Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Lại nói Về Chữ Nhẫn


Lại nói  Về Chữ Nhẫn






忍一時風平浪靜
退一歩海闊天空
Phiên âm Hán Việt:

Nhẫn nhất thời phong bình lãng tĩnh
Thối nhất bộ hải khoát thiên không

Dịch nghĩa:

Nhẫn một lúc gió yên sóng lặng
Lùi một bước biển rộng trời cao



Chữ 忍: NHẪN có chữ 刃: nhận (mũi dao) nằm trên chữ 心:Tâm. Có nghĩa là mũi dao luôn đâm vào tim làm mình đau nhói, khó chịu không thể tả nỗi. Thông thường, nếu một vật nhỏ như cây gai đâm vào tay mình cũng làm cho mình đau nhức khó chịu, huống hồ chi mũi dao bén thọc vào ngay tim mình. Sự nhẫn nhục, chịu đựng cũng được ví như vậy. Trên đời nầy có rất nhiều chuyện, sự việc nghe thấy rất bất bình, khó chịu, thậm chí làm cho mình tức giận, v.v.; như mũi dao đang đâm vào tim mình đau nhói.
Nếu minh cố gắng chịu đựng, hoan hỷ thông cảm, bỏ qua, tha thứ thì sẽ không có chuyện gì xảy ra đến với mình, như gió yên sóng lặng. Cũng nhờ có trí tuệ sáng suốt, biết nhẫn nhịn, ngay lúc đó mình sẽ biết nhường bước, lùi lại, không còn tranh cãi, đấu tranh gì cả, thì thế giới trước mắt mình sẽ rộng rãi thênh thang như biển rộng trời cao vậy.


Chữ nhẫn


- Nhịn được cái tức một lúc, tránh được mối lo trăm ngày
- Muốn hoà thuận trên dưới , nhẫn nhịn đứng hàng đầu
- Cái gốc trăm nết, nết nhẫn nhịn là cao
- Cha con nhẫn nhịn nhau, vẹn toàn đạo lý
- Vợ chồng nhẫn nhịn, nhau con cái khỏi bơ vơ
- Anh em nhẫn nhịn nhau, trong nhà thường êm ấm
- Bạn bè nhẫn nhịn nhau, tình nghĩa chẳng phai mờ
- Tự mịnh nhẫn nhịn được ai ai cũng mến yêu
- Người mà chưa biết nhẫn chưa phải là người hay.


Nhẫn là gì?

Chữ nhẫn chiết tự ra gồm chữ đao nghĩa là dao, chữ nhận nghĩa là nhọn, chữ tâm nghĩa là tim. Khéo khen ai nghĩ ra cái cấu hình con dao nhọn để trên trái tim như vậy khiến cho chữ nhẫn diễn tả một hành xử được nhiều người chọn trong một xã hội có nhiều áp lực: Đó là tính chịu đựng.

Viết chữ nhẫn như thế nào ?

Người viết thư pháp (cũ), khi viết chữ nhẫn thường sáng tác hoặc trích những câu hay của các danh gia để minh họa cho ý mình muốn tìm trong chữ nhẫn, chẳng hạn như hai câu thơ sau:

Dịch âm:

Nhẫn nhất thời phong bình lãng tĩnh
Thoái nhất bộ hải khoát thiên không

Hay hai câu sau:

Dịch âm:

Nhẫn thị thân chi bảo
Bất nhẫn thân chi ương

Dịch nghĩa

Nhịn một lúc, gió yên sóng lặng
Lùi một bước, biển rộng trời trong 



Dịch nghĩa:

Nhịn là (của) báu của thân
Không nhịn (là) vạ của thân

Ý nghĩa của chữ "nhẫn"

Theo Hán học, chữ "nhẫn" được tạo bởi hai chữ: chữ "đao" và chữ "tâm", được thể hiện theo cách: chữ "đao" đặt trên chữ "tâm". Người xưa nói: Luyện tính "nhẫn" như lúc nào cũng có lưỡi dao đè lên người là vậy.

"
Nhẫn" có nghĩa là biết lắng nghe, biết tiếp thu ý kiến của người khác, để điều chỉnh hành vi.

"
Nhẫn" là nhịn, sẵn lòng: nhẫn một tý để đỡ sinh chuyện, nhẫn nại, nhẫn nhịn, nhẫnnhục.

Nhẫn nại: bền bỉ, chịu khó, chịu khổ, kiên trì theo đuổi đến cùng công việc đã đặt ra, nhẫnnại học tập, biết nhẫn nại, chịu khó, chịu khổ trong rèn luyện.

"
Nhẫn" còn có ý là chịu dằn lòng xuống để tránh bực tức, cãi vã: "Nhận nhịn nhiều chứ nếu không thì sinh chuyện rồi"...

Ý nghĩa của chữ "
nhẫn" là thế, nên tổ tiên ta có câu "chữ nhẫn quý hơn vàng".

Từ xa xưa, tổ tiên ta muốn các thế hệ con cháu luôn luôn nhớ và thực hiện đức tính "
nhẫn" đã nghĩ ra cách, dùng kim loại chế tác một cái vòng xỏ vào ngón tay để luôn nhắc nhở ta, rèn luyện lời ăn tiếng nói, hành vi cử chỉ sao cho tốt đẹp, gọi đó là cái "nhẫn".

Thuở ban đầu, đời sống kinh tế còn thấp, nên
 nhẫn được làm bằng đồng thau, rồi tiến đến bằng bạc, và thế kỷ XX làm bằng vàng, hoặc nhẫn khảm đá quý.

Có điều đáng nói là, không ít người chỉ coi chiếc
 nhẫn là đồ trang sức, nhằm tô thêm vẻ đẹp, sự sang trọng cho con người, mà quên hẳn, thậm trí không biết đó là một thực thể, để nhắc ta luôn luôn nhớ đến việc thực thi đức "nhẫn" trong đời sống hàng ngày.

Đối với chiếc
 nhẫn cưới, cũng là thế!

(St online)





Trong chữ Hán: chữ Nhẫn được hình thành từ 
 (tâm) + (nhận) = 
Chữ  (tâm)
 Ngày nào “Tâm” dứt lòng tham
Thì ta an lạc Niết bàn hiện ra
Dù nơi cảnh giới ta-bà
Tây phương cực lạc cũng là trong “Tâm”
Khi sân khuôn mặt nổi lên
Thân ngoài biểu hiện lòng thêm ưu phiền
Vốn là trong sáng tự nhiên
Không tham, không hận, không phiền, không si
Khi Tâm hiện thể từ bi
Ánh trăng chân lý thấu miền hư vô
Khi nào vọng tưởng nhiễm ô
Hơn thua đố kỵ đi vô lỗi lầm
Đánh mất bản thể chân Tâm
Bao nhiêu ác nghiệp âm thầm theo sau
Tâm như mãnh lực đứng đầu
Chúng sinh lục đạo âu sầu tử sinh
Khiến người phiền não điêu linh
Tâm là nguồn tội vô hình thế gian
Gây bao ác nghiệp sai lầm
Nhưng người hiểu đạo tri ân Tâm nhiều
Nhờ Tâm thấu rõ mọi điều
Sống trong an lạc bao nhiêu thái bình
Đến khi xả báo thân mình
Quay về bản thể an khinh Niết Bàn

Thích Trí Giải

(Nhận)  nghĩa là sự nguy hiểm, mũi nhọn, chém giết.
 Nhẫn có nghĩa là nhịn. Như làm việc khó khăn cũng cố làm cho được gọi là kiên nhẫn 堅忍.Nhẫn là lòng khoan dung độ lượng. 
Tại sao chữ nhận 刃 (nhận) nằm trong chữ Tâm  gọi là nhẫn. Tức là người tạo chữ muốn nói. Trong cuộc sống hằng ngày tâm mình thường hay tiếp xúc nhiều thứ nguy hại như tham, sân, si, ngã mạn, ganh ty…Chúng ta luôn thức tỉnh những thứ làm nguy hại đến tâm tu hành. Do vậy chúng ta nhẫn nhịn. Sau này người viết chữ thường hay viết chữ Nhẫn như sau: 
 tâm + đao 刀 + bộ chủthành chữ Nhẫn
đao  nghĩa con dao, là chỉ cho sự nguy hiểm. Nó được ví như tâm sân phiền não có tính chất nguy hiểm đến tâm tu hành. Nó tìm ẩn bên trong cái Tâm.
Người tu chữ Nhẫn cần có (chủ) tức là làm chủ cái nguy hiểm, làm chủ cơn sân giận. Khi viết chữ Nhẫn bộ chủnày nằm trên bộ đao . Ý nghĩa này rất hay muốn Nhẫn thì chú ta phải làm chủ cái nguy hiểm (bộ chủ nằm trên bộ đao)
Muốn có được bộ chủ này đòi hỏi chúng ta phải tu tập. Thấy được bản chất của cơn sân giận là nguy hiểm luôn tiềm ẩn bên trong tâm (căn bản phiền não). Nó làm cho tâm con người nổi sân một cách điên rồ. Nên khi gặp hoàn cảnh chướng ngại chúng ta biết “Nhẫn” một chút. Nếu không một khi tâm sân nổi lên thì tình cảm gia đình sứt mẻ, tình bạn bè xa nhau. Chúng ta luôn thấy rằng tâm sân chính là kẻ thù độc hại lớn nhất của tâm. Một khi tâm sân nổi lên đốt hết cả rừng công đức, chỉ cần một ngọn lửa nhỏ có thể đốt cháy cả khu rừng, “nhất niệm sân tâm khởi, bát vạn chướng môn khai”. Vậy làm cách nào để thắng được tâm sân, và thực hành “Tâm nhẫn”. Chúng ta chỉ cần đi tìm(chủ) để bỏ con đao trong tâm 
Muốn có được (bộ chủ)này. Chúng ta phải tu tập từ bi quán, thiền định để tâm mình hằng ngày bình thản an lạc. Khi tâm bình thì thế giới bình “tướng tự tâm sinh”. Khi chúng ta thực tập thiền định, tâm vắng lặng thì “trí tuệ” phát sinh (nhân định tức huệ). Khi có trí tuệ rồi chúng ta sẽ làm chủ được con đao (phiền não). Bấy giờ trong bất kỳ nghịch cảnh chướng ngại nào chúng ta cũng làm chủ được cái nguy hại, làm chủ được cái tâm của mình. Ví dụ: tự nhiên ở đâu có người đến mắng chửi nhục mạ mình. Nếu mình không có trí tuệ không làm chủ được sự việc đó, thì tâm sân nổi lên dẫn đến đánh nhau, gây tai hại cả hai. Nếu như mình có trí tuệ làm chủ lúc đó. Mình quán xét sự việc đó, chuyện này ở đâu tự nhiên đem đến. Chắc là do kiếp trước mình đã gieo nghiệp ác thù hận với người này. Nên hôm nay người đó đến đòi nợ. Nhờ mình tu hành có phước, nên chủ nợ đến đòi nợ, mình có nợ thì trả cho họ là xong “Nhẫn” nhịn họ không sao, mọi việc sẽ tốt đẹp. Mình có nợ hôm nay trả hết nợ thì vui, tâm an lac. Nếu họ nổi sân là họ đã tạo nghiệp sai. Mình lại nổi tâm sân y như họ cả hai đều sai. Dẫn đến thù hận đời này sang đời kia biết bao giờ chấm dứt. 
Với hận diệt hận thù
Đời này không có được
Từ bi diệt hận thù
Là định luật ngàn thu” pc 

Thương, ghét, chê

Chữ thương, chữ ghét, chữ chê
Do ta vướng bận, si mê bám vào
Để tâm trong sáng ngàn sao
Ái biệt ly khổ ai nào dễ quên
Tiếng thương như gió diệu êm
Ai chê tức giận nổi sân hãi hùng
Thôi thì hãy sống ung dung
Thương chi cho khổ, ghét chung thêm sầu
Trí Giải
Theo đạo Phật chữ “Nhẫn” là một trong sáu phương pháp tu gọi (Lục độ) của Bồ tát gồm: Bố thí, Trì giới, Tinh tấn, Nhẫn nhục, Thiền định và Trí tuệ. Chúng ta là hành giả đang trên bước đường tu tập. Đừng bao giờ cho mình đã thắng và làm chủ được tâm sân. Khi chúng ta gặp hoàn cảnh chướng duyên phiền não. Nên quán tưởng kẻ thù đó chính là người bạn thân nhất của mình, là thiện tri thức trên lộ trình tu tập của mình. Họ giúp chúng ta có điều kiện để tu “Nhẫn”.
NHẪN
Nhẫn một bước, sóng yên biển lặng,
Nhẫn một đời, tâm cảnh từ bi.
Nhẫn với mình, tâm sinh hoan hỷ,
Nhẫn với người, hơn thiệt lợi chi?
Tâm Khánh

Nói thì dễ lắm nhưng khi thực hành thật là khó. bởi vì hằng ngay chúng ta luôn ôm ấp cái bản ngã của mình, sống ích kỷ, giận hờn, ganh tỵ, đố kỵ. Lúc nào cũng xem mình là trên hết. Đây chính là nguyên nhân ngăn cản chúng ta tu chữ “nhẫn”. Những thứ đó như là đao nằm trong tâm. Như từ trước đến giờ chúng ta luôn sống sai lầm thế này. Thì bây giờ chúng ta suy nghĩ sống tu tập chữ “Nhẫn”. hằng ngày cố gắng tu từ bi quán, thực hành thiền định để tâm được an định bấy giờ chúng ta sẽ có(trí tuệ) để bỏ con đao sân giận kia. Cuộc sống chúng ta luôn được an vui.
Vui 

Vui mà hiểu đạo mới vui
Vui không hiểu đạo chôn vùi thế nhân
Tiền tài danh lợi cũng cần
Để làm phương tiện nuôi thân kiếp người
Chữ tài chữ đức ở đời
Làm sao sánh được đức người chân tu
Giống vầng trăng sáng chân như
Sáng soi muôn vật mọi người bình an
Từ bi trí tuệ muôn ngàn
Xóa tan thù hận nhân gian, muôn loài

Thích Trí Giải

CHỮ NHẪN TRONG CUỘC SỐNG NGƯỜI VIỆT 
Theo cách viết của chữ Hán, chữ Nhẫn được tạo nên từ sự kết hợp của chữ Đao và chữ Tâm. Chữ Đao đặt ở phía trên, biểu hiện cho tính khách quan, tính bị động, tính nghiêm khắc. Chữ Tâm đặt ở phía dưới chữ Đao, chịu sự chế ngự của chữ Đao nhưng nó lại biểu hiện cho tính chủ quan, năng động và tự do. 

Nhẫn trở thành cách cư xử trong mối quan hệ giữa con người với con người và mối quan hệ giữa con người với mục đích, lý tưởng. Trong mối quan hệ giữa con người với con người, nhẫn là nhẫn nhịn. Trong mối quan hệ giữa con người với mục đích, lý tưởng, nhẫn trở thành nhẫn nại. Nhẫn chính là sự tu dưỡng đạo đức và tu dưỡng phẩm hạnh.

Chữ Nhẫn trong cuộc sống
Nhẫn là đặc trưng của nền văn minh Đông Á, trở thành quy tắc ứng xử từ gia đình đến xã hội. Việt Nam là nước có nền văn hoá nông nghiệp với đặc điểm trọng tình khiến người Việt Nam lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử. Do đó, người Việt Nam luôn chủ trương nhường nhịn để giữ được thuận hoà. Cũng bởi vậy mà chữ Nhẫn có một ý nghĩa, vị trí rất quan trọng trong nếp sống của người Việt. Một gia đình có êm ấm, hoà thuận hay không phần lớn là do sự nhẫn nhịn quyết định. 

Cái gốc trăm nết
Nết nhẫn nhịn là cao
Cha con nhẫn nhịn nhau
Vẹn tròn đạo lý
Vợ chồng nhẫn nhịn nhau
Con cái khỏi bơ vơ
Anh em nhẫn nhịn nhau
Trong nhà thường êm ấm
Bạn bè nhẫn nhịn nhau
Tình nghĩa chẳng phai mờ...

Trước đây, gia đình Trương Công Nghệ đời nhà Đường là cửu đại đồng đường (chín đời ở chung một nhà). Đường Cao Tông đến nhà ông ta hỏi có bí quyết gì, Trương Công Nghệ liền xin giấy viết liền một trăm chữ “Nhẫn”. Một gia đình có nhân khẩu quá đông, cùng chung sống dưới một mái nhà, nếu không có được sự nhẫn nhịn thì khó mà hoà hợp được. Đạo lý ấy cũng đúng trong một đất nước. Người có thể nhẫn nhịn nhau vì gia đình như vậy thì cũng có thể biết cách nhẫn nhịn, ứng xử khéo léo ngoài xã hội. Nhẫn nhịn chính là cái cột chống đỡ cho tinh thần đua tranh. Nếu lúc nào cũng nghĩ đến sự nhẫn nhịn thì thắng không kiêu, bại không nản, có thể tiến, có thể lui theo ý muốn của mình.

Chữ Nhẫn trong nghệ thuật
Thực tế đã chứng minh rằng tất cả những gì con người sống và làm đều được nâng trên đôi cánh của sự kiên nhẫn. Danh hoạ Tây Ban Nha Picatso đã phải âm thầm sáng tạo suốt 77 năm để có được 50.000 tác phẩm hội họa. Ông đã từng phải tự giam mình trên đồi Mông - mác suốt 5 năm trong thời kỳ Lam. Nhà văn Pháp Hônôrê Đờ Banzắc cũng vậy, ông phải trải qua bao nhiêu sự thất bại ở các nghề khác để thành công trong nghề văn. Với 95 cuốn tiểu thuyết trong bộ “Tấn trò đời”, ông trở thành bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực phê phán Pháp. Victo Huygo, L.Tônxtôi đã làm việc cần cù để có được “Những người khốn khổ”, “Chiến tranh và hoà bình”, “Anna Karênina”... Thiên tài Puskin kiên trì trong “sự lao động yên lặng” làm loé sáng những ý tưởng. Gôganh – Thiên tài hội hoạ Pháp, trường phái Ấn tượng - phải lìa bỏ vợ con và cuộc sống giàu sang để tìm không gian sáng tạo. Còn Nhà viết kịch Môlie đã lao động miệt mài đến hộc máu trên sàn diễn... Đó là những tấm gương của các bậc vĩ nhân, những con người đã cống hiến những giá trị bất diệt cho nhân loại. Nhưng cả cuộc đời của họ là những trang sách, những bức họa, những công trình thấm đẫm mồ hôi và sự khổ luyện. Họ tự nguyện biến mình thành những người nô lệ lao động khổ sai cho nghệ thuật, cho lý tưởng. Gioócgiơ Xăng đã nói “Nghệ thuật không phải là một năng khiếu có thể phát triển mà không cần mở rộng kiến thức về mọi mặt. Cần phải sống, phải tìm tòi, phải xào nấu lại rất nhiều, phải yêu rất nhiều và chịu nhiều đau khổ, đồng thời phải không ngừng kiên trì làm việc”. Mác cũng khẳng định “Chỉ những người nào không sợ chồn chân mỏi gối, trèo lên những con đường nhỏ bé gập ghềnh của khoa học thì mới hi vọng đạt đến đỉnh cao xán lạn”.

Chữ Nhẫn đối với sức khoẻ

Mấy thể kỷ trở lại đây, nhẫn nhịn luôn là luận đề quan trọng trong tài liệu thần học. Khái niệm nhẫn nhịn bắt đầu được các tài liệu lịch sử chăm sóc bảo vệ sức khoẻ chú ý đến. Lợi ích của của sự nhẫn nhịn chủ yếu biểu hiện ở chỗ giảm bớt tâm trạng chịu đựng như đau buồn, tức giận hoặc lo âu. Dựa vào những nghiên cứu của các nhà tâm lý học mà xét, nhẫn nhịn có thể đem đến tinh thần khoẻ mạnh, thân thể khoẻ mạnh, năng lực tự khống chế... Các nhà nghiên cứu tiến hành đánh giá chỉ số sức khoẻ của con người và chỉ số nhẫn nhịn của họ. Sau khi thu thập được những thông tin này, họ tiến hành thống kê và kết luận: nhẫn nhịn có thể thúc đẩy sức khoẻ của con người. Chỉ số nhẫn nhịn của một người càng cao thì tâm lý của người ấy càng khoẻ mạnh. Người ta cũng chia con người thành một số nhóm để tiến hành thực nghiệm, chấp nhận việc trị liệu khác nhau. Họ phát hiện người tham gia tâm lý trị liệu có mức độ sức khoẻ không bằng người tham gia trị liệu nhẫn nhịn. Nhẫn nhịn có thể làm giảm đau đớn, giảm khả năng mắc bệnh tim mạch. Người nhẫn nhịn từ trong lòng thật sự thì sức mạnh cá nhân và dũng khí của họ sẽ tăng lên, họ sẽ càng có chủ kiến khi quyết định đối mặt với những điều làm tổn thương họ. Những người không đủ sự nhẫn nhịn thì sức mạnh và dũng khí của họ cũng bị giảm đi. Người Trung Quốc thường nói “Bạn chớ nên cáu gắt, cáu gắt sẽ làm tổn thương hoà khí; bạn chớ nên tức giận, tức giận sẽ làm huỷ hoại nguyên khí; bạn chớ nên đùa giỡn, đùa giỡn sẽ làm hỏng tài khí; bạn phải nhẫn nhịn, nhẫn nhịn sẽ có được thần khí”.

Vĩnh Bảo sưu tầm 2/10/2012

Không có nhận xét nào: