Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

NGỰA TRONG ĐỜI SỐNG

NGỰA TRONG

ĐỜI SỐNG

Con ngựa của 70 triệu năm trước ?
Tổ tiên nhà ngựa (hình 1) hoàn toàn giống con ngựa ngày nay, nhưng chỉ lớn bằng con cáo chân ngắn, chân trước có bốn ngón, chân sau ba ngón, mỗi ngón đều có móng nhỏ, khi đi đứng, các ngón đều chạm đất, còn chân ngựa ngày nay vừa cao và chỉ có một ngón, nhưng lớn hơn. Răng hàm của tổ tiên loài ngựa có những mấu tròn giống với những mấu của răng hàm lợn, nhưng khác với răng hàm của lợn hiện nay.
Với tầm vóc nhỏ như con cáo, tổ tiên ngựa dễ dàng ẩn náu trong các lùm cây, bụi cỏ trong những vùng đầm lầy Bắc Mỹ. Khi gặp nguy hiểm chúng có thể dễ dàng lẩn trốn khỏi nanh vuốt kẻ thù. Cách nay khoảng 30 triệu năm, trên đất châu Mỹ tổ tiên xa xôi loài ngựa đã hoàn toàn bị tiêu diệt, song con cháu chúng đã di cư sang châu Á .
Con ngựa của 20 triệu năm trước ?
Cách 20 triệu năm trên Trái Đất khí hậu ẩm ướt đã nhường chỗ cho khí hậu khô ráo, và các khu rừng ẩm ướt đã thu hẹp nhường chỗ cho những thảo nguyên rộng bạt ngàn. Ngựa cổ khi đó phải làm quen với chế độ ăn những thân cỏ cứng, 8 Ngua 2vó ngựa phải tung hoành trên nền đất khô, còn răng hàm mòn đi làm thành những bàn nghiền cỏ với những nếp men cứng rắn.
Ba ngón chân ngựa biến đổi dần để tạo thành một, song to hơn và khoẻ như chân ngựa hiện nay, thích nghi với nền đất khô cứng của thảo nguyên, nên chúng dễ chạy trốn kẻ thù trên những cánh đồng cỏ mênh mông (hình 2). Tầm vóc to cao của ngựa khi đó rất có lợi cho việc phát hiện ra kẻ thù từ xa để kịp thời ứng phó.
Đến trên một triệu năm là thời đại của ngựa. Từng đàn ngựa nhởn nhơ trên đồng cỏ. Loài người lúc đó chưa phải “giống người thông minh” nên chưa biết thuần hoá ngựa; song ngựa vẫn là con vật săn của người nguyên thủy.
Những mảnh xương ngựa đào được trong hang động của người nguyên thủy, những hình vẽ về ngựa còn đậm nét trên vách hang động của họ, những bức tượng ngựa được đẽo gọt tinh xảo, vẫn còn trong kho tàng văn hóa nhân loại đã chứng minh cho điều đó.
Ngựa trong dân gian
Ngựa là một trong 12 con giáp, hành xử mỗi năm vào tháng năm âm lịch, tính theo địa lý Ngựa nằm trong trục Bắc Nam trong thuật phong thủy tức trục Tý Ngọ -. Ngựa, còn gọi là ngọ hay mã, là loài vật gắn bó với con người từ lúc rất xa xưa, Ngựa cũng có mặt trong trong các chuyện cổ tích, truyền thuyết và trong thực tế cuộc sống.
Ngựa đi vào thần thoại, nó gắn liền với truyền thống của các dân tộc đã sớm thuần hóa và sử dụng chúng. Như trong truyện thần thoại Hy Lạp, Thần mã Pêgadơ nổi tiếng, tương truyền được sinh ra từ suối máu của Mêđuydơ, về sau bị người anh hùng Pécxê giết chết. Thần mã Pêgadơ ngoài ý nghĩa ban đầu như trên, còn mang ý nghĩa tượng trưng cho cảm hứng sáng tạo trong thi hứng, cho ý tưởng nghệ thuật. 8 Ngua 4Còn truyền thuyết Trung Hoa xuất hiện con Lang mã với sức mạnh tuyệt vời, và tác giả Ngô Thừa Ân, khi xây dựng bộ truyện thần thoại Tây Du Ký, với nội dung và bố cục đường xa núi non hiểm trở, đi lại khó khăn, ngựa thường trong cõi trần gian không thể chịu đựng nổi, đã biến thái tử Tây Long thành ngựa cho Đường Tăng cưỡi và nhờ có nó, Đường Tam Tạng mới có thể đạt đến chính quả.
Trong các truyện dã sử xưa cũng có rất nhiều con ngựa nổi tiếng, như con Xích Thố truyền từ thời Đổng Trác cho Lữ Bố, qua tay Tào Tháo, rồi lại được tặng cho Quan Vân Trường (Quan Công). Kể cả con ngựa “phản chủ” như ngựa do Lưu Bị cưỡi cũng đi vào sử sách.
Mang cái tên Ngọ, con ngựa thành một trong mười hai con giáp và được kết hợp với năm thiên can dương, tạo ra các kiểu ngựa khác nhau, như Canh Ngọ, Mậu Ngọ, Bính Ngọ, Giáp Ngọ :và Nhâm Ngọ.
Ngựa trong tính chất con người
Bảng các năm ngựa (xem ảnh) cho thấy một thông tin liên quan, trong cùng tuổi Ngọ con người có những tính chất khác nhau, về tướng tinh, cốt tinh và các phương vị bát 8 Ngua 3quái theo ngũ hành.
Về mặt duyên số, các nam nhân có tuổi giáp-bính-mậu-canh-nhâm, có thể chọn theo cách của Kim thư kinh số. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, cách chọn bạn đời hãy theo gợi ý của cha ông chúng ta trước đây.
Người xưa có câu: “nhất gái lớn hai, nhì trai hơn một”- hơn một ở đây có nghĩa hơn một tuổi, vậy :
Giáp ngọ có thể lấy Ất Mùi, – Bính ngọ có thể lấy Đinh Mùi – Canh ngọ có thể lấy Tân Mùi – Mậu ngọ có thể lấy Kỷ Mùi và – Nhâm ngọ có thể lấy Quý Mùi.
Trên đây theo quan niệm cổ, còn thời nay, nam giới thường lấy vợ trẻ hơn nhiều tuổi, nhưng họ vẫn có cách tính toán : lấy nhau theo sự tương sinh bản mệnh, tức phần nạp âm của ngũ hành.
Thí dụ: Người tuổi Giáp Ngọ, bản mệnh là là Sa Trung Kim (vàng trong cát), loại kim này không khắc hỏa mà cần có hỏa để thành kim; cũng không khắc mộc vì kim này cũng giống như nguyên tố hiếm, cần cho cây phát triển, vậy có thể yên tâm với mệnh Hỏa và mệnh Mộc.
Theo biện chứng ngũ hành : Thổ sinh Kim (sinh nhập) – Kim sinh Thủy (sinh xuất) – Hỏa khắc Kim (khắc nhập) – Kim khắc Mộc (khắc xuất)
Nên nói yên tâm với mệnh Hỏa và mệnh Mộc chỉ đúng một phần, trong khăc nhập thì Hỏa hao Kim được lợi, còn khăc xuât Kim hao Mộc được lợi. Tức mệnh Kim lấy mệnh Hỏa có lợi hơn là lây mệnh Mộc sẽ hao tài.
Tuổi Nhâm Ngọ: bản mệnh là Dương Liễu Mộc, rất kỵ Kiếm Phong Kim (gió sắc như kiếm), bởi vì với kiếm phong kim thì chẳng có loại mộc nào – cứng như cây tùng bách còn không chịu được. Các tuổi nhâm thân, quý dậu đều có bản mệnh này.
Trở lại con ngựa khi gắn với đời sống tâm linh, trong thuật chiêm mộng khi ngựa đi vào giấc ngủ trong một điềm triệu. 8 Ngua 5Có thể lý giải các giấc mơ khi thấy ngựa như sau :
– Mã vũ đình tiền hung sự tàn : ngựa múa trước cửa, hung sự sẽ tan.
– Mã hành thiên lý đại hỷ chí : ngựa đi ngàn dặm, có tin vui lớn.
– Thừa mã khoái hỷ độn chủ hung :cưỡi ngựa mà vui sướng lại là điềm dữ.
– Mã đá tiền vật thất lộc vị : ngựa đá súc vật điềm mất ngôi vị.
– Bị mã giảo, lộc vị chí : bị ngựa cắn, điềm tài lộc sẽ đến.
(trích trong cuốn “Almanach Thế giới Tâm linh” của Nguyễn Việt sắp xuất bản)

5 My Chau 1ĐIỀU HUYỀN BÍ QUANH

TƯỢNG MỴ CHÂU

KHÔNG ĐẦU

Từ lâu khách thập phương mỗi khi về thăm đất tổ Cổ Loa đều được người dân nơi đây kể cho nghe về những điều huyền bí quanh bức tượng không đầu Mỵ Châu (chuyện tích Trọng Thủy – Mỵ Châu). Những hiện tượng tâm linh này cho tới nay các nhà khoa học vẫn chưa có lời giải đáp. Vậy đâu là sự thật ?
Tương truyền rằng: Khi An Dương Vương thất thế ở thành Cổ Loa đã cùng con gái yêu là công chúa Mỵ Châu lên ngựa chạy về phương Nam. Khi đến đèo Mộ Dạ (Diễn Châu, Nghệ An) thì sức cùng, lực kiệt, trước mặt là biển Đông sau lưng là quân thù. An Dương Vương đã cầu cứu thần Kim Quy, rùa thần hiện lên và nói : “Giặc ở sau lưng nhà vua đó !” vua liền rút gươm chém đầu Mỵ Châu. Trước khi chết Mỵ Châu quỳ gối ôm chân cha mà nói : “Oan cho con lắm. Nếu là kẻ bất trung có lòng hại cha khi chết thân xác con sẽ hoá thành tro bụi, bằng không hoá thành ngọc, thành đá trôi về hầu cha”.
Hàng trăm năm sau lời chứng nghiệm của Mỵ Châu đã thành hiện thực (!?). Cho đến ngày nay người dân Cổ Loa vẫn truyền cho nhau nghe những câu chuyện li kì đó : Một số người dân khi quăng lưới trên sông Hoàng Giang đã kéo lên được một bức tượng hình người ngồi xếp bằng, hai tay để song song đặt lên đầu gối nhưng lại không có đầu. Cho rằng đây chỉ là một bức tượng bình thường, họ lại vứt bức tượng xuống sông.
Nhưng mấy lần sau khi quăng lưới kéo lên đều được bức tượng đó. Người dân trong vùng cho rằng, bức tượng linh thiêng đó chính là tượng công chúa Mỵ Châu.
Ngay sau đó các bô lão ở Cổ Loa đã mang võng đào ra làm lễ xin được rước về, trước khi rước tượng về, một cụ bô lão có nói: Nếu có linh thiêng xin ở chỗ nào về chỗ đó để con cháu lập đền thờ. Quả nhiên sau khi gánh về chiếc võng đã đứt ngay tại vùng đất5 My Chau 2 là Am thờ công chúa Mỵ Châu ngày nay, nằm bên trái điện Di Quy.
Nhân dân cho rằng đây chính là tượng công chúa Mỵ Châu đã ứng nghiệm vào lời nói năm xưa, trôi ngược biển Đông về đất Tổ để hầu vua cha. Từ đó hàng năm, người dân trong vùng đã cử người trông coi Am này, người được cử phải có đạo đức tốt, gia đình đầy đủ hạnh phúc, con cái trưởng thành. Do vậy những ai được chọn làm quan Đám đều rất tự hào. Và cứ 2 tháng một lần, vị quan Đám đó sẽ tiến hành lễ tắm rửa tượng, thay váy áo cho công chúa.
Theo lời kể của cụ Chu Trinh, 82 tuổi người có nhiều năm làm quản lý khu di tích Cổ Loa : 5 My Chau 3Truyền thuyết xưa có truyền lại, nguyên thủy của pho tượng cụt đầu là một khối đá nguyên vẹn, có hình dáng của một người cụt đầu ngồi theo thế xếp bằng, hai tay song song, đặt lên đầu gối. Nhưng sau này các cụ cao niên trong làng Cổ Loa, trong đó có cả cụ Chu Trinh đã phát hiện ra pho tượng đá gồm ba khối đá ghép lại, trong lòng có chỗ bị rỗng. Thời ông cha cụ còn sống có kể lại, vào thời Bắc thuộc, Mã Viện đã cho quân lính bổ pho tượng ra để moi ngọc trong lòng pho tượng nên tượng mới bị chẻ ra làm ba mảnh (?!). (theo Lao Động Thủ Đô)

Truyền thuyết Trọng Thủy – Mỵ Châu

Mỵ Châu (? – 208 TCN hoặc 179 TCN) là con gái của vua An Dương Vương nước Âu Lạc. Theo bộ sử ký Đại Việt sử ký toàn thư chép lại:
Mỵ Châu là con gái duy nhất của vua An Dương Vương. Năm 210 TCN, Triệu Đà là quan lại của nhà Tần ở Quảng Đông mang binh sang xâm lược Âu Lạc nhưng bị An Dương Vương đánh bại, Triệu Đà biết không đánh nổi bèn dùng kế cầu hoà, 5 My Chau 4An Dương Vương đồng ý, nhân cơ hội đó Triệu Đà cầu hôn Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thủy và kết thông gia với An Dương Vương.
Trọng Thuỷ sang ở rể tại Âu Lạc và đồng thời tìm hiểu các bị mật quân sự của Âu Lạc mà cụ thể là Nỏ thần. Trọng Thủy dỗ Mỵ Châu để xem trộm nỏ thần, rồi ngầm bẻ gãy lẫy nỏ, thay cái khác vào, giả vờ về Bắc thăm cha mẹ, bảo Mỵ Châu rằng : “Ân tình vợ chồng không thể quên nhau, nếu lỡ hai nước không hòa, Nam Bắc cách biệt, ta lại tới đây thì làm thế nào mà tìm thấy nhau ?”.
Mỵ Châu nói : “Thiếp có cái áo ấm lông ngỗng, thường mang theo mình, đi đến đâu thì rút lông ngỗng rắc ở chỗ đường rẽ để làm dấu”. Trọng Thủy về Quảng Đông báo cho Đà biết, Năm 208 TCN Triệu Đà xua quân tấn công Âu Lạc, nỏ thần đã bị hỏng, An Dương Vương thua trận và mang con là Mỵ Châu chạy về phía Nam,
Ttin lời chồng là Trọng Thuỷ hứa sẽ tìm mình, Mỵ Châu đã rút lông ngỗng trên tấm áo của mình rải dọc đường, Trọng Thuỷ cùng quân dựa vào lông ngỗng đuổi theo. Vua An Dương Vương chạy đến bờ biển cùng đường, gọi rùa thần Kim Quy lên cứu, rùa thần hiện lên bảo với ông, kẻ ngồi sau ngựa là giặc đấy ông quay lại nhìn thấy lông ngỗng dọc đường và rút gươm chém Mỵ Châu.
5 My Chau 5Trước khi bị cha chém, Mỵ Châu có khấn rằng Trung tín trọn tiết, bị người đánh lừa, xin hóa thành ngọc châu để rửa thù nhục này. Sau khi bị vua cha chém chết, máu bà chảy loang mặt nước biển, loài trai biển nuốt vào bụng hoá làm hạt minh châu.
Về năm mất, Sử ký của Tư Mã Thiên lại viết rằng Âu Lạc bị Triệu Đà đánh bại ngay sau khi Lữ Hậu chết, Lữ Hậu chết năm 180 TCN, vì thế một số sách báo ngày nay cũng viết Âu Lạc sụp đổ năm 179 TCN. Suy ra Mỵ Châu có thể mất năm 179 TCN.
Ở Cổ Loa còn lưu truyền một truyền thuyết về Mỵ Châu và bức tượng đá. “Một thời gian sau khi Mỵ Châu mất, tự nhiên ở khu Đầm Cả xuất hiện một hòn đá lạ. Có người đánh dậm, đánh cả ngày mà không được gì, chỉ thấy trong dậm có một hòn đá, vứt xuống nước nhiều lần mà không được cuối cùng phải vớt hòn đá lên bờ.
Trẻ chăn trâu thấy hòn đá lấy làm vui thích trèo lên nghịch ngợm, sau về nhà đều bị ốm. Từ đó dân làng biết hòn đá là linh thiêng nên dân mấy làng cùng đến rước, nhưng tất cả các làng xung quanh đều không làng nào rước được về, chỉ khi dân Cổ Loa mang võng đào ra khiêng, 5 My Chau 6cử hai cụ đám đến thì hòn đá lập tức lăn vào võng và dân Cổ Loa khiêng về được.
Đi đến quãng nay là am Mỵ Châu thì võng bị đứt, không cách nào mang đi được nữa, dân làng bèn lập am thờ tại đó. Tảng đá Mỵ Châu ban đầu có kích thước nhỏ, sau cứ lớn dần mãi. Đến khi nhân dân phải cầu xin tảng đá mới thôi không lớn nữa. Tảng đá trong mình có ngọc nên ngày một lớn và rất linh thiêng, cho đến khi quân giặc kéo sang, lấy ngọc mang đi, lấy ngọc mang đi, tảng đá mới thôi không lớn nữa và không còn linh thiêng. Chỗ mà hòn đá được vớt lên được nhân dân gọi là Lăng Bà Chúa”.
Những câu chuyện dân gian qua nhiều thời kỳ lịch sử phản ánh một dấu ấn sâu đậm của Mỵ Châu trong đời sống tâm linh của nhân dân Cổ Loa với một sự linh thiêng thành kính.
Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tàm 11/7/2015

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

TRUYỆN KIỀU QUA CÁC THỜI ĐẠI



TRUYỆN KIỀU

QUA CÁC THỜI ĐẠI

– Không rõ tác giả
Truyện Kiều ra đời đã được chừng một trăm tám mươi năm (1). Những ý kiến phát biểu về Truyện Kiều nhiều không kể xiết. Bài này chỉ điểm qua một số thơ văn khen chê Truyện Kiều viết trước Cách mạng Tháng Tám.
Tương truyền khi sáng tác xong Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh), Nguyễn Du đưa bản thảo cho người bạn văn chương tri kỷ của mình là Phạm Quý Thích xem. Phạm rất tán thưởng, nhuận sắc lại một vài chỗ, đổi tên sách thành Kim Vân Kiều tân truyện, làm bài thơ đề từ, rồi cho đem khắc ván in ở phố Hàng Gai, Hà Nội.
Bài thơ đề từ ấy, sau này được khắc lên đầu tất cả các bản Kiều nôm, và hơn một trăm năm sau được in lại nguyên văn trên bản Kiều quốc ngữ của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, Vĩnh Hưng Long xuất bản năm 1925 :
Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường
Bản thế yên hoa trái vị thường
Ngọc diện khởi ưng mai thủy quốc
Băng tâm tự khả đối Kim lang
Đoạn trường mộng tỉnh căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân thanh đáo để vị thùy thương
Dịch nghĩa:
Người giai nhân (Kiều) ví chẳng đến sông Tiền Đường (thì) cái nợ yên hoa nửa đời vẫn chưa trả xong. Nét mặt ngọc của nàng sao lại phải vùi xuống dưới nước; tấm lòng trong sạch của nàng lúc nào cũng không thẹn với chàng Kim. Giấc mộng đoạn trường khi đã tỉnh ra thì cái căn duyên cũng đã giũ sạch; tiếng đàn bạc mệnh tuy đã hết khúc mà nỗi oán hận vẫn còn dài. (Thế mới hay) một mảnh tài tình là cái lụy chung muôn đời. (Vậy thì) quyển Tân thanh này cốt để thương xót ai? (2)
Bài thơ trên đây là bài thơ vịnh Kiều đầu tiên, cũng là bài tựa Truyện Kiều đầu tiên.
Ngày từ khi ra đời, Truyện Kiều đã được dùng làm đề tài cho một trào lưu văn nghệ cung đình. Ngoài bài thơ đề từ của Phạm Quý Thích còn có những lời bình luận của Vũ Trinh và Nguyễn Lượng, bài tổng thuyết của Minh Mệnh, 30 bài thơ đề vịnh của Hà Tông Quyền, tập Kim Vân Kiều án của Nguyễn Văn Thắng, bài tổng từ của Tự Đức…
Nhưng đánh giá cao nhất Truyện Kiều lại là một bài tựa Truyện Kiều, bài của Tiên Phong Mộng liên đường (3) viết vào cuối thời Minh Mệnh.
Mộng liên đường hết sức đề cao tầm nhìn của Nguyễn Du, hết lời ca ngợi tấm lòng của Nguyễn Du: “Nếu không có con mắt trông thấu cả sáu cõ, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có các bút lực ấy (4). Có thể nói Mộng liên đường đã khám phá được tâm sự của Nguyễn Du vậy.
Mộng liên đường cũng hết lời ca ngợi thiên tài nghệ thuật của Nguyễn Du thể hiện qua Truyện Kiều “Dẫu đời xa người khuất, không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía, ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột”. (5)
Cuối thế kỷ XIX, với bài tựa Đoạn trường tân thanh viết năm 1898, Đào Nguyên Thổ cũng hết sức đề cao thiên tài Nguyễn Du và nêu tác dụng kỳ diệu của Truyện Kiều :
(Truyện Kiều) “Nói tình thì vẽ được hình trạng hợp ly cam khổ, mà tình không rời cảnh, tả cảnh thì bày hết thú vị tuyết nguyệt phong hoa mà cảnh tự vướng mình, mực muốn múa mà bút muốn bay, chữ hay phô mà câu hay nói, khiến người khóc, khiến người vui, khiến người buồn, khiến người giở đi giở lại ngàn lần, càng đọc thuộc lại càng không biết chán, thật là một khúc Nam âm tuyệt xướng. Ngày nay nào khách văn chương, bạn thoa quần, cho đến kẻ buôn bán, người thôn hào, không ai là không có một quyển Kiều cầm tay để thưởng thức. Ngay như cả những người không biết lấy một chữ mà cũng học thuộc dăm câu, cũng thường khi nằm khi ngồi đem ra ngâm ngợi. Ôi ! Sao mà lại có thứ văn làm say người đến thế!…” (6)
Thật đúng ! Biết bao nhiêu người đã mê Truyện Kiều. Ngay Tự Đức tuy rất bất bình khi đọc những câu ca ngợi “tên giặc” Từ Hải (7) cũng phải nói :
Mê gì ? – Mê đánh tổ tôm
Mê ngựa hậu bổ, mê nôm Thúy Kiều
Nhưng mê Truyện Kiều thì không ai bằng Chu Mạnh Trinh. Chu Mạnh Trinh không chỉ mê Truyện Kiều, mê văn chương Truyện Kiều, mà chính là mê cả nàng Kiều, y như mê một giai nhân có thật.
Chu Mạnh Trinh ca ngợi đạo đức Thúy Kiều là “Người thục nữ đủ đường hiếu nghĩa”, ca ngợi tài sắc Thúy Kiều “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh, vậy nên khách đa tình say chuyện phong lưu trăn măm cũ còn ghi tên tuổi hão, người chép sách tiếc vì tài sắc, ngàn thu sau còn nhặt chút phấn hương thừa”. Chu Mạnh Trinh mơ tưởng sẽ dựng một ngôi nhà vàng cho Kiều, mơ tưởng mượn cỏ thơm gọi hồn Kiều về, rồi như thấy bóng Kiều hiện về đâu đó: “Hỡi ơi! Hồn còn biết hay chăng? Bóng hoàn bội tưởng ra vào Lạc Phố!” (8)
Mê Kiều không ai bằng Chu Mạnh Trinh thì bênh vực Kiều, Chu Mạnh Trinh cũng đã bênh vực một cách tài tình hơn ai hết. Để bênh vực cái việc Kiều tự tiện thề thốt với Kim, Chu Mạnh Trinh đã mượn ý hai câu thơ cổ (9) tả một cái vườn đóng kín với một cành hạnh đỏ vươn ra ngoài tường nở hoa. Hoa hạnh đã nở ngoài tường chỉ vì sắc xuân trong vườn đầy dẫy không sao giữ lại được. Kiều tự tình với Kim thì chẳng qua cũng như bông hạnh kia. Ai lại nỡ khe khắt với một cành hoa vươn ra nở ngoài tường, nhất là nó vẫn giữ được tiết sạch giá trong: “Cũng có kẻ bảo tại nước chảy mây trôi lỡ bước, nên cành đưa lá đón quen thân. Nào biết đâu bông hạnh nở ngoài tường chưa để con ong qua tới”.
Nếu có nhiều người mê Truyện Kiều thì số người chê Thúy Kiều cũng không phải ít. Trong số những người ấy ta thường nhắc đến Nguyễn Công Trứ. Trong một bài hát nói, Nguyễn Công Trứ đã dõng dạc lên án Thúy Kiều :
Bạc mệnh chẳng làm người tiết nghĩa
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm !
Ai tà dâm ? Người con gái phải bán mình chuộc cha hay người khách làng chơi đi tìm thú vui trụy lạc ? Phong tình có tiếng như Nguyễn Công Trứ đáng lẽ nên dè dặt mới phải !
Tản Đà rất thích Truyện Kiều nhưng đối với nhân vật Thúy Kiều, nhà thơ mang một thành kiến nặng nề thể hiện trong bài Thúy Kiều hầu rượu Hồ Tôn Hiến :
… Đôi hàng nước mắt, đôi làn sóng
Nửa đám ma chồng, nửa tiệc quan
Tổng đốc có thương người bạc phận
Tiền đường chưa chắc mả hồng nhan…
Thật là tàn nhẫn ! Rõ ràng Tản Đà không thông cảm một chút nào với nỗi đau đớn của Thúy Kiều sau khi Từ Hải bị giết.
Chê Thúy Kiều không chỉ có Nguyễn Công Trứ, Tản Đà mà còn nhiều nhà nho nữa. Ngay trong thôn xóm ngày xưa cũng lưu hành lời lên án Truyện Kiều :
Đàn ông chở kể Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều
Nói về thân phận Thúy Kiều, sư Tam Hợp có câu :
Vậy nên những chốn thong dong
Ở không yên ổn ngồi không vững vàng.
Có thể nói lịch sử Truyện Kiều cũng long đong như thế !
[…] Đúng là tiếng thơ ấy, yêu thương như tiếng ru của mẹ, thân thiết như tiếng gọi của quê hương, nghìn năm sau sẽ còn vọng mãi.
Chú thích :
(1) Cho đến nay vẫn chưa biết đích xác năm ra đời của Truyện Kiều.
(2) Bản dịch trong quyển Truyện Kiều – Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích.
(3) Tên thật là Nguyễn Đăng Tuyển, người huyện Tiên Du – Bắc Ninh (không rõ năm sinh và năm mất), đậu tú tài năm Minh Mệnh thứ 17, làm sử quán biên tu rồi tri phủ Thuận Thành (theo Lược truyện tác gia Việt Nam).
(4, 5) Theo bản dịch của Bùi Kỷ – Trần Trọng Kim.
(6) Theo bản dịch của Trần Lê Nhân.
(7) Tương truyền Tự Đức đòi đánh Nguyễn Du ba chục roi giá thử Nguyễn Du còn sống, vì Tự Đức không thể chịu được cái ngang tàng của Từ Hải.
(8) Thanh Tâm tài nhân thi tập tự Đoàn Tư Thuật dịch.
(9) Xuân sắc mãn viên quan bất trú / Nhất chi hồng hạnh xuất tương lai
(Sắc xuân đầy vườn đóng cửa không giữ được / Một cành hồng hạnh vươn ra ngoài tường).
Thạch Bích post
Vĩnh Bảo sưu tầm 11/7/2015

NGƯỜI MỸ NÓI VỀ NGƯỜI VIỆT

NGƯỜI MỸ NÓI VỀ NGƯỜI VIỆT

Đặc điểm người Việt qua nhận xét của Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ ?
Khi nhìn nhận bất cứ một vấn đề gì chúng ta cũng phải có cái nhìn khách quan, đầy đủ hai mặt của vấn đề, trên nhiều phương diện giữa tốt và xấu, tích cực và tiêu cực, từ đó rút ra vậy cái gì nên phát huy và cái gì nên hạn chế.
Cách đây hai mươi năm, Trung Quốc có sách “Người Trung Quốc Xấu Xí” của tác giả Bá Dương (Bo Yang). Ở Mỹ có cuốn sách nổi tiếng tương tự là: “The ugly American” của William J. Lederer And Eugene Burdick xuất bản năm 1958 đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất thời đó. Dường như có nhiều liên quan giữa sự can đảm nhìn nhận ra những yếu kém của chính mình và sức vươn lên mạnh mẽ cho dân tộc.
Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã nói lên 10 đặc tính căn bản của người Việt, xin tạm dịch như sau :
1/.- Cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn.
2/.- Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu9 Nguoi Viet 1những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.
3/.- Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.
4/.- Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.
5/.- Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt).  [when small, they study because of their families; growing up, they study for the sake of prestige or good jobs]
6/. Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.
7/. Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương). [to save face or to show off].
9 Nguoi Viet 28/.- Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có.
9/.- Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ.
10/.- Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 3 người làm thì kém, 7 người làm thì hỏng việc).
[one person can complete a task excellently; 3 people do it poorly, and 7 people make a mess of it].
Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy người Mỹ đã hiểu rất rõ người Việt. Tại sao người Việt lại có những đặc tính như thế này?
Người xưa cũng đã nhận ra :
Học giả Trần Trọng Kim (1883 – 1953) khi viết bộ Việt Nam Sử Lược, ấn hành lần đầu tiên năm 1919, cũng đã phân tích khá rõ ràng những đặc tính của người Việt và những yếu tố tạo nên những đặc tính đó.Tran Trong Kim 5Đa số người lớn tuổi, khi còn nhỏ đều đã được học bộ sử này. Tôi chỉ xin trích lại dưới đây một số đoạn chính ông viết về đặc tính của người Việt.
Trong bài tựa, ông nói ngay : “Người mình có ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học, việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương ngôn: “Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!”
“Cái sự học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra làm sao được ?”
“Thời đại Bắc thuộc dai dẳng đến hơn một nghìn năm, mà trong thời đại ấy dân tình thế tục ở nước mình thế nào, thì bấy giờ ta không rõ lắm, nhưng có một điều ta nên biết là từ đó trở đi, người mình nhiễm cái văn minh của Tàu một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát được cái vòng phụ thuộc nước Tàu nữa, người mình vẫn phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng ấy lâu ngày đã trở thành ra cái quốc túy của mình, dẫu ngày nay có muốn trừ bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy gội cho sạch được. Những nhà chính trị toan sự đổi cũ thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, thì sự 9 Nguoi Viet 3biến cải mới có công hiệu vậy.”
Ở Chương VI nói về “Kết Quả của Thời Bắc Thuộc”, ông có nhận định rõ hơn :
“Nguyên nước Tàu từ đời Tam Đại đã văn minh lắm, mà nhất là về đời nhà Chu thì cái học thuật lại càng rực rỡ lắm. Những học phái lớn như là Nho giáo và Lão giáo, đều khởi đầu từ đời ấy. Về sau đến đời nhà Hán, nhà Đường, những học phái ấy thịnh lên, lại có Phật giáo ở Ấn độ truyền sang, rồi cả ba đạo cùng truyền bá đi khắp cả mọi nơi trong nước. Từ đó trở về sau nước Tàu và những nước chịu ảnh hưởng của Tàu đều theo tông chỉ của những đạo ấy mà lập ra sự sùng tín, luân lý và phong tục tương tự như nhau cả…”
“Khi những đạo Nho, đạo Khổng, đạo Phật phát đạt bên Tàu, thì đất Giao châu ta còn thuộc về nước Tàu, cho nên người mình cũng theo những đạo ấy. Về sau nước mình đã tự chủ rồi, những đạo ấy lại càng thịnh thêm, như là đạo Phật thì thịnh về đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê và nhà Lý, mà đạo Nho thì thịnh từ đời nhà Trần trở đi.
“Phàm phong tục và chính trị là do sự học thuật và tông giáo mà ra. Mà người mình đã theo học thuật và Tôn giáo của Tàu thì điều gì ta cũng noi theo Tàu hết cả. Nhưng xét ra thì điều gì mình cũng thua kém Tàu, mà tự người mình không thấy có tìm kiếm và bày đặt ra được cái gì cho xuất sắc, gọi là có cái tinh thần riêng của nòi giống mình, là tại làm sao ? …
“Người mà cả đời không đi đến đâu, mắt không trông thấy cái hay cái dở của người, thì tiến hóa làm sao được ? Mà sự học của mình thì ai cũng yên trí rằng cái gì đã học của Tàu là hay, là tốt hơn cả: từ sự tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. 9 Nguoi Viet 4Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước được là dở. Cách mình sùng mộ văn minh của Tàu như thế, cho nên không chịu so sánh cái hơn cái kém, không tìm cách phát minh những điều hay tốt ra, chỉ đinh ninh rằng người ta hơn mình, mình chỉ bắt chước người ta là đủ.
“Địa thế nước mình như thế, tính chất và sự học vấn của người mình như thế, thì cái trình độ tiến hóa của mình tất là phải chậm chạp và việc gì cũng phải thua kém người ta vậy.”
Đọc cuốn “Lều chõng”, một tiểu thuyết phóng sự của nhà văn Ngô Tất Tố (1894 – 1954), chúng ta có thể thấy rõ nền học vấn của người Tàu mà người Việt rập khuôn theo đã kềm hảm con người như thế nào. Ông vốn là một nhà Nho, đã từng tham dự các kỳ thi Hương dưới triều Nguyễn, nên đã phản ánh một cách trung thực những oái ăm của các kỳ thi này và nêu lên sự sụp đổ tinh thần của những nho sĩ suốt đời lấy khoa cử làm con đường tiến thân nhưng lại bị hoàn thất vọng .
Trước là làm đẹp sau là ấm thân”
Nước Việt Nam bị Pháp đô hộ gần 100 năm, đã cởi bỏ nền học vấn của Trung Hoa, tiếp thu nền học vấn mới của phương Tây, nhưng vẫn còn giữ lại nhiều nét căn bản của nền văn hóa Trung Hoa. Có nhiều hủ tục trong quan, hôn, tang, tế mà cuộc Cách Mạng Văn Hoá của Trung Quốc đã phá sạch, nhưng nhiều người Việt vẫn cố giữ lại như những thứ “quốc hồn quốc túy”.
Bài tục giao sau đây vẫn còn là tiêu chuẩn và mục tiêu thăng tiến của gia đình và con9 Hap hon 1người Việt Nam :
Con ơi ! muốn nên thân người
Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha
Gái thì giữ việc trong nhà
Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa
Trai thì đọc sách ngâm thơ
Dồi mài kinh sử để chờ kịp khoa
Mai sau nối được nghiệp nhà
Trước là đẹp mặt sau là ấm thân
Bây giờ người con gái không còn chỉ “giữ việc trong nhà”, và người con trai không còn chỉ “đọc sách ngâm thơ” mà đã đi vào khắp mọi lãnh vực của cuộc sống, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn chỉ là “Trước là đẹp mặt sau là ấm thân”.
Tiêu chuẩn của cuộc sống hiện nay của nhiều người, nhiều gia đình là có nhà sang cửa rộng, có xe hơi, có con đi du học nước ngoài… Đi đâu cũng nghe khoe nhà trên cả tỷ bạc, xe loại sang trọng nhất, con đang học bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư… Ngo Tat ToGần như không nghe ai khoe những công trình đang nghiên cứu hay thực hiện để đưa con người, cộng đồng và đất nước đi lên. Tất cả chỉ tập trung vào hai tiêu chuẩn là “đẹp mặt” và “ấm thân”.
Nếu mỗi gia đình và mỗi cá nhân chỉ lấy những mục tiêu như trên làm mục tiêu của cuộc sống và truyền từ đời nọ sang đời kia, còn lâu cộng đồng và đất nước với ngóc đầu lên được.
Chúng ta không mong người Việt có những nhà phát minh làm thay đổi nhân loại như : John V. Blankenbaker (phát minh ra máy vi tính 1971), Bill Gates, Steve Jobs…, chúng ta chỉ mong người Việt biết quan tâm đến cộng đồng, đất nước và nhân loại nhiều hơn.
Nhưng điều này quá khó. Đúng như người Mỹ đã nhận xét : Người Việt vì những lý do vớ vẩn, có thể hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ (như kiếm chút danh chẳng hạn). [sacrifice important goals for the sake of small ones]
Người Việt thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh. Một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 3 người làm thì kém, 7 người làm thì hỏng việc !
Chúng ta trông chờ vào thế hệ sắp đến, không bị vướng mắc với quá khứ, học được nhiều cái hay của xứ người, sẽ đưa cộng đồng và đất nước đi vào một hướng đi mới tốt đẹp hơn.
Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp
Vĩnh Bảo chuyển tiếp 11/7/2015

CHUYỆN PHIẾM VỀ NỤ HÔN

CHUYỆN PHIẾM VỀ NỤ HÔN


9 Hon moi 1NÓI CHUYỆN VỀ HÔN MÔI

– Nguyên Nguyen 
Một trong những hiện tượng loài người đã dễ dãi chấp nhận không một chút thắc mắc là sự lấn lướt và đồng hoá của văn minh Âu Mỹ trên tất cả các giống dân khác nhau trên địa cầu về cách thức HÔN nhau giữa hai người. Hôn nhau bằng đôi môi.
Cách đây chừng vài tháng người viết chợt nghĩ đến đề tài này khi xem xi-nê trên TiVi ở đài sắc tộc Úc SBS, phim The Terra-cotta Warrior (Người chiến sĩ đất nung). Phim do nữ tài tử số 1 của Trung Quốc Gong Li đóng vai chính. Truyện phim kể lại chuyện một trong những cung tần của Tần Thuỷ Hoàng đem lòng yêu một viên tướng của hoàng đế. Hai người yêu nhau trong lúc viên tướng có nhiệm vụ lo đốc thúc việc bào chế thuốc trường sinh cho Tần Thuỷ Hoàng.
Thuốc vừa bào chế xong nhưng chưa được thử nghiệm thì lại lọt vào tay của người đẹp cung tần. Hoàng đế khám phá ra chuyện này và bắt người đẹp đó nhảy vào lửa chết còn viên tướng bị bức tử bằng cách trét đất sét vào khắp người để cho khô rồi biến thành một trong những tượng đất sét mà các nhà khảo cổ đã đào được ở Xian (Tây An) cách đây vài chục năm. Nhưng trước khi chết người đẹp đã nhét vào miệng viên tướng đó viên thuốc trường sinh vừa mới được bào chế.
Hai ngàn năm trôi qua, vào khoảng thời gian đầu thế chiến thứ hai, một nữ tài tử xinê đi đóng phim ở khu Xian. Nữ tài tử này có lẽ do người đẹp năm xưa đầu thai lên, có khuôn mặt và vóc dáng giống y như người cung tần của Tần Thuỷ Hoàng hồi ấy. Nữ tài tử có việc lộn xộn chi đó với đám ê-kíp quay phim nên chạy trốn và lạc vào9 Hon moi 3 hầm chôn những người chiến sĩ bằng đất sét của Tần Thủy Hoàng.
Vô tình nữ tài tử đụng vào tượng đất sét bao bọc viên tướng bên trong. Đất sét bọc vỡ ra và người tướng năm xưa sống lại. Nhờ ở viên thuốc trường sinh năm xưa nên viên tướng đó giống như đã ngủ qua một giấc ngủ dài hơn 2000 năm. Tỉnh dậy ông tướng vẫn tưởng rằng đây là người yêu của mình năm xưa nên dùng hết võ nghệ siêu quần của chàng để bảo vệ người đẹp.
Chuyện ngộ nghĩnh của phim là ở chỗ ông tướng trong bộ y phục của thời nhà Tần đi đấm đá với đám anh chị có súng sáu ở giữa thế kỷ 20. Xong rồi không may người đẹp trong mộng của viên tướng lại bị nạn chết một lần nữa để lại viên tướng sống mãi mãi trong cô độc. Rồi đến thời 1980 hay gì đó trong đoạn cuối của phim, một đoàn du khách Nhật sang viếng trung tâm Terra Cotta ở Xian. Trong đoàn có một nữ du khách lại có khuôn mặt và thân hình y hệt như người cung tần năm xưa.
Phim quay cảnh người đẹp du khách đi tham quan khu Terra Cotta ngang qua khu có toán thợ đang sơn sửa các tượng đá đó thì có một anh thợ quay mặt lại nhìn người đẹp để thử nhận diện có phải người đẹp năm xưa đã đầu thai trở lại tìm mình như đã thệ ước hay chăng. Bởi anh thợ đó chính là viên tướng phản loạn với Tần Thuỷ Hoàng năm xưa.
Điểm không thật của phim là ở đoạn đầu khi viên tướng và người cung tần yêu nhau. Họ làm tình (hùng hục) và ôm nhau, hôn nhau … bằng môi như các tài tử ở Hollywood! Chuyện đó chắc chắn không bao giờ có trong thời đại Trung Quốc cổ !
Một thí dụ khác : Trong phim ‘Anna and the King’ mới quay lại gần đây do Châu Nhuận Phát và Jodie Foster đóng – 9 Hon moi 1Atương đương với phim ngày xưa The King and I, ‘Vua Xiêm và thiếp’  do Yul Brynner và Deborah Kerr đóng – có cảnh giữa buổi tiệc tiếp đãi ngoại giao đoàn, vua Xiêm tự nhiên đứng lên xin lỗi quan khách vài phút để bồng bế đứa con gái cở chín mười tuổi gì đó và hôn con chúc con ngủ ngon kiss goodnight với con gái… cũng hôn bằng môi !
Thật lạ lùng ! Á Châu ngày xưa hay ngay cả ngày nay làm gì có chúc ngủ ngon trước khi đi ngủ, và lại còn hôn nhau bằng môi để chúc ngủ ngon nữa ! Khi cần phải quay đến Hôn  người ta để ý Hollywood có vẻ rất ngang ngược, trịch thượng và láo khoét, không coi khán giả ra gì, không cần điều nghiên gì hết về cách hôn của người Thái, người Tàu khi xưa ra sao mà cứ bắt người ta phải ôm nhau hôn bằng… môi.
Điểm lạ lùng nữa, đối với người xem, như người Việt, người Tàu, người Nhật, v.v. đa số họ cũng dửng dưng hình như không để ý đến điểm thiếu chính xác – nếu không nói hoàn toàn sai trật – của cái hôn trong cội nguồn lịch sử dân tộc của họ. Không phải chỉ riêng Hollywood, tất cả các phim ảnh của mọi sắc tộc trên thế giới, ngay cả Trung Quốc (như phim Terra Cotta Warrior ở trên), Nhật Bổn, Ấn Độ, và Việt Nam (như phim the Long Tri Festival có cảnh chúa Trịnh ôm hôn môi nàng Đặng Thị Huệ !!) cũng đều tự động bóp méo chi tiết cổ truyền của họ trong các phim lịch sử bằng cách a-lê-hấp cho các tài tử ôm nhau hôn môi ra rít cho nó mùi và lẹ, khỏi mất công điều nghiên lâu lắc.
Thật sự, người Á Châu và rất nhiều giống người khác trên thế giới trong suốt mấy ngàn năm sinh tồn và mãi cho đến khoảng giữa thế kỷ 20 vừa qua không hề có cái vụ hôn nhau bằng môi như người Âu Mỹ ! Tức là trước khi đầu óc con người bị tiêm nhiễm bởi xinê, bởi phim ảnh của Hollywood, hình như mỗi chủng tộc có một lối hôn nhau, một cách thức hôn riêng biệt, thường khác nhau – chứ không phải chỉ có hôn môi. Lối hôn nhau bằng môi có lẽ là thành công vĩ đại nhất của sự lấn lướt và đồng hoá về văn minh, văn hoá, diễn đạt, cảm thông, 9 Hon moi 2luyến ái, sex, thương yêu, vân vân và vân vân của Tây Phương đối với mọi dân tộc khác trên thế giới.
Phương tiện chuyên chở và phát huy điểm sáng đó của Tây Phương chính là phim ảnh và TiVi. Thật ra nếu lối sống tự do dân chủ của Tây Phương cũng được truyền bá và tiếp thu nhanh chóng –  chỉ trong vòng chừng 20 năm: từ khoảng 1945 đến 1965 – và thành công 100% như cái hôn thì chắc thế giới cũng bớt đi chiến tranh, nhất là nội chiến, xuống đường, tranh đấu, điều tra tham nhũng, điều tra về vi phạm quyền con người,… rất nhiều.
Người viết nhớ những năm đầu mới định cư tại Úc vào cuối thập kỷ 70 thế kỷ trước. Thời đó ưa ở trọ những nhà trọ gần khu đại học New South Wales tại Sydney. Mỗi người khách trọ có phòng ngủ riêng biệt nhưng dùng chung các phòng khách, nhà bếp, phòng tắm v.v. Trong nhà trọ có một anh bạn gốc người Phi Châu sang Úc đi làm hay đi học chi đó. Tên anh bạn đó người viết nhớ hình như là Omhone.
Có một buồi tối thứ Bảy trong phòng xem Tivi đen trắng của nhà trọ tình cờ chỉ có anh ấy và người viết. (Xin nhắc lại cho mãi đến 1974 Tân Tây Lan mới có Tivi màu, và Úc đến 1976 mới có, và chỉ  những tư gia trung lưu trở lên mới tậu và dùng TV màu). Hai đưá đang ngồi xem một phim nào đó có hai tài tử da đen đang âu yếm ôm nhau hôn . . bằng môi. Anh bạn Phi Châu xem đến xen du dương đó chợt la to lên ‘Bull Shit’ (Xạo quá !). Người viết rất ngạc nhiên quay qua hỏi anh ấy tại sao vậy mới nghe anh ấy nói ở Phi Châu người ta không có hôn nhau kiểu đó. Người viết rất tiếc hôm đó  không hỏi luôn anh ấy xem người Phi Châu họ thường hôn nhau ra sao.
Cũng thời đó mỗi năm vào đêm giao thừa tết tây New Year’s Eve rất  nhiều người bạn quen ưa đi xuống khu Kings Cross của Sydney để được hôn free, hôn tự do thả cửa. Chỉ việc thấy cô đầm trẻ nào đó, nhào tới nói Mừng Năm Mới Happy New Year xong rồi cứ nhón chân lên hôn cô ấy một cái. Hôn môi. Ôi cuộc đời.
9 Hon moi 4Trở lại chuyện hôn môi, xin đặt một vài câu hỏi sau đây và thử đưa ra một số câu trả lời để tạm giải đáp vấn đề.
Hôn môi bắt đầu được ‘truyền nhiễm’ từ hồi nào?
Có lẽ vào khoảng đầu thế kỷ 20 – nhưng mạnh mẽ nhất là khoảng thế chiến thứ hai khi phim ảnh xinê trở thành phương tiện giải trí phổ thông nhất toàn cầu – song song với thế hệ sinh sung tức babyboom (thế hệ sinh ra đời trong khoảng từ 1945-1960). Thế hệ sinh sung có lẽ là thế hệ đầu tiên tiêm nhiễm lối hôn môi, trước hết được ‘nhập khẩu’ bằng lối trình diễn hôn nhau công khai giưã đám đông của những ông tây bà đầm ‘thực dân’ – ở bên Tàu cũng như ở Vietnam, ở Nhật, ở Ấn-Đô, ở Miến Điện, ở Phi Luật Tân, v.v.. Ở Vietnam trong thập kỷ 50 người ta còn dè bĩu lối hôn môi của người Pháp là hôn kiểu ‘nút lưỡi’ và thường được xem là thiếu.. . vệ sinh.
Trước khi hôn môi được tiếp nhận gần như toàn cầu các dân tộc trên thế giới hôn nhau ra sao ?
Nhắc lại trong phim ‘Mutiny on the Bounty’ (Cuộc nổI loạn trên tàu Bounty) do Marlon Brando đóng vai thuyền phó Christian Fletcher sau khi nổi loạn lật đổ thuyền trưởng Bligh (do Trevor Howard đóng) có lạc lên một hòn đảo. Ở đó Fletcher tán tỉnh được một người đẹp. Lúc Fletcher định đè người đẹp xuống bụi cây để hôn.. . môi, bị người đẹp chống cự kịch liệt bảo rằng hôn môi không. . đúng và bày cho Fletcher lối hôn của người hải đảo bằng cách cọ mũi với nhau. (Có lẽ cảm xúc với lối hôn cọ mũi này, sau khi đóng phim Marlon Brando lấy nữ tài tử chính của phim tên Tarita, sống nhau vài ba9 Hon moi 1Bnăm, và có con với nhau).
Điểm qua phim ảnh trong suốt mấy mươi năm qua, người ta thấy có lẽ phim ‘Mutiny on the Bounty’ là phim duy nhất của Hollywood đã trình bày lối hôn chính xác của một dân tộc khác với Âu Mỹ. Rất tiếc đó chỉ là cuốn phim duy nhất cho thấy lối hôn chính xác của người hải đảo trước khi hôn môi được tràn ngập toàn cầu, ít ra cũng trong phim ảnh.
Ở Nhật ngày xưa hôn nhau là một việc kín đáo giữa hai người với nhau nên ít người ngoại quốc biết họ hôn nhau ra làm sao. Có người viết rằng người Nhật hôn theo kiểu người hôn dùng hai môi hôn vào môi dưới của người được hôn đang chụm lại bất động, và người được hôn không có hôn lại người kia. Người Eskimo, hôn nhau bằng cách trước cọ mũi, sau sà mũi qua bên má và hít hít như kiểu Vietnam xưa. Người In-Đô (Nam Dương) cũng giống người Việt khi xưa chỉ hôn trên má thôi. Người Mã Lai, PôLinêsiên, người Bali hôn bằng cách cọ mũi với nhau. Người Áo nổi tiếng về việc hôn tay nhau. Người Phần Lan ở Bắc Âu ngày trước xem chuyện hôn môi như chuyện cấm kỵ. Người Á Rập và Ấn Độ Giáo xem chuyện hôn môi là chuyện dâm dục xúc phạm thuần phong mỹ tục.
Tuy quyển cẩm nang về sex của Ấn ‘Kama Sutra’  có ghi  một vài tư thế hôn nhau bằng môi, chính phủ Ấn đã cấm phim Ấn Độ quay cảnh hôn nhau bằng môi từ năm 1929 và mãi cho đến năm 1983 cảnh hôn nhau bằng môi mới được phép cho ‘quay phim’ trở lại trong nền điện ảnh Ấn.  Đặc biệt ở hòn đảo Mangia ở Thái Bình Dương cư dân trên đảo đã không hề biết hôn nhau ra làm sao cho đến khi người da trắng đến đó vào thế kỷ 18 !
Hôn nhau tại Vietnam nhất là ở thôn quê ngày xưa chắc chắn chỉ hôn qua má, hoặc cổ, hoặc trên khuôn mặt nói chung, là cùng. Không hề có kiểu ‘nút lưỡi’ (kiểu của Pháp), hôn môi với nhau. Hôn ở má khác với hôn môi ở chỗ động tác hôn má thường bao gồm động tác hít bằng mũi. Bởi vậy ngôn ngữ Việt thường gọi chung  ‘hôn hít’ để chỉ động tác hôn nhau. Chính xác một chút ta có thể nghĩ từ ‘kiss’của Anh ngữ nếu phiên dịch sang tiếng Việt có thể được giới hạn ở chỗ ‘hôn’ (môi)  mà thôi. Muốn dịch ngược lại lối hôn của người Việt các thế hệ trước – tức ‘hôn hít’ –  chắc có lẽ ta phải dịch là ‘kiss & sniff’ (hôn hít!!), hay gọn gàng hơn sáng tác ra thành ‘kniff’ hay ‘kisniff’ (!!). Điểm nữa cần để ý là ‘phó từ’ thông thường của động từ ‘hôn’ là ‘chùn chụt’.  Chỉ có hôn trên má hay chỗ nào khác với môi mới hôn chùn chụt được. Hôn môi với nhau 9 Hon moi 1Ckhông thể nào hôn chùn chụt được !.
Sách vở trong văn học sử Vietnam cũng xác định điều này. Người ta có thể kiểm chứng bằng cách đọc qua tất cả các tiểu thuyết thời tiền chiến cho đến khoảng 1954 tại Vietnam. Từ quyển truyện viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên (‘Thầy Lazaro Phiền’ của Nguyễn Trọng Quản, con rể Petrus Trương Vĩnh Ký) sang qua mấy quyển tiểu thuyết đầu mùa như ‘Tố Tâm’ (Hoàng Ngọc Phách), ‘Châu về hiệp phố’ (Phú Đức), những tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, cho đến thời Tự Lực Văn Đoàn tuyệt nhiên không có tới một hàng chữ mô tả hai người yêu nhau ôm nhau bên bờ hồ hay trong bụi chuối và hôn nhau đắm đuối bằng môi (!!).
Trong quyển ‘Đôi Bạn’ của Nhất Linh có đoạn tả cảnh Dũng trong lần hội ngộ với Loan ở nhà một người bạn tại miền quê. Loan đang ngồi sau nhà lo việc thổi cơm. Dũng đứng đâu đó gần đấy chợt nhìn thấy Loan vén tóc lên để lộ cổ trắng nõn nà – Dũng nhìn thấy thèm hôn vào gáy cổ của Loan và băn khoăn không biết có nên tiếp tục đi làm cách mạng hay là lo ‘settle down’ an phận thủ thừa lấy Loan làm vợ. Tuyệt nhiên, ta để ý, Nhất Linh không có đá động gì đến cái cảm xúc của cuối thế kỷ 20 – sang thế kỷ 21 – là Dũng nhìn thấy đôi môi mọng của Loan và muốn ôm Loan và hôn vào môi của Loan, hay tặng cho Loan một ‘nụ hôn’ đắm đuối.
Hôn môi có lẽ chỉ bắt đầu được phổ biến ở miền Nam vào khoảng đầu thập niên 1960 trở đi. Lúc đó, còn nhớ có một phim VN nào đó có quay cảnh lần đầu tài tử La Thoại Tân ôm Kim Cương hay Thẩm Thúy Hằng hôn môi với nhau. Dư luận quần chúng có vẻ khá chấn động về chiếc hôn cải cách này trên phim ảnh. Song song vào thời đó các loại tiểu thuyết lãng mạn trữ tình kiểu đợt sóng mới thi đua nhau tràn ngập thị trường sách báo, mô tả và ‘đề cao’ cảm xúc ‘tuyệt vời’ của hôn môi. Những nhà văn thuộc loại đợt sóng mới có ‘trách nhiệm’ với việc ‘lăng xê’ hôn môi vào xã hộI Việt Nam phải kể đến : Nguyễn Thị Hoàng, Lệ Hằng, Túy Hồng, Văn Quang, Tuấn Huy, v.v. Và cũng từ dạo đó hôn môi đã nhanh chóng đi sâu vào lòng ‘dân tộc’ và đồng hóa –  9 Hon moi 1Dmột cuộc đồng hoá không mấy ai để ý đến  –  với việc ‘nhập khẩu’ thành công của ảnh hưởng Tây Phương.
Nguồn gốc của hôn môi dẫn xuất từ đâu ?
Theo giáo sư Vaugh Bryant ở đại học Texas A & M, có rất nhiều lý thuyết về nguồn gốc cuả hôn môi. Một vài người cho rằng hôn môi có thể được ‘phát minh’ cách đây hằng triệu năm, khi ngườI mẹ tiền sử nhai đồ ăn trước rồi mớm thức ăn cho con sơ sinh. Thế nhưng nhiều bà mẹ ở Papua New Guinea và ở Nam Phi Châu vẫn còn mớm thức ăn cho con bằng miệng khi người da trắng đến đó đánh chiếm thuộc địa cách đây vài thế kỷ vẫn chưa biết hôn nhau bằng môi là gì.
Theo nhiều học giả của ngành Nhân Chủng Học nếu tiền nhân đã hôn môi với nhau họ có thể rất kín đáo về việc này. Một trong những quyển sách có ghi chú về cách thức hôn nhau bằng cọ mũi đã xuất hiện tại Ấn Độ cách đây khoảng 3500 năm! Sau đó quyển Kama Sutra cũng của Ấn Độ, một quyển được xem như Kim chỉ Nam cổ điển nhất của nhân loại về SEX xuất hiện vào thế kỷ thứ 6, đã mô tả một vài lối hôn môi thô sơ vào thời đó. Hôn môi của người Âu Tây theo Vaugh Bryant được tuyên nhiễm từ Ấn Độ qua Hy Lạp bằng chuyến viễn chinh về phía Đông của Alexander the Great 9 Hon moi 2B(A-Lịch-Sơn đại đế).
Chuyện vụn vặt về hôn ra sao ?
Vô số kể. Kiss lâu nhất trong lịch sử kéo dài đến 17 ngày 10 giờ rưởi tại Chicago vào năm 1984. Ngược lại quyển Guinness Book of Records ấn bản năm 2000 lại ghi cái hôn đoạt giải lâu nhất chỉ có 29 giờ trong thế đứng diễn ra tại Michigan vào năm 1998.Hôn nhiều ‘cú’ nhất là 11030 cái trong vòng 8 giờ đồng hồ do một anh chàng nọ biểu diễn tại Minnesota vào năm 1990.
Một cuộc nghiên cứu tại Baltimore City College cho biết trong một cái hôn có đến 278 các loại tổ hợp vi trùng được truyền qua hai đôi môi. Rất may là 95% của các tổ hợp vi trùng này mang tính chất hoàn toàn vô hại. Ngoài ra mặc dù vi khuẩn bệnh SIDA (Aids) có thể được tìm thấy trong nước miếng (nước bọt) nhưng chưa có ‘ca’ nào được ghi nhận rằng bệnh Sida có thể bị truyền lây qua cái hôn cả.
Theo y khoa, lưỡi và môi chứa rất nhiều điểm cuối của các dây thần kinh nhỏ. Hôn nhau bằng môi và ‘nút lưỡi’ do đó sẽ làm tiết ra nhiều chất ‘hótmôn’ (hormones) và ‘enđôphin’ (endorphins), làm nâng cao sảng khoái. Hèn gì . . .
9 Hon moi 2AThay lời kết :
Viết đến đây thấy tạm đủ nên người viết tắt máy computer và ngồi xem Tivi truyền hình Olympics Thế Vận HộI Sydney 2000. Lạ quá khi xem mấy giải có người Trung quốc tham dự như gymnastics, vũ cầu badminton, hay bóng bàn ping pong, người ta thấy  các nhà lực sĩ Trung quốc sau khi thắng đối phương, rời sân đấu đều làm những cái high fives với các bạn đồng đội hay với ông bầu dìu dắt. Nhắc lại high five xuất xứ từ những người Mỹ đen và bao gồm việc xoè bàn tay năm ngón đập vào bàn tay của bạn đồng đội sau khi làm bàn một điểm trong một trận đãu thể thao. Để tự tán thưởng với nhau.
Ngày nay bất kỳ người ta đối đáp được một câu nào có lý và hay ho, hay làm bàn được một cái gì đó người ta thường high-five với bạn cùng phe với nhau. High-five chỉ được Hollywood cho lăng-xê vào phim ảnh cỡ từ năm 1980 trở lại đây. Và ngày nay hầu hết các phim nhất là những phim truyền hình về các trận đấu thể thao, như bóng đá, bóng rổ basketball thường có high-fives.
Thế có nghĩa ngoài chiếc hôn môi, văn minh của Mỹ còn tràn ngập hoàn cầu qua cái high-five – trong vòng trên dưới 20 năm. Ngay cả các anh Trung Quốc, nước có hơn 2000 năm văn hiến ngày trước thường chắp tay xá xá hay bái tổ trước và sau khi lên võ đài mà hôm nay cũng đành bắt chước làm cái high five cho nó giống Mỹ, cho được vẻ văn minh tiến bộ. Và có lẽ chủ tịch Giang Trạch Dân của Trung Quốc chắc đã từng nghĩ đến sự tiêm nhiễm của hôn môi và high five khi ông tuyên bố gần đây rằng Trung Quốc có thể đạt được thể thức dân chủ Tây Phương vào năm 2020 trở đi(theoNguyên Nguyen) 
Yên Huỳnh chuyển tiếp
Vĩnh Bảo sưu tầm 11/7/2015

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2015

GIẢI MÃ ĐƯỜNG TỬ TỨC TRÊN BÀN TAY

GIẢI MÃ ĐƯỜNG TỬ TỨC

TRÊN BÀN TAY

Bàn tay có thể nói lên số phận và tính cách của mỗi con người. Thông qua gò Thủy tinh dưới ngón út, bạn có thể tự xem con cái tương lai của mình.
Khu vực, phương hướng quan sát và cách nói về đường con cái trên bàn tay từ xưa đến nay luôn có nhiều ý kiến khác nhau. Theo kinh nghiệm truyền thống của thuật tướng số phương Đông thì đường con cái thường nằm trên mé bên gò của ngón út (gò thủy tinh).
Nắm bàn tay lại, khi đó có thể nhìn thấy đường vân ngang dài ngắn, thô mịn, nông sâu khác nhau ở phía ngoài gò Thủy Tinh.
4 Xem con– Tất cả những đường vân ngang dài, thô, sâu đều là dấu hiệu của việc sinh con trai.
– Tất cả những đường vân ngang ngắn, nhỏ, nông đều là dấu hiệu của việc sinh con gái.
– Muốn biết thụ được bao nhiêu thai nhi, có thể xem đường con cái ở 2 tay. Nếu có 3 đường vân thì thụ được 3 thai nhi, có 5 đường vân thì thụ được 5 thai nhi. Trường hợp, số đường con cái ở 2 tay không bằng nhau thì thường lấy theo số ít. Ví dụ tay trái có 5 đường con cái, có thể thụ được 5 thai, nhưng tay phải chỉ có 2 đường vân con cái thì số thai đậu được chỉ là 2, tức người đó chỉ sinh được 2 con, 3 thai nhi còn lại có thể sẩy thai hoặc thai lưu.
– Đường con cái quá ngắn và nông cho thấy người này có thể bị sẩy thai hoặc đẻ non.
– Ở đoạn đầu, giữa hoặc cuối của đường con cái xuất hiện các dấu hiệu hình chữ Y hoặc Ơ, dấu hiệu hình tròn có 2 đường gạch dọc ở phía trên và phía dưới hình tròn, dấu hiệu gạch ngang phía trước dấu mũi tên nhỏ hơn… cho thấy sức khỏe của con cái có vấn đề.
Yên Huỳnh chuyển tiếp

No 45 CON GIÁP ĐƯỢC

THẦN TÀI HỘ MỆNH

SUỐT ĐỜI

Top 5 con giáp được Thần Tài hộ mệnh suốt đời. Tuổi Thân, Hợi là hai con giáp đứng đầu trong danh sách những người được thần Tài hộ mệnh dài lâu.
1/- TUI THÂN : Với người tuổi Thân, càng trải qua môi trường có tính cạnh tranh khốc liệt, họ càng có khả năng đột phá bản thân và phát tài bất ngờ. Hơn thế, khát khao về cuộc sống giàu sang luôn thường trực trong suy nghĩ của con giáp này. Cộng thêm với nỗ lực kiên trì tới cùng, khi đã phát hiện thấy cơ hội trời cho, người tuổi Thân nhanh chóng nắm bắt và tận dụng triệt để. KhiSo với những con giáp khác, việc kiếm tiền của họ trở nên dễ dàng hơn bởi được thần tài phù trợ.
Tuy nhiên, “kẻ phá hoại” tiền đồ của người tuổi Thân chính là tính cách phóng khoáng, không ngần ngại tiêu tiền như nước. Nếu muốn nhanh chóng sở hữu số tài sản khổng lồ, tốt nhất người tuổi Thân nên lập gia đình hoặc chí ít là thoát khỏi kiếp FA càng nhanh càng tốt. Khi có nửa kia hỗ trợ trong việc quản lý tài chính, tiền bạc của họ mới thực sự được an toàn và sinh lời theo cấp số nhân.
2/- TUI HI ; Tư duy về tiền bạc, tài chính của người tuổi Hợi rõ ràng và linh hoạt. Hơn thế, họ sở hữu một cái đầu lạnh để có thể ứng phó với mọi tình huống cấp bách nhất có thể xảy ra. Dù trong tình cảnh khó khăn đến mấy, con giáp này Heovẫn giữ được bình tĩnh và xử lý khéo léo mọi vấn đề.
Điều đó giải thích cho thắc mắc của không ít người, đó là tại sao thần tài luôn ủng hộ và mang lại nhiều may mắn cho họ tới vậy. Người tuổi Hợi không khó khăn trong việc chiếm được tình cảm, sự ủng hộ của mọi người xung quanh. Đó cũng là một trong những yếu tố trợ lực cho sự nghiệp tài chính phất như diều gặp gió của con giáp này.
3/- TUI DẦN : Thực ra, con giáp này không quá chú trọng đến vấn đề tiền bạc vật chất. Sẽ không có chuyện họ bất chấp thủ đoạn để liều mình kiếm tiền hoặc phải đắn đo chuyện chi tiêu thường nhật. Khi đã có “hứng” tiêu tiền, bất chấp ngày mai ra sao, Danchỉ cần người tuổi Dần cảm thấy vui vẻ, thoải mái lúc đó là được.
Tuy nhiên, thần tài cũng luôn bên cạnh để trợ giúp mang lại may mắn cho con người bộc trực và thẳng thắn này. Họ tập trung làm việc cao độ, dựa vào chính thực lực của mình để kiếm khoản “bù đắp” cho số tiền đã tiêu. Với tinh thần lạc quan và sự nỗ lực như vậy, người tuổi Dần nhanh chóng kiếm lại số tiền đã tiêu và tiếp tục hưởng thụ cuộc sống vô lo vô nghĩ của mình.
9 De 14/- TUI MÙI : Ngay từ khi sinh ra, cuộc sống của người tuổi Mùi khá bình yên, nhàn hạ, vô lo vô nghĩ. Họ gặp khá nhiều may mắn do có được sự trợ giúp của mọi người xung quanh. Thậm chí, đôi khi họ trải qua giai đoạn túng thiếu nhất thì chí ít cũng được gia đình hỗ trợ hoặc những người bạn giàu có giúp đỡ. Có thể nói, thần tài chính là vị thần hộ mệnh mang lại nhiều vụ “bội thu” tiền bạc cho người tuổi Mùi.
5/- TUI THÌN : Con giáp này có ý chí phấn đấu mạnh mẽ và sự kiên trì cao độ. Họ sẵn sàng đối đầu trực diện với mọi thách thức. Dường như, càng trong hoàn cảnh khó khăn, người tuổi Thìn lại càng dễ “lội ngược dòng”, có được thành công rực rỡ. Sự nghiệp xuất chúng đến vậy thì tiền B5 Thinbạc cũng theo đó ngày càng rộng mở.
Tuy nhiên, yếu điểm có thể làm “kỳ đàn cản mũi” người tuổi Thìn chính là tính cách nôn nóng, bộc trực của họ. Bởi cá tính mạnh mẽ ấy sẽ che mất sự sáng suốt, lý tính và quyết đoán bẩm sinh ở con giáp này. Từ đó, ngăn cản bước đường chinh phục vinh hoa phú quý.

ĐUA NHAU PHẪU THUẬT

CHỈ TAY… ĐỔI VẬN MỆNH

Nhiều người Nhật Bản đang tìm đến cách phẫu thuật thẩm mỹ đường chỉ tay để thay đổi vận mệnh của mình. Xu hướng mới này bắt nguồn từ thuật xem chỉ tay vốn rất quen thuộc với các nước phương Đông. Theo thuật này, 8 Chi tay 1bạn có thể đoán trước tương lai của một người chỉ bằng cách xem đường chỉ tay lòng bàn tay của họ.
Các bác sỹ phẫu thuật cho biết ngày càng có nhiều người tìm đến các trung tâm phẫu thuật thẩm mỹ để được phẫu thuật mở rộng hoặc bổ sung đường chỉ tay liên quan đến sự nghiệp, may mắn hay hôn nhân.
Theo tờ Daily Beast, mỗi ca phẫu thuật như vậy có chi phí khoảng 1.000 USD, bác sỹ sẽ dùng dao mổ điện để tạo đường chỉ tay theo ý muốn khách hàng. Ông Takaaki Matsuoka, một bác sỹ phẫu thuật tại chi nhánh Shinjuku của Trung tâm Thẩm mỹ Shonan ở Tokyo cho biết : “Nếu bạn phẫu thuật tạo chỉ tay bằng tia laser, da sẽ lành và không để lại dấu vết rõ ràng. Bạn phải dùng đến dao điện và thực hiện các vết rạch chằng chịt có chủ đích vởi đường chỉ tay không bao giờ thẳng hoàn toàn”.
8 Chi tay 2Chỉ trong vòng 2 năm qua, Trung tâm Thẩm mỹ Shonan đã thực hiện khoảng 40 ca phẫu thuật như vậy. Một ca phẫu thuật mất khoảng 10-15 phút, bác sỹ thường tạo từ 5-10 đường trong lòng bàn tay. Mất khoảng 1 tháng để tay hồi phục. Ông Matsuoka nói, đàn ông thường muốn thay đổi đường chỉ tay liên quan đến thành công trong công việc, tiền bạc, tài chính. Phụ nữ thường muốn thay đổi đường hôn nhân. (theo Phan Yến – Tiền Phong)
Xuân Mai chuyệển tiếp

4 Ngon tay 1ĐỘ DÀI NGÓN TAY

TIẾT LỘ GÌ VỀ BẠN

Có thể bạn vẫn chưa biết rằng độ dài ngón tay có thể hé lộ một số tính cách. Hãy so sánh độ dài của ngón tay bạn theo 3 loại dưới để đoán tính cách của mình nhé !
A/. Người có ngón đeo nhẫn dài hơn ngón trỏ là những người có ngoại hình ưa nhìn. Họ hấp dẫn và quyến rũ, dễ dàng thu hút sự chú ý của những người xung quanh. Bên cạnh đó, tính cách của những người này thường rất mạnh mẽ và họ không đương đầu với thử thách.
Nghề nghiệp của những người có ngón đeo nhẫn dài thường là: lính, kĩ sư… những nghề nghiệp đòi hỏi sự tính toán. Ngoài ra những người trong nhóm này có khả năng chơi cờ, giải ô chữ khá “siêu”. Ngoài ra, các nhà khoa học cũng phát hiện ra rằng những người có ngón đeo nhẫn dài thường kiếm được nhiều tiền hơn những người ở các nhóm còn lại.
B/. Những người ở nhóm B thường rất tự tin vào bản thân mình, thậm chí là kiêu ngạo. Họ thường thích việc ở một mình và ghét bị người khác quấy rầy và không tìm kiếm sự chú ý như những người ở nhóm A. 4 Ngon tay 2Những người có ngón tay đeo nhẫn ngắn hơn ngón trỏ thường không chủ động trong tình cảm, họ thường đợi đối phương thổ lộ rồi mới thể hiện cảm xúc của mình.
Ở phụ nữ, đây là những người làm việc nội trợ, nhân viên tài chính hoặc chăm sóc sức khoẻ. Đàn ông thì dễ đồng tính nhưng khả năng ngôn từ của họ đặc biệt rất tốt.
C/. Người có ngón trỏ dài ngang ngón đeo nhẫn có tính cách đơn giản, ghét sự phức tạp và yêu thích hoà bình. Họ thường dễ lấy lòng người khác và chính vì điều này khiến họ trở thành những người thiệt thòi trong chuyện tình cảm. Và mang tính cách đan xen giữa A và B.
Phan Tất Đại chuyển tiếp
            vĩnh  bảo sưu tầm 2015