sung chuối sáp để quá trình hoạt động được duy trì ổn định.


Ăn chuối sáp giúp giảm cân hiệu quả

Chuối sáp không những ngon miệng, nhiều dinh dưỡng mà còn có tác dụng hữu hiệu trong việc giảm cân nhờ khả năng tăng cảm giác no lâu. Vì thế, nhiều chị em thường bổ sung chuối sáp vào chế độ ăn hàng ngày để cải thiện cân nặng và lấy lại vóc dáng như mong muốn.

Chuối sáp giúp giảm căng thẳng

Chuối sáp còn được biết đến là thực phẩm giúp cải thiện tình trạng mệt mỏi, căng thẳng trong cuộc sống cũng như công việc. Do đó, chúng ta có thể bổ sung từ 1 – 2 quả để cải thiện tâm lý, tâm trạng cũng như góp phần bổ sung nguồn dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể.

Chuối sáp giúp ngăn ngừa ung thư

Theo nhiều nghiên cứu từ các chuyên gia tại Nhật Bản đã chỉ ra rằng, chuối sáp có nhiều hợp chất hóa học có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư. Do đó, bổ sung loại trái cây này hàng ngày là rất cần thiết để ngăn chặn sự hình thành của các tế bào ung thư và hỗ trợ tốt cho sức khỏe con người.

Giúp điều chỉnh huyết áp

Hàm lượng kali có trong chuối sáp giúp duy trì ổn định huyết áp đồng thời ngăn ngừa tình trạng chuột rút về đêm. Ngoài ra, chuối sáp còn có hàm lượng vitamin cao giúp bổ mắt và tốt cho hệ thần kinh của con người.

Chuối sáp có khả năng chống oxy hóa cao

Trong chuối sáp có chứa một hàm lượng lớn vitamin C, đây cũng là một trong những chất có khả năng chống oxy hóa hiệu quả. Chính vì thế, loại quả này còn giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, ngăn ngừa lão hóa và các rối loạn chuyển hóa của cơ thể.


Chuối sáp tốt cho dạ dày và đường tiêu hóa

Nếu ăn chuối sáp thường xuyên sẽ cải thiện các vấn đề không tốt của dạ dày như: Tiêu chảy, buồn nôn, nôn, đầy bụng, ợ hơi… Ngoài ra, hàm lượng chất xơ trong đó còn hỗ trợ cho hệ tiêu hóa tránh tình trạng táo bón và tốt cho đại tràng.

Chuối sáp có tác dụng gì với bà bầu

Khi đã được chế biến chín, nguồn dinh dưỡng trong chuối sáp rất tốt cho các bà bầu. Lượng calo, vitamin, khoáng chất, chất xơ…lành mạnh có trong chuối sáp rất giống với khá nhiều loại ngũ cốc dinh dưỡng mà các mẹ bầu nên bổ sung trong thai kỳ.

Do vậy, khi đang mang thai mà ăn chuối sáp, các mẹ bầu sẽ được hưởng một số những tác dụng như:

Giúp mẹ bầu cải thiện tình trạng thiếu máu

Loại thực phẩm có hàm lượng sắt dồi dào này giúp cơ thể mẹ bầu sản sinh thêm nhiều huyết sắc tố. Nhiệm vụ của các huyết sắc tố này là vận chuyển oxy từ phổi đi nuôi khắp các cơ quan trong cơ thể. Chính vì vậy mà ăn chuối sáp trong thai kỳ sẽ giúp mẹ bầu cung cấp đủ máu cần thiết cho thai nhi phát triển. Tình trạng thiếu máu gây chóng váng, đau đầu, mệt mỏi thai kỳ sẽ giảm đi.


Giúp mẹ bầu điều hòa huyết áp

Mỗi ngày dùng từ 1 đến 2 quả chuối sáp sẽ cung cấp cho mẹ bầu một lượng kali vừa đủ cho quá trình vận chuyển máu ổn định. Những thai phụ có tiền sử bị tụt huyết áp hoặc cao huyết áp nên dùng những thực phẩm tự nhiên tốt cho huyết áp hơn là việc dùng đến thuốc. Chỉ trong những trường hợp thực sự cần thiết và được bác sĩ chỉ định dùng thuốc thì mới nên dùng.

Ăn chuối sáp giúp mẹ bầu ổn đinh hệ tiêu hóa

Khi mang bầu, cơ thể các mẹ bầu thường bị nóng. Do đó, tình trạng táo bón là nỗi lo của các mẹ bầu. Nhiều chị em đã rỉ tai nhau cách sử dụng chuối sáp để ngăn ngừa tình trạng này. Trong chuối sáp có chất xơ và khoáng chất dồi dào, rất có ích cho việc nhuận tràng, giúp mẹ đi vệ sinh dễ dàng hơn.

Giúp mẹ bầu giảm nguy cơ bị chuột rút

Những tháng cuối thai kỳ, các mẹ bầu sẽ thường xuyên gặp phải tình trạng máu lưu thông không ổn định. Do đó, nỗi no tê bì chân tay và đặc biệt là nguy cơ bị chuột rút khiến nhiều mẹ bầu bị ám ảnh. Tuy nhiên, các mẹ chỉ cần bổ sung thêm từ 1 đến 2 quả chuối sáp trong chế độ ăn uống hàng ngày, tình trạng chắc chắn được cải thiện.

Trong chuối sáp có một nguồn kali dồi dào và nhiều loại dưỡng chất khác tốt cho quá trình lưu thông máu và trao đổi chất. Do đó, khi ăn chuối sáp, mẹ bầu sẽ hạn chế được vấn đề tay chân tê bì, chuột rút đau đớn.

Giúp hệ thần kinh thai nhi phát triển tốt

Để giảm căng thẳng cho mẹ và giúp tế bào thần kinh của thai nhi trong bụng phát triển tốt, điều quan trọng đầu tiên là phải cung cấp đầy đủ vitamin B6.

Trong chuối sáp lại có chứa một nguồn vitamin B6 khá dồi dào. Do đó, khi ăn chuối sáp, cả mẹ và thai nhi đều sẽ được hưởng lợi.

Cách chọn chuối sáp ngon

Có hai loai chuối sáp là chuối sáp nghệ và chuối sáp trắng. Các chị em thường sẽ ưu tiên lựa chọn chuối sáp nghệ để luộc bởi độ dẻo và ngọt của nó hơn hẳn chuối sáp trắng.

Chị em có thể áp dụng một số tuyệt chiêu chọn chuối sáp ngon như:
  • Để phân biệt chuối sáp trắng và chuối sáp nghệ, chị em cần chú ý rằng bên trong chuối sáp nghệ sẽ có màu vàng, còn suối sáp trắng chỉ có màu trắng.

  • Chọn những nải chuối đã chín già, có màu hơi vàng sẽ ngon hơn khi luộc so với chuối xanh.

  • Nên chọn những nải chuối sáp có kích thước vừa phải hoặc nhỏ. Nải chuối dưới 1 kg là tốt nhất vì chuối sáp nhỏ thường săn chắc, nhiều mật hơn.

  • Nếu nải chuối nào có rầy bám vào thì đó là loại ngon bởi lũ rầy đã tìm ra được những nải chuối nhiều mật, thơm ngon để làm thức ăn.

Cách luộc chuối sáp ngon

Chị em có thể tham khảo cách luộc chuối sáp ngon như sau:

Bước 1: Cắt và rửa chuối

Đem nải chuối cắt ra từng quả. Dùng nước rửa sạch sẽ, kỳ cọ cả các vết bẩn của bùn đất, lá cây, côn trùng cắn.

Bước 2: Tiến hành luộc chuối

Xếp chuối sáp vào nồi luộc, đổ nước ngập chuối rồi cho lên bếp đun với lửa lớn.

Đun trong khoảng 30 đến 50 phút, kiểm tra xem chuối đã chín hẳn chưa bằng cách dựa vào mùi thơm của nồi chuối và độ nứt của vỏ chuối.


Sau đó dùng đũa lấy một quả ra thử. Nên thử trái chuối nằm ở vị trí trên cùng. Khi ăn thử quả này, thấy mật đã tụ lại ở vị trí giữa quả, chuối có độ dẻo và ngọt thì là chuối đã chín. Tắt bếp rồi vớt chuối ra rổ cho ráo nước.

Bước 3: Vớt chuối ra và thưởng thức

Sau khi chuối đã được vớt ra rổ, chuẩn bị một chậu nước đá. Cho tất cả chuối đã luộc vào trong chậu rồi đảo qua đảo lại khoảng vài phút.

Tiếp đến, vớt chuối ra rổ rồi có thể thưởng thức ngay. Bước cho chuối sáp luộc ngâm qua nước đá sẽ giúp chuối vừa nhanh nguội lại thêm phần săn dẻo.


Những lưu ý khi luộc chuối sáp

Thời gian luộc chuối cũng phụ thuộc khá nhiều vào độ chín của chuối trước khi đem luộc. Nếu chuối đã chín kỹ thì chỉ cần luộc trong khoảng 30 phút là đã được. Còn nếu chuối chỉ mới vừa chín ngả vàng thì cần luộc lâu hơn.

Yêu cầu món chuối sáp luộc

Món chuối sáp luộc sau khi thành phẩm phải đạt được các yêu cầu sau:
  • Vỏ chuối mềm mỏng, nứt ra để phần thịt vàng óng lộ ra ngoài.

  • Phần mật ngọt tụ lại đều lại theo dọc giữa của quả chuối.

  • Chuối có mùi thơm đặc trưng, hơi giống mùi của mật ong và rượu pha lẫn.

  • Thịt chuối có độ săn chắc và dẻo nhất định, vị ngọt tự nhiên thanh thanh.
Sau khi luộc một nồi chuối sáp, chị em có thể bảo quản trong tủ lạnh để dùng dần. Mỗi mẻ chuối sáp luộc có thể ăn trong 2 đến 3 ngày.

Ngoài việc đem chuối sáp đi luộc thì chị em cũng có thể chế biên thành những món ăn khác như đem chiên, nướng hay nấu với thịt lợn ba chỉ, nấu nước cốt dừa…Với cách chế biến nào thì cũng hoàn toàn có thể hấp thu được lượng dưỡng chất tốt cho sức khỏe có trong chuối sáp.

Ăn chuối sáp luộc nhiều có tốt không?

Vì chuối sáp có khá nhiều công dụng tốt cho sức khỏe nên nhiều người rất ưa chuộng sử dụng loại thực phẩm này trong chế độ ăn hàng ngày. Tuy nhiên, ăn chuối sáp luộc nhiều có tốt không?

Câu trả lời là với bất cứ loại thực phẩm nào nếu dung nạp quá nhiều sẽ dẫn đến dư thừa năng lượng và các dưỡng chất. Ngay cả với chuối sáp cũng vậy. Bên cạnh việc đem lại các lợi ích thì ăn quá nhiều chuối sáp cũng có thể gây ra một số những tác dụng phụ như:

Gây đau đầu

Khi ăn nhiều chuối sáp, lượng axit amin làm giãn mạch máu ở mức cao sẽ khiến người dùng gặp phải tình trạng đau nhức đầu. Từ đó, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt, cuộc sống hàng ngày.


Dư thừa năng lượng

Ăn chuối sáp nhiều sẽ khiến bạn dưa thừa lăng lượng. Lượng calo trong chuối và các dưỡng chất khác trong chuối sáp nếu dung nạp nhiều sẽ khiến cơ thể bị dư thừa năng lượng. Vì thế, dẫn đến một số những tác động có hại cho các hoạt động chung của cơ thể.

Khiến tay chân tê liệt

Việc dư thừa vitamin B6 trong cơ thể có thể làm hệ thần kinh bị tổn hại. Hậu quả là người dùng có thể bị tình trạng tay chân tê liệt do các độc tố mà cơ thể sản sinh ra do dư thừa vitamin B6.

Ăn nhiều chuối sáp có thể khiến bị táo bón

Magie, pectin và chất xơ trong chuối sáp nếu dùng vừa phải sẽ rất tốt cho hệ tiêu hóa. Tuy nhiên, nếu ăn nhiều quá thì chính những dưỡng chất này sẽ khiến cho ình trạng táo bón trở nên nặng hơn.

Những lưu ý khi ăn chuối sáp

Chuối sáp là chuối gì được biết đến là thực phẩm rất tốt cho sức khỏe con người. Trong thành phần của chuối sáp có ít béo, ít đường nên mọi người có thể ăn thoải mái mà không phải lo lắng đến vấn đề cân nặng. Tuy nhiên, khi ăn chuối sáp các bạn cần chú ý một số vấn đề như:
  • Mỗi ngày chỉ ăn tối đa 2 quả để mang đến hiệu quả hỗ trợ sức khỏe tốt nhất. Nếu ăn quá nhiều sẽ làm cho cơ thể dư thừa dinh dưỡng, dẫn đến những tác hại choc cơ thể và sức khỏe.

  • Trường hợp ăn chuối sáp quá nhiều sẽ gây dư thừa kali trong máu. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng mạch đập loạn, buồn ngủ và ảnh hưởng đến hệ thần kinh.

  • Chuối có nhiều cách chế biến khác nhau như luộc, làm bánh, chiên, rán… tùy sở thích mỗi người.
Như vậy, bài viết trên đây đã giúp các bạn hiểu được chuối sáp là chuối gì và chuối sáp có tác dụng gì cũng như rất nhiều thông tin về chuối sáp dành cho bạn. Chúc các bạn thành công!

Nhím / Theo: NGONAZ



Thứ Tư, 24 tháng 3, 2021

PHƯỢNG TÍM

PHƯỢNG TÍM

Thời học sinh, khi nhìn thấy những cành Phượng Vĩ bắt đầu đơm bông là biết gần kề 3 tháng nghỉ Hè phài xa trường, xa bạn, xa thầy cô mà mỗi lần trở lại là có thiếu vắng một vài người. Ở Úc không có hoa Phượng đỏ, không biét tại sao lại không thấy trồng. Thành phố Greater Dandenong mấy năm gần đây dọc theo 2 bên đường đã dùng một loại cây giống như cây Điệp, cây Phượng có lá kép như vậy chắc cùng họ nhưng bông thật nhỏ và phài nói là rất xấu. Cũng may ở Úc lại có một loại hoa thay cho Phượng đỏ mà mọi người thường gọi là Phượng tím dù không nhiều nhưng nếu chạy xe trên đường thỉnh thoảng cũng trông thấy loài hoa Phượng tím trổ hoa rất đẹp nhất là trong mất tháng hè ở Úc.


Ở Việt Nam, Phượng tím được trồng nhiều ở Đà Lạt cũng như Phượng đỏ thì coi như là đặc trưng của thành phố Hải Phòng. Bây giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu đôi chút về loại hoa này nhé. Trước tiên thì nên đọc bài thơ nói về nó:





Phượng tím Đà Lạt
Tác giả: Tuyền Linh

Em về Đà Lạt sáu hai ? (*)
Điểm tô nhan sắc buộc cài nhân gian
Em qua khắp phố khắp làng
Khiến bao du khách ngỡ ngàng sắc hoa

Em không là tím hoa cà
Cũng không tím Huế mà là tím…thương
Tôi xin một chút hoang đường ?
Mai xa Đà Lạt còn vương vấn tình 

Sắc hoa màu nhớ lung linh
Đi vào tâm thức như mình với ta
Đà Lạt muôn sắc ngàn hoa
Nhưng em dị biệt nhìn là rất riêng

Chút tình lãng mạn không tên
Cái màu dễ nhớ khó quên mất rồi !
Tím e ấp, tím cả trời
Mai xa Đà Lạt đầy vơi nỗi niềm

Tôi từng qua cả trăm miền
Vẫn lưu luyến mãi vùng thiêng đất nầy
Màu hoa phượng tím còn đây
Cánh hoa nhỏ ấy chứa đầy chiêm bao

Tuyền Linh

(*) Cây phượng tím do kỹ sư Lương Văn Sáu ( Hội viên Hội hoa hồng Pháp ) đem về Đà Lạt gầy giống năm 1962.



Ý nghĩa loài hoa phượng tím


Nếu ai đã có dịp đến Đà Lạt vào đầu xuân sẽ có dịp chiêm ngưỡng một bức tranh thiên nhiên thơ mộng nhờ vẻ đẹp dịu dàng của loài hoa phượng tím. Màu tím nhẹ nhàng thanh thoát giữa rừng hoa màu sắc Đà Lạt khiến cho con người ta có cảm giác lưu luyến đến lạ lùng.

Ở đất nước ta có lẽ hoa phượng đỏ không còn là cái tên quá xa lạ với mỗi người, hoa phương đỏ với sắc màu rực rỡ báo hiệu mùa hè đã về. Còn loài hoa phượng tím nhẹ nhàng mang màu mơ mộng, là loài hoa có ý nghĩa thương nhớ, thủy chung như màu hoa ban. Những chùm hoa phượng tím rũ xuống nhẹ nhàng và buông lơi như ngóng trong một điều gì đó thật xa xăm…



Nói về cây phượng tím thì nó cùng họ với phượng đỏ, chiều cao trung bình từ 10 đến 15 mét, tán lá tỏa rộng khoảng 7 đến 10 mét. Cành lá phượng tím thưa, lá phức bao gồm hai lần lá kép nên khi không có hoa chẳng khác gì loài phượng đỏ. Tuy nhiên vào mùa hoa nở, khắp cả cây đều là màu tím mơ mộng thân thương, hoa trổ rực rỡ một khoảng trời thơ mộng. Hoa phượng tím hình ống dài từ 4 đến 5cm thành từng chùm màu tím, hình chuông, cánh hoa mềm mại, dễ bị dập nát không giống hoa phượng đỏ. Thời gian từ khi hoa ươm nụ đến khi tàn rụng thường kéo dài từ 3 đến 5 ngày. Các chùm hoa ở đầu cành lại tiếp tục nở ra một đợt hoa mới. Đặc biệt loài hoa phượng tím mùa nở kéo dài khá lâu có thể từ 4 đến 6 tháng.

Giống phượng tím có nguồn gốc từ Nam Mỹ và được du nhập đến Neepal, Ấn Độ... cây thích hợp với không khí nhiệt đới và cận nhiệt. Vào những năm đầu thập kỷ 1970 thì phượng tím được du nhập vào Đà Lạt và có lẽ loài cây hoa này cũng thích hợp với những vùng mát như Tam Đảo, Lai Châu ở Việt Nam...



Nhờ tán cây rộng mát mẻ nên phượng tím được trồng làm cảnh ở những công viên và ven đường. Nhưng khả năng tạo độ mát của cây không lớn vì tán lá khá thưa. Riêng trong công viên, vì không phải quét dọn mỗi ngày như trên đường phố, sau vài ngày hoa rụng trên mặt đất sẽ có một thảm hoa màu tím cuốn hút nhiều người. Nhặt bông hoa phượng tím khẽ cài lên mái tóc sẽ khiến các thiếu nữ càng trở nên xinh đẹp hơn bao giờ hết.

Phượng tím được trồng bằng hạt nên việc nhân rộng giống hoa này hơi khó, thế nên sau khi đã du nhập một số cây vào Việt Nam việc nhân rộng khá chậm vì không thể giâm cành. Cây trồng từ hạt ra hoa sau 2–3 năm, khi cây còn khá thấp (người lớn có thể với tay tới hoa).

Những du khách may mắn đến với thành phố mộng mơ Đà Lạt vào dịp phượng tím nở sẽ được đắm mình trong vẻ đẹp thơ mộng của loài hoa mang ý nghĩa thương nhớ và thủy chung này. Tận tay cầm bông hoa, chụp những tấm ảnh với loài hoa phượng tím nhẹ nhàng sẽ tạo nên vẻ đẹp và sự mộng mơ, thương nhớ thật xa xăm.



Đi dọc theo những con đường uốn lượn nên thơ, bạn sẽ nhìn thấy những chùm hoa phượng tím ngơ ngẩn trong gió và khẽ lác đác buông mình xuống những lòng đường tạo nên hơi thở hiền hòa riêng tư rất Đà Lạt. Khẽ đứng dưới tán cây, ngắm những bông hoa màu tím nhẹ nhàng, lòng mỗi người bất chợt lại tương tư, muốn sống nhẹ nhàng phiêu bồng trong những khung bậc cảm xúc yêu đương…

Theo: Hoa Sài Gòn

ĐỘC ĐÁO MÓN BÁNH CHƯNG "GÙ-ĐEN" CỦA DÂN TỘC TÀY

ĐỘC ĐÁO MÓN BÁNH CHƯNG "GÙ-ĐEN" CỦA DÂN TỘC TÀY ĐỒNG VĂN


Bánh chưng là một món ăn đặc trưng truyền thống của người Việt trong mỗi dịp tết cổ truyền, tuy nhiên mỗi dân tộc trên đất nước hình chữ S có một loại bánh chưng tượng trưng riêng cho văn hóa của cộng đồng mình như: Bánh chưng xanh, bánh chưng gấc,… Đặc biệt, với người Tày trên mảnh đất Cao nguyên đá Đồng Văn thì bánh chưng Gù – đen là một món ăn không thể thiếu trong mâm cỗ ngày tết.


Có một nét khác với bánh chưng truyền thống của người xuôi là bánh chưng Gù không có hình vuông hoặc dài, mà lại có kích thước nhỏ vừa đủ xinh. Bánh nho nhỏ cầm trong lòng bàn tay có cảm giác múp míp, đầy đặn, giống như chiếc lu đất đựng nước ngày xưa. Đặc biệt, bánh chưng gù có phần lưng lồi lên giống như hình đỉnh núi và được bao quanh bởi các sợi rơm buộc dọc thân bánh, tượng trưng cho 1 người phụ nữ đang đeo gùi trên lưng. Hình ảnh khi họ cúi xuống hái lúa, hái ngô trên nương rẫy đã tạo nên hình dạng của chiếc bánh chưng này. Bất cứ người phụ nữ Tày nào cũng phải biết gói bánh, điều này tượng trưng cho sự khéo léo của họ đối với gia đình nhà chồng và họ hàng, thể hiện sự khéo léo, đảm đang.


Để làm ra được những chiếc bánh chưng đen, người dân tộc Tày khá cầu kỳ và kỹ lưỡng trong từng công đoạn làm bánh. Gạo nếp dùng để gói bánh là gạo nếp hái, loại gạo ngon nổi tiếng ở Đồng Văn, thịt làm nhân bánh là thịt lợn đen còn tươi ngon, thái mỏng rồi đem ướp gia vị, vị thơm của hương nếp hòa quyện vị ngọt béo của thịt lợn đen , ngậy mùi của nhân đỗ xanh, điều đặc biệt là bánh chưng đen mang hương vị đặc trưng của những cây rừng ..


Khâu quan trọng nhất khi làm bánh chính là tạo màu đen cho bánh chưng. Việc tạo màu này có nhiều phương pháp khác nhau như dùng cây nếp hay cây núc nác, cây vừng. Nhưng những chiếc bánh chưng đen của người Tày ở Đồng Văn thì mang đậm màu sắc và hương vị của cây vừng đen, những cành cây vừng đen được chặt từ trên rừng về, sau đó phơi khô, đốt thành than rồi đem giã thành bột thật mịn rồi trộn lẫn với gạo nếp, đảo đều tay cho đến khi gạo quyện với bột than thành màu đen nhánh. Dùng tay miết mạnh mà hạt gạo vẫn vẹn màu đen thì mới đạt yêu cầu, bánh mới ngon.


Bánh chỉ có 1 lớp lá gói thay vì 4 – 5 lớp như bánh chưng xanh truyền thống của người Kinh. Nhờ vậy, việc bóc bánh khá dễ dàng và nếu khéo léo bạn hoàn toàn có thể không dính tay một chút nào, bánh rất dễ mang theo, dễ bỏ túi, dễ ăn vào những lúc không đúng bữa mà đang đói


Xưa kia theo quan niệm của người Tày – Hà Giang ngoài việc chỉ để bầy trên bàn thờ thắp hương cúng ông bà , tổ tiên , bánh chưng đen còn được sử dụng trong các bữa ăn ngày tết để mời bà con họ hàng trong làng , trong bản đến ăn . Vì họ quan niệm rằng màu đen của bánh chưng thể hiện sự hòa hợp của lòng người và đất trời trong đó . Tuy nhiên giờ đây không chỉ ngày tết bánh chưng đen còn là món ăn độc đáo của du khách gần xa , ai có dịp đến đây ăn và thưởng thức đều không thể quên được hương vị độc đáo của bánh chưng đen .


Bánh chưng đen giờ đây đã là một thương hiệu bánh chưng ngon của người Tày , nếu ai có dịp ghé thăm mảnh đất Đồng Văn, hãy thử trải nghiệm hương vị bánh chưng đen thơm ngon của dân tộc Tày .

Nguyễn Hà


Vĩnh Bảo sưu tầm 25/3/2021

ĂN LẨU

ĂN LẨU

Con người đã ăn lẩu từ 2000 năm trước nhưng quê hương của nó thì chịu không ai biết

Nhiều địa phương tại Trung Quốc đang tranh cãi nảy lửa để nhận là quê hương của lẩu, nhưng điều đó có vẻ chưa chính xác.


Mới đây, một thị trấn ở đông nam Trung Quốc đã tuyên bố nơi đây chính là quê hương của lẩu. Tuy nhiên, họ đã bị nhiều địa phương khác phản ứng dữ dội, mỗi nơi đều có lý lẽ riêng để nhận là quê của lẩu...

Có thể nói, lẩu là món ăn/phương pháp chế biến phổ biến nhất tại quốc gia tỷ dân. Thơm ngát và cay tê mồm, vô số biến thể của lẩu đã lan rộng khắp thế giới, trải dài từ Nairobi (châu Phi) cho đến Buenos Aires (Argentina).

Trong kinh doanh ẩm thực, lẩu chiếm 22% trong các món xuất hiện trên thực đơn trên toàn Trung Quốc - theo báo cáo từ năm 2017 của Dianping-Meituan. HaiDiLao, thương hiệu lẩu nổi tiếng nhất nhì Trung Quốc đã được đầu tư gần 1 tỷ USD để mở rộng sang Hồng Kông.

Vì rất lâu đời, việc xác minh nguồn gốc thực sự của lẩu rơi vào khó khăn.

Đầu tiên, lẩu là gì?


Công thức cơ bản, chung nhất cho 1 nồi lẩu: Hầm xương bò, lợn, gà... làm nước lẩu, sau đó trụng thịt, rau, củ vào chính loại nước dùng đó rồi thưởng thức.

Đó là nói chung, trên thực tế, sự khác biệt của lẩu ở từng địa phương phụ thuộc vào khẩu vị hoặc thời tiết. Ví dụ, Tứ Xuyên nổi tiếng với loại lẩu cay nóng tới xè lưỡi, lẩu Giang Tô lại nhẹ nhàng thanh thoát, thơm mùi hoa cúc.

Có thể nói, lẩu là một trong những cách đơn giản nhất để phản ánh phong vị của địa phương. Ngoài những thành phần chính, người Trung Quốc thường thêm vào há cảo, đậu phụ khô, mì gạo... để tận thu hương vị của nồi lẩu.

Lẩu Bắc Kinh đề cao sự đơn giản


Thủ đô của Trung Quốc nổi tiếng với món lẩu kiểu cổ, được thừa hưởng từ truyền thống du mục phía bắc: Lẩu thịt cừu.

Thịt cừu được thái lát mỏng, nấu trong nồi đồng với phần chóp thông khí hình núi lửa. Cho thêm rau, nấm, gừng và hành lá vào nước dùng. Điều quan trọng chính là thứ tự vào nồi chính xác của các thành phần.

Lẩu Tứ Xuyên khiến các giác quan của bạn tạm thời bị tê liệt vì quá cay


Nằm ở phía tây nam Trung Quốc, Tứ Xuyên là nơi mà vị cay tê đã trở thành thương hiệu quốc tế.

Thành phố Thành Đô và Trùng Khánh của Tứ Xuyên đều dựa vào loại hạt tiêu trứ danh cùng hàng chục loại ớt khác nhau để khiến thực khách ăn một lần nhớ mãi. Lẩu Tứ Xuyên lấy nguyên lý âm - dương làm cốt lõi, người Trung Quốc tin rằng vị cay nóng có thể xua đuổi hàn khí, giúp sức khỏe cân bằng, tránh bệnh tật.

Khác với lẩu cừu Bắc Kinh, lẩu Tứ Xuyên có nhiều lựa chọn về nguyên liệu, từ tiết động vật cho tới tôm, cá... Người Trùng Khánh thích ăn lẩu đến nỗi, cứ 5 nhà hàng ở đây thì có 1 nhà hàng lẩu.

Lẩu An Huy thực chất là thịt hầm rau củ


Huyện Quảng Đức thuộc thành phố Tuyên Thành, An Huy chính là địa phương gây ra tranh cãi khi tự nhận là quê hương của lẩu.

Dù tuyên bố như vậy nhưng lẩu An Huy kém nổi tiếng hơn Bắc Kinh và Tứ Xuyên nhiều lần, nước dùng của loại lẩu này chủ yếu nấu từ rau củ địa phương, các gia đình thường tự chế biến chứ ít khi ra hàng quán.

Chính người Quảng Đức phải công nhận rằng lẩu của họ "là thịt lợn hầm rau củ, đơn giản nhưng rất ngon miệng, đặc biệt là mùa đông".

Vân Nam nổi tiếng với lẩu chua, lẩu Quảng Đông ú ụ hải sản

Lẩu Vân Nam

Ở Trung Quốc, lẩu Bắc Kinh và Tứ Xuyên thống trị các thành phố lớn. Tuy nhiên, sự khác biệt vẫn được tọa ra ở Vân Nam: thêm giăm bông vào lẩu, Qúy Châu ở phía nam lại có lẩu chua nấu từ lòng bò.

Vị lẩu Giang Tô ở bờ biển phía đông lại nhẹ nhàng tinh tế, nước dùng nấu với hoa cúc. Quảng Đông lại nổi tiếng với lẩu hải sản, từ a -> z có khi chỉ có hải sản. Khí hậu Quảng Đông tương đối nóng, dân tình không thích ăn ớt, ăn nhiều hải sản tính hàn có lẽ là cách để họ hạ nhiệt.

Rốt cục lẩu ờ đâu mà ra?

Lịch sử của món ăn này thật sự quanh co và nhiều tranh cãi. An Huy tuyên bố là quê hương của lẩu, Tứ Xuyên, Trùng Khánh ngay lập tức phản đối.

Những bằng chứng khảo cổ lâu đời cho thấy 2000 năm trước con người đã ăn lẩu, có khi còn sớm hơn. Ngoài ra, tham chiếu đầu tiên về lẩu trong văn học chính là Tam Quốc Diễn Nghĩa của tác giả La Quán Trung.


"Lịch sử của nó ít nhất phải 1700 năm tuổi", Richard Trương, giám đốc bảo tàng Ẩm thực Tứ Xuyên ở Thành Đô cho biết. "Trong thời Tam Quốc (220 - 280), thức ăn đã được nấu chín trong nồi đồng nhưng chưa thực sự phổ biến. Đến thời kỳ Nam-Bắc triều, cách nấu nướng này trở nên phổ biến hơn."

Biết là vậy, nhưng không thiếu những tài liệu cho rằng lẩu đến với thế giới từ thế kỷ 14 - món lẩu Bắc Kinh ngày nay là của Đế quốc Mông Cổ 800 năm về trước.

Tương truyền, một Khả hãn rất sốt ruột để ăn món đùi cừu khoái khẩu của mình trước khi ra trận. Trù phòng (hay trù sư, là tên gọi cổ của đầu bếp) đã nghĩ ra cách tăng tốc quá trình chế biến bằng việc cắt nhỏ thịt cừu và đun sôi nó trong nước. Như vậy, kiểu này cũng tính là lẩu.

Trong triều đại Minh - Thanh (cuối thế kỷ 14 đến đầu thế kỷ 20), quan quân triều đình cũng rất thích ăn lẩu và bắt đầu thử nghiệm đủ loại gia vị khác nhau.

Đến thời hiện đại, lẩu mới thực sự "cất cánh" ra quốc tế từ đầu thế kỷ 19, khi đó nhắc đến lẩu, kiểu gì cũng có nghĩa là lẩu Tứ Xuyên.

Ngư dân dọc sông Dương Tử vào những năm 1820 cũng đun sôi thịt trong nước dùng cay để ăn cho ấm và tiết kiệm. Và không phải ai cũng biết, các nhà nhà hàng chuyên lẩu đầu tiên xuất hiện vào năm những 1930 ở Trùng Khánh.

Nói chung, có quay về quá khứ cả nghìn năm vẫn rất khó để biết đâu là quê hương của lẩu, vì nấu chín thức ăn trong nước dùng là phương pháp phổ biến trên toàn thế giới. Rõ ràng, chẳng có cách nào ngăn người Trung Quốc cãi nhau về lẩu cả.

Tham khảo SCMP
Theo: Trí Thức Trẻ
Vĩnh Bảo sưu tầm 25/3/2021