Thứ Năm, 26 tháng 7, 2012

LƯƠN ĐỒNG



Lươn đồng lươn ruộng - Swamp eel
Tiến sĩ Dược khoa Trần Việt Hưng
Thân lươn chẳng quản lấm bùn..
(Quan họ Bắc Ninh)
Như đã trình bầy trong bài Cá chình, tên Anh ngữ eel bao gồm nhiều loài cá thuộc những họ khác biệt nhau. Bài này xin giới hạn trong loài lươn đồng hay lươn ruộng, là một loài cá hoàn toàn sống nơi nước ngọt.
Lươn đồng được xem như một thực phẩm rất phổ biến tại Việt Nam, nhất là tại vùng đồng bằng sông Cửu long. Văn học dân gian cũng có những thành ngữ, ca dao về lươn như : 'Những người ti hí mắt lươn, trai thời trộm cắp, gái buôn chồng người'. 'Lươn chê trạch..dài'. Dân ca Quan họ Bắc Ninh có bài : 'Thân lươn chẳng quản lấm bùn.. Tính toán nữa làm chi, tính toán làm gì..'
Lươn đồng hay lươn ruộng là một loài cá nước ngọt, hình dạng tương tự như cá chình, thuộc họ cá Synbranchidae. Họ này gồm có 4 chi và chia thành khoảng 18 loài. Tuy có nguồn gốc tại vùng nhiệt đới nhưng nay do những sự chuyển vận liên lục địa, lươn đồng đã có mặt tại nhiều nơi, kể cả Hoa Kỳ và cũng do nhu cầu tiêu thụ nên lươn đồng đã và đang trở thành một loài cá nước ngọt được nuôi tại các trại thủy sản, phổ biến nhất là tại Trung Hoa.
Trong 4 chi của họ Synbranchidae, chi Monopterus (trong đó có lươn đồng VN = Monopterus albus) là được nghiên cứu kỹ nhất và phổ biến nhất trong việc dùng làm thực phẩm..Ngoài ra, tại Nam và Trung Mỹ trong chi Synbranchus có loài lươn bông hay lươn cẩm thạch (Marbled Swamp eel) Synbranchus marmoratus tuy có thể dài đến 1.5m nhưng không được dùng làm thực phẩm..
Tên khoa học và các tên khác :
Monopterus albus thuộc họ Synbranchidae. Tên Anh-Mỹ : Swamp eel, Asian swamp eel. Thái Lan : Pla lai. Mã lai : Belut, Kampuchea : Antong.

Đặc tính sinh học :
Thân tròn da trơn, không vẩy, rất dài, dẹp một bên về phía cuối thân và đuôi trở thành nhọn, đường kính từ 2-3 cm, dài trung bình 30-60 cm, có thể đến 1m Đầu tròn, tương đối lớn, nhô cao hơn thân. Mõm ngắn và tù, rạch miệng hơi cong. Lỗ mũi mỗi bên gồm 2 lỗ nằm cách xa nhau. Mắt nhỏ được phủ bằng một lơp da mỏng. Khe mang nhỏ nằm về phía mặt bụng hình chữ V. Vây ngực và vây bụng thoái hóa; vây lưng và vây hậu môn hầu như mất hẳn, chỉ còn lại một dạng nắp da mỏng nối liền với vây đuôi. Lươn không có vẩy, không có bong bóng và các xương sườn.
Thân lươn màu từ vàng nhạt đến nâu sẫm, lưng đậm hơn, bụng trắng hay nâu nhạt, có khi cam nhạt.. Lươn có thể thở bằng ruột và bằng miệng nên có thể sống khá lâu trên cạn.
Lươn đồng là một sinh vật đặc biệt với hiện tượng đảo ngược phái tính. Lươn mới sinh, tất cả đều giống cái (trong thân có buồng trứng). Khi phát dục, lúc bắt đầu đẻ : trong buồng trứng có sự biến đổi dần dần, các mô tế bào trước đây phân cắt ra trứng nay biến thành tinh hoàn để sản xuất tinh trùng. Lươn cái biến đổi thành lươn đực để phóng tinh trùng tạo sự thụ thai. Sau một lần sinh sản, buồng trứng của lươn cái chuyển hóa thành tinh hoàn. Thời gian để buồng trứng chuyển đổi thành tinh hoàn co thể kéo dài cả năm. Việc chuyển đổi giống cũng có thể xẩy ra tùy theo mật độ của lươn cái : lươn đực sẽ tự biến thành cái khi số lượng lươn cái xuống thấp..Tại Việt Nam, lươn nhỏ dài dưới 20 cm thường là lươn cái, lươn dài 35-45 cm lưỡng tính và lươn dài hơn 55cm đều là lươn đực. Lươn sinh sản rất nhanh và rất mạnh. Mùa sinh sản thường trong khoảng các tháng 5-6. Lươn đực có nhiệm vụ đào hang tại bờ ruộng, bờ mương để lươn cái đến đẻ trứng. Hang lươn thường có hình chữ 'U', cao hơn mặt nước khoảng 5-10 cm và chia thành 3 ngách : một ngách phụ giúp thông khí, ngách chính của ổ nằm sâu dưói bùn và một ngách từ trên bờ vòng xuống. Trước khi lươn cái đẻ trứng, lươn đực phun bọt đầy ổ và lươn cái đẻ trứng trên đám bọt. Lúc đầu đám bọt có màu trắng, khi trứng sắp nở, bọt đổi sang vàng nhạt. Mỗi lần lươn đẻ từ 100 đến 600 trứng, trứng có đường kính khoảng 3.5 đến 4 mm và sẽ nở sau 7 ngày khi ở nhiệt độ 30 độ C. Lươn lớn khá nhanh, sau khi nở chừng 10 ngày có thể dài 2cm, bắt đầu tự kiếm ăn. Sau 1 năm lươn tăng trưởng đến 25cm, nặng 40-60 g. Năm thứ 2, lươn dài 40-50 cm và nặng đến 100 g. Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, lươn có thể nặng đến 1.5 kg.
Lươn kiếm ăn vào ban đêm, tìm mồi do khứu giác. Thực phẩm của lươn đồng trong thiên nhiên là trùn đất, cua còng, cá nhỏ, côn trùng, rễ cây, mùn..Khi thiếu thực phẩm chúng có thể ăn thịt lẫn nhau. Chúng có khả năng đào hang, sống vùi dưới bùn ở độ sâu đến 1.5m và di chuyển một khoảng ngắn bằng cách trườn mình trên cạn.
Lươn đồng có nguồn gốc tại Á châu, phân bố từ vùng Bắc Ân độ, qua Miến điện và Trung Hoa xuống đến Đông Nam Á. Lươn được đưa đến Hoa Kỳ có lẽ do nuôi tại các hồ cá cảnh rồi vượt thoát, hay do nuôi làm thực phẩm rồi thoát khỏi hồ do lụt : Lươn đồng hiện có mặt tại Florida, Georgia, New Jersey và Hawaii (trên đảo Oahu) Lươn tại Florida và Georgia phát xuất từ lươn Trung Hoa. Các nghiên cứu trong phòng thi nghiệm cho thấy lươn đồng ngưng ăn ở nhiệt độ 14-6 độ C và sẽ chết khi nhiệt độ xuống 8-9 độ C (tuy nhiên giống lươn Georgia vẫn chịu được nhiệt độ lạnh khi nước hồ..đóng băng)
Tại Việt Nam, lươn rất phổ biến ở ao, hồ, ruộng, mương rạch ở mọi vùng từ núi xuống đồng bằng. Tại Nam Việt Nam, trước 1975: vùng Châu đốc đánh bắt mỗi năm trên 2000 tấn, Bạc liêu, trên 1000 tấn.

Nuôi lươn và Câu lươn :
Để cung cấp cho thị trường tiêu thụ, nhiều Quốc gia đã phát triển việc nuôi lươn đồng, từ những trại nuôi quy mô như ở Trung Hoa, Thái lan đến các ao, bể nhỏ theo tính cách gia đình thường gặp tại Việt Nam.
Lươn đồng là loài cá sống chui rúc dươi bùn nên nguyên tắc nuôi là 'Giữ lươn không bò trôn mất, tạo môi trường sống gần tương tự như nơi chúng sống trong thiên nhiên..'
Lươn giống thường từ được vớt từ thiên nhiên, từ trứng hay lươn con vớt bằng vợt : Tại Nam Việt Nam, vào đầu mùa mưa khi nước sông đổ về, lươn con thường nằm ở các đám cỏ, bèo tây trôi theo dòng sông ở các hồ, kênh..dùng vợt, rổ, xúc về nuôi..
Các trại nuôi lươn đồng tại Trung Hoa đã dùng các phương pháp thụ tinh nhân tạo đễ sản xuất lươn giống, dùng các kích thích tố như LRH-A, HCG, Trích tinh não thùy cá chép.. để kích thích cho lươn đẻ trứng..
Các nhà nghiên cứu tại ĐH Hải Nam, Trung Hoa đã tìm hiểu về vai trò và thành phần của bọt mà lươn phun ra khi đẻ trứng : Bọt có độ nhớt 2.72 mPaS và thành phần gồm các glycoprotein trong đó đường chiếm 0.56 mg/ml và chất đạm 0.250 mg/ml. Chất đạm trong bọt gồm 4 loại proteins và chứa 16 loại amino acid. Bọt có nhiệm vụ giúp gia tăng tỷ lệ nở của trứng đã thụ tinh bằng cách giúp điều chỉnh nhiệt độ của nước, giúp phân cắt màng bao của trứng khi thụ tinh..(Fish Physiology and Biochemistry Số 36/2010)

Đánh bắt lươn trong thiên nhiên :
Lươn đồng, trong thiên nhiên, có thể đánh bắt bằng hai cách: câu và đặt trúm. Nông dân tại Miền Nam thường bắt lươn bằng cách đặt trúm. Trúm thường là một ống tre dài cỡ 1m, đục thủng các lóng cho thông nhau, chỉ chừa lại lóng cuối. Phía đầu ống gắn với cái hom. dọc dài theo ống có rãnh nhỏ thông hơi cho lươn thở. Mồi nhử thường là cơm dừa khô trộn với cua, cá tép vụn, bốc mùi sình thối. Lươn ở hang, đêm ra kiếm mồi; khi bắt mùi từ ống trúm, lươn sẽ tìm miệng hom để chui vào.
Trong bài 'Nhởn nhơ õng ẹo cái giống Lươn' trên Diễn đàn của web 4so9, tác giả Trần Lê Quốc Thái đã mô tả khá kỹ về cách câu lươn. Ông trình bầy cách câu theo từng mùa, như mùa xuân thì nên câu nhử, cuối mùa xuân khi lươn bắt đầu vào mùa sinh sản thì tìm hang để câu rút và câu vào ban đêm dưới dạng câu cắm rồi sang cuối thu khi lươn di chuyển từng bầy thì nên đặt trúm. Cũng theo ông thì lưỡi câu nên làm bằng căm xe đạp, uốn cong, dây câu làm bằng dây dù dài chừng 35cm và cần câu nên chọn loại tre tươi có độ dẻo. Mòi câu bằng trùn đất. Lúc lươn đã cắn mồi cần kéo dây từ từ và liên tục đến khi kéo lươn ra khỏi hang.

Thành phần dinh dưỡng :
Theo kết quả phân chất của viện Dinh dưỡng Việt nam :
'Lươn chứa 20 % protid, 1.5 % lipid, 35 mg % Ca, 146 mg % P, 26 mg % Mg, 1 mg % Fe; Vitamin B1 (0.15 mg %), vitamin B2 (0.3 mg %), vitamin PP (3.8 mg %), vitamin B6 (0.23 mg %), vitamin D (30 mcg %)'
(Cây thuốc và đông vật làm thuốc tại Việt Nam,Tập 2 trang 1168).
Kết quả phân chất của Viện ĐH Bắc Kinh (2002) ghi nhận :
100 gram thịt lươn đồng tại Trung Hoa chứa :
Phần thịt ăn được : 67 gram
Chất đạm : 18 gram (tỷ lệ cao hơn lòng đỏ trứng gà : 15.2 %)
Chất béo : 1.4 g
Tro : 1.4 g
Vitamin A : 50 microgram RE/ 100 g
Calcium : 42 mg
Phosphorus : 206 mg
Sắt : 2.5 mg
Kẽm : 1.97 mg
Cũng theo số liệu của ĐH Bắc Kinh thì số lượng của một số acid amin trong thịt lươn như sau (mg/100 gram lươn) :
Glutamine: 2676; Aspartic acid: 1638; Lysine: 1471; Leucine: 1322; Arginine: 1300; Alanine :1121.. Histidine: 409..
Một nghiên cứu phân chất của Viện ĐH Putra, Mã lai (2000) chú trọng riêng đến thành phần của các acid béo nhất là acid béo loại omega trong thịt lươn đồng ghi nhận :
Hàm lượng lipid trong Monopterus alba ở trong khoảng 0.5 đến 1.06 g/100 gram mô thịt phi lê và khoảng 0.4-0.78 g/ 100 g thịt phần đầu lươn. Phần lớn các acid béo nơi thân và đầu lươn là palmitic, oleic, arachidonic và docosahexaenoic acid (DHA).
Trong phần thân : lượng arachidonic acid là 8.25g/100g và DHA là 6.21g; trong khi đó phần đầu có 10.17 arachidonic và 7.16 DHA.
Ngoài ra các số liệu về các acid béo khác (g/100g) :
- Palmitic (14.18), Stearic (5.84), Oleic (10.61), Linoleic (3.46), Linolenic (0.95)..
- EPA : 0.33
Malaysian Journal of Analytical Sciences Vol 7, No1(2001)


* Lươn trong Đông-Nam dược :
Dược học cổ truyền Trung hoa và Việt Nam dùng thịt và một số bộ phận của lươn làm thuốc
Lươn được gọi là Thiện ngư, và lươn vàng là Hoàng thiện
- Thịt lươn hay Thiện ngư nhục được xem là có vị ngọt, tính ấm, có những tác dụng bổ hư tổn, trừ phong thấp, bổ gân cốt được dùng để trị các trường hợp lao thương, phong hàn thấp tê, sản hậu lâm lịch, xuất huyết..
Trong Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh ghi : Hoàng thiện=Con lươn, vị ngọt, tính rất ấm không độc, bổ trung ích khí, chữa băng huyết, lậu huyết, khử thấp trừ phong ấm bụng.
Trong Lĩnh nam bản thảo, Hải thượng Lãn ông :
' Hoàng thiện tên thường gọi con lươn
Ấm nhiều, không độc, vị tươi ngọt
Bổ trung, ích khí, chỉ lậu băng
Đuổi thấp, trừ phong, bụng lạnh, tốt
Trong dân gian, thịt lươn được xem là bổ, thich hợp với thể trạng nhiệt, rất tốt cho trẻ em gầy yếu, xanh xao, phụ nữ suy nhược sau khi sanh nở..Lươn thường được tuốt cho hết nhớt bằng rơm và tro bếp, sau đó rửa sạch, mổ bỏ lòng và ruột, để nguyên con, luộc và gỡ lấy thịt sau đó nấu cháo ăn hay xấy khô và tán thành bột.. Quan niệm dân gian cho rằng khi nấu lươn nên dùng nồi bằng đất vì thịt lương..kị kim khí (?), tuy nhiên nồi đất giúp giữ nóng lâu và giảm được mùi tanh của lươn. Khi mổ lươn nên dùng cật tre vót mỏng để thay dao, tránh được sự tương kị giữa máu lươn và kim loại..
Máu lươn hay Thiện ngư huyết : dùng nhỏ tai, thoa các vết lở ngoài da. Máu lươn được xem là có khả năng tăng cường 'Dương khí', giúp máu vận chuyển, trị được chứng khô miệng, giúp tăng cường khả năng tình dục. Riêng máu nơi đuôi lươn (Thiện ngư vĩ huyết) lại được cho là có thể trị chứng trúng 'phong' gây 'méo miệng' (?) bằng cách trộn máu với xạ hương, và môi vào.. bên miệng đối diện (?)
Xương lươn hay Thiện ngư cốt : Sấy khô đến giòn, tán nhỏ thành bột, dùng làm thuốc bổ xương và gân cốt.
Da lươn hay Thiện ngư bì : đốt thành than, rắc để trị các ung nhọt, ghẻ lở ngoài da.
Các sách thuốc cổ Trung Hoa đều cho rằng thịt lươn bồi bổ khí huyết :
Theo Dược thảo yếu lược (thế kỷ 15) thì : 'Lươn rất hữu ích để trị các chứng mệt mỏi. Lươn bồi bổ nguyên khí nơi tủy sống, khiến xương cốt vững chắc..'
Một sách khác, viết năm 1769 ghi : 'Lươn có thể trị được suy dinh dưỡng, kiết lỵ, đau nhức xương sống, phong thấp, 5 loại trĩ với chảy máu nơi hậu môn, bệnh huyết trắng nơi phụ nữ. Phụ nử có thai không nên dùng lươn..' Sách còn ghi thêm : Lươn không có chân, nhưng di chuyển nhanh và hoạt động rất mạnh, do đó khi ăn lươn, khí huyết cũng vận chuyễn rất nhanh trong cơ thể..'
Y học cổ truyền Trung Hoa và Việt nam có một số bài thuốc dùng lươn để trị bệnh như :
Súp lươn sâm-quy : Lươn (500g) được nấu với Đảng sâm (15g) và Đương quy (15g) chung với gia vị.. để giúp bổ khí-huyết, chữa thân thể suy nhược, thiếu máu, mệt mỏi..
Canh lươn đậu đen, Hà thủ ô : Lươn (90g), Đậu đen (90g) và Hà thủ ô (9g)..thêm gia vị, nấu nhỏ lửa trong 3 giờ..dùng ích can, thận chống lão suy, bạc tóc..
Canh lươn, Sa sâm, Bách hợp : để trị tiểu đường.
Khoa dinh dưỡng 'mới' của Trung Hoa phân biệt Lươn biển (Cá chình) với Lươn đồng. Lươn đồng hay lươn không vi được xem là vị ngọt, tính ấm, tạc dụng vào các kinh-mạch thuộc Tỳ và Thận, có khả năng tăng cường Khí-Huyết, bổ gân, bổ xương và trừ được phong-thấp.

Lươn đồng trong ẩm thực :
Lươn đồng, tại Việt Nam, được chế biến thành rất nhiều món ăn, từ cầu kỳ cao cấp đến những món rất đơn giản như nấu cháo và những món nhậu đặc sắc. Tại Hà nội có Quán lươn 77, quảng cáo là có đến 12 món lươn..Những món lươn nổi tiếng như lươn xào sả ớt, lươn cuốn lá lốt.. lẩu lươn, lươn nấu canh chua, lươn om rau ngổ, v..v.. được bán tại khắp các nhà hàng trên toàn quốc. Đơn giản nhất với dân nhậu Nam bộ là lươn xé phay, lươn nướng và lươn sào lăn. Riêng món Cháo lươn thì rất nhiều địa phương như Vinh, Nghệ an... thường tự cho là ngon nhất, nhưng có lẽ món Cháo lươn xanh của Thăng Bình (Quảng Nam) là đặc sắc nhất do nấu với gạo xi một giống lúa địa phương cho gạo nấu rất dẻo có vị bùi riêng. Cháo lươn được ăn với rau cải xanh thật tươi sắt mỏng nên gọi là cháo lươn xanh. Vùng Đồng Tháp mười còn có một món rất đặc biệt là món Lươn nấu trứng kiến, thịt lươn được nấu canh chua với tổ kiến và trứng kiến chưa kịp nở còn trong tổ..
Tại Trung Hoa, lươn đồng là món ăn rất được ưa chuộng trong vùng Giang Nam, thịt lươn thường được ăn dưới dạng chiên sào đảo nóng chung với tỏi, hành, măng. Món thịt lươn sào này được gọi là Chao shan hu khá phổ biến từ Thượng Hải qua đến Nam Kinh. Theo quan niệm của người Hoa : lươn đồng được chế biến tùy mùa : mùa Xuân, thịt lươn mềm và ngọt, càng ngon hơn vào cuối xuân; qua đầu Hạ, thịt lươn cứng chắc hơn và đến Đông thịt sẽ béo hơn.

Vấn đề an toàn khi ăn lươn :
Lươn sống chui rúc dưới bùn, sình lầy và ăn tạp nên bộ tiêu hóa của lươn và ngay cả thịt lươn cũng có thể bị nhiễm vi trùng và ký sinh trùng. Ký sinh trùng nhiễm trong lươn là loài Giun đầu gai Gnathostoma spingerum. Ký sinh trùng này gây ra một số bệnh nguy hiểm.
Các nghiên cứu khoa học tại Việt Nam và Thái Lan đã đưa ra những kết quả cần lưu ý :
Nghiên cứu tại ĐH Y-dược TP HCM ghi nhận, sau 2 năm theo dõi và thử nghiệm trên1020 mẫu lươn nuôi và 1021 mẫu lươn đánh bắt trong thiên nhiên tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng nơi lươn vào khoảng 0.8-9.6 % và độ nhiễm tăng cao vào cuối mùa mưa (Journal of Parasitology Số 95-2009).
Nghiên cứu tại ĐH Chulalongcorn, Bangkok (Thái Lan), xét nghiệm dùng gan của 1788 lươn đồng đánh bắt trong thiên nhiên, bán tại các chợ ở Bangkok cho thấy tỷ lệ nhiễm ấu trùng Gnasthostoma lên đến 26% (466 mẫu trên 1788). Thời gian nhiễm ký sinh trùng lên cao nhất vào các tháng mùa mưa (6 và 7 : 74%) , trong các tháng 4 và 8, tỷ lệ thấp hơn (8%) (Annals of Clinical & Laboratory Science Số 33-2003)
Bệnh nhiễm ký sinh trùng giun đầu gai (Gnathostomiasis) thường gặp tại các quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam, Thái lan, Lào, Kampuchea, và cũng có những trường hợp được ghi nhận tại Nhật, Trung Hoa, Mã lai, Philippines, Do thái.. Bệnh nhân bị nhiễm do ăn cá sống hay nấu chưa chín trong thịt có chứa ấu trùng ở giai đoạn 3 (L3) của Gnathostoma. Lươn đồng là một loài cá nước ngọt trong thịt bị nhiễm L3 với tỷ lệ cao nhất.
Sau khi ăn lươn sống có chứa ấu trùng chưa trưởng thành L3 (khi ở trong lươn chỉ dài khoảng 1 mm), ấu trùng vào cơ thể người, phát triển đến 5-7 mm và di chuyển lung tung, có thể xâm nhập và sống ký sinh dưới da gây sưng, ngứa đau dưới da (cutaneous larva migrans). Khi xâm nhập các mô tế bào nội tạng khác (visceral larva migrans) như hạch, mắt..cả não bộ, chúng có thể gây các triệu chứng khác như ho, tiểu ra máu, hư mắt và nguy hiểm nhất là sưng màng não.
Biện pháp an toàn nhất để phòng bệnh là ăn thịt lươn nấu thật chin và tránh ăn sống hoặc 'tái' như ăn.. gỏi, lươn nhúng.. vì ký sinh trùng chịu được nhiệt độ khá cao.
Ngoài ra, thịt lươn chứa nhiều protein và gần như đầy đủ các acid amin cần thiết. Riêng lượng histidine tỷ lệ khá cao, histidine rất cần thiết cho trẻ em. Khi lươn chết, histidine biến đổi thành histamine, một chất có thể gây ra các phản ứng miễn dịch nguy hại, nên cần tránh ăn lươn đã chết hay bị ươn.

- Tài liệu sử dụng :
Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập 2 (Viện Dược liệu VN).
The fresh-water fishes of Siam (Smithsonian Institution).

Ds Vĩnh Bảo  sưu tầm  27/7/2012
------------------------------------------------
BBT: xin xem thêm http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0%C6%A1n

VỀ hạt METHI



CÁCH DÙNG HẠT METHI ĐẠT HIỆU QUẢ TỐT


Ngâm 2 muỗng canh hạt Methi (muỗng ăn cơm) với 1 lít nước sôi. Tốt nhất là pha trong bình thủy hoặc bình giữ nhiệt để các chất trong Hạt Methi ra nhiều hơn. Nên tiến hành ngâm lúc sáng sớm, sau đó khoảng 2 tiếng là có thể dùng.

Hạt Methi giúp ăn ngon miệng dưới dạng trà dược (có thể thêm mật o­ng khi uống). Theo các nghiên cứu hạt Methi được sử dụng từ lâu đời để làm thực phẩm và không gây ra những phản ứng độc hại nào.

Cách dùng để phòng ngừa bệnh 
Cách dùng rất đơn giản, mỗi ngày khoảng 15 - 20 g hạt, rang hạt cho thơm, tán thành bột, pha nước uống, hoặc lấy hạt sống chưa rang, ngâm trong ly có chứa 200 ml nước lạnh, để qua một đêm cho hạt nở ra, sáng dậy uống hết nước trong ly, bỏ xác. Hạt có mùi thơm như vị rau cần tây, dễ uống. Hạt methi được xếp vào nhóm gia vị nên không có độc tính, tuy nhiên nếu dùng quá liều sẽ có cảm giác khó chịu ở bụng, dạ dày, phụ nữ có thai gần đến ngày sinh không nên dùng vì có thể gây sẩy thai.


Cách dùng cho người bệnh tiểu đường
* Cách 1 : cho 01 muỗng hạt Methi vào ly nước nóng 50 – 70 độ khoảng 10 phút, sau đó ăn hạt và uống nước 2 – 3 lần/ ngày trước bữa ăn 1h.
* Cách 2 : cho 02 – 03 muỗng hạt Methi vào ấm trà rót nước nóng chờ khoảng 5 phút, uống 2- 3 lần tới khi nước nhạt màu ( giống như pha và uống trà ).
* Cách 3 : Cho hạt Methi vào ấm đun sôi 3 – 5 phút, lọc bỏ bả. Uống nóng, để nguội hoặc bỏ vào tủ lạnh để uống trong ngày
* Cách 4 : Nếu muốn thơm ngon hơn thì có thể xao vàng rồi hãm nước và uống nóng hoặc đóng chai để tủ lạnh uống như nước lọc trong ngày. Với cách này cần tăng liều dùng lên khoảng 1,2 – 1,5 lần
* Cách 5 : Hấp cơm, làm bánh, nước sốt, làm sinh tố, sữa chua,…


Cách dùng do người dùng chia sẻ:
Ngâm 2 muỗng canh hạt Methi (muỗng ăn cơm) với 1 lít nước sôi. Tốt nhất là pha trong bình thủy hoặc bình giữ nhiệt để các chất trong Hạt Methi ra nhiều hơn. Nên tiến hành ngâm lúc sáng sớm, sau đó khoảng 2 tiếng là có thể dùng.
Uống trước và sau mỗi bữa ăn khoảng 15 - 30 phút. Có thể uống thay nước lọc trong ngày. Uống xong có thể ăn hạt (tùy người dùng có thể ăn hoặc bỏ hạt)



HẠT METHI HỐ TRỢ CHỮA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG 

NHƯ THẾ NÀO?


Kết quả là, nồng độ đường trong máucủa bạn sẽ thấp đi. Trong hạt Methi có chứa các thành phần là các ancaloit như gentianine,trigonelline, và carpaine. 

Trong thành phần của Hạt Methi có chứa một acid amin được gọi là 4-hydroxyisoleucine.  Acid amin này có tác dụng kích thích quá trình tự tiết insulin của tuyến tụy. Insulin như chúng ta biết, đó là một hormone do các "tế bào đảo tụy" của tuyến tụy tiết ra với tác dụng chuyển hóa carbon hydrate.
Hạt Methi còn có tác dụng làm giảm tính kháng insulin. Kết quả là, nồng độ đường trong máucủa bạn sẽ thấp đi. Trong hạt Methi có chứa các thành phần là các ancaloit như gentianine,trigonelline, và carpaine. 


Hạt Methi có thể làm điều gì khác để quản lý bệnh tiểu đường?
Một hiệu ứng của hạt Methi là làm tăng số lượng thụ thể cho insulin trong các tế bào hồng cầu.Và mặt khác nó giúp các mô ngoại vi của bạn có thể sử dụng được các glucose.
Đồng thời hạt Methi có thể giúp hạ thấp mức đường trong máu của bạn thông qua một số cơ chế:
1 - Đầu tiên nó có thể làm chậm quá trình hấp thụ của carbon.
2 - Thứ hai nó có thể ảnh hưởng làm ức chế quá trình vận chuyển glucose.
3 - Và tác động cuối cùng và quan trọng là nó giúp trì hoãn quá trình trống rỗng dạ dày.


Thành phần của hạt Methi
45-60% carbohydrates, chủ yếu là sợi nhầy (galactomannans)
20-30% protein cao trong lysine và tryptophan
5-10% các loại dầu cố định (lipid); pryridine loại ancaloit chủ yếu trigonelline (0,2-0,36%), choline (0,5%), gentianine, và carpaine
Flavonoid (apigenin, luteolin, orientin, quercetin, vitexin, và isovitexin)
Các axit gốc amino tự do (4-hydroxyisoleucine [0,09%], histidine, arginine, và lysine)
Canxi và sắt
Saponin (0,6-1,7%)
Glycosides tạo thành sapogenins steroid khi thủy phân (diosgenin, yamogenin, tigogenin, neotigogenin)
Sitosterol, vitamin A, B1, C và acid nicotinic
0,015% tinh dầu dễ bay hơi (n-ankan và sesquiterpene).


Vĩnh Bảo sưu tầm 27/7/2012

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

ĐẬU NÀNH VÀ SỨC KHỎE


ĐẬU NÀNH VÀ SỨC KHỎE  ĐÂU LÀ SỰ THẬT

Nguyễn Thượng Chánh

29.05.2012 

Mấy năm gần đây có nhiều nguồn dư luận cho rằng chất phytroestrogen  trong đậu nành có thể có hại cho sức khỏe
Ăn chay không thể thiếu đậu nành. 

Đậu nành là thực phẩm nồng cốt trong một chế độ ăn chay.
Từ đậu nành người ta làm ra vô số món ăn chay, như các loại tàu hũ (tofu), tàu hũ ky (dried bean curd), tương miso, các loại tương ngọt, tương mặn, chao, nước tương và xì dầu.
Đậu nành chứa một tỷ lệ chất đạm cao nhất (trên 30%) trong nhóm đậu và cũng cao hơn các loại ngũ cốc (8%-15% đạm).
Đậu nành chứa ít chất béo bão hòa, là loại chất béo xấu. Ngược lại tỷ lệ chất béo không bão hòa (chất béo tốt) của nó lại rất cao, đặc biệt là loại không bão hòa đa thể  (polyunsaturated). Chất nầy có thể giúp làm giảm cholesterol trong máu.
Đậu nành rất bổ
Đậu nành có chứa alpha linolenic còn được gọi là oméga-3. Các nhà dinh dưỡng đều nói rằng omega 3 rất tốt để ngừa các bệnh về tim mạch, để làm giảm áp huyết và để củng cố hệ miễn dịch! Oméga-3 cũng có nhiều trong các loại cá biển vùng nước lạnh như cá salmon và cá mackerel, v.v…
Đậu nành không có cholesterol, vì chất nầy chỉ thấy hiện diện trong các thực phẩm gốc động vật mà thôi. Đậu nành cũng không có chứa đường lactose (lactose free), vì vậy sữa đậu nành rất thích hợp cho những người nào bị bất dung nạp với lactose (lactose intolerance) mỗi khi uống sữa bò.
Đậu nành có chứa hầu hết các amino acids thiết yếu, có nhiều chất khoáng, chất xơ và vitamins (nhưng không có B12). Nhờ những tính chất nầy nên người ta thường dùng tàu hũ để thay thế thịt trong chế độ ăn chay…
100gr đậu nành rang cho 36.5gr protein, đậu nành nấu chín cho 16.6gr, miso 11.8gr, tàu hũ cứng 15.8gr, sữa đậu nành 2.8gr.
Ngoài các chất dinh dưỡng và chất đạm ra, đậu nành còn chứa những chất isoflavones thuộc nhómphytoestrogens. Đây là những hormones thiên nhiên tương tợ như oestradiol là  hormone sinh dục của phụ nữ.
Ăn tàu hũ và uống sữa đậu nành thường xuyên rất tốt cho các bà trong thời kỳ mãn kinh  (menopause). Chất phytoestrogens sẽ bù đấp lại phần nào sự suy giảm oestradiol  trong thời gian nầy, đồng thời nó làm nhẹ đi các triệu chứng bất lợi như các cơn bốc hỏa  (flushing),  hồi hộp khó chịu, niêm mạc âm hộ bị khô, tâm tính thay đổi bất thường hay xì nẹt quạu quọ bất tử, đổ mồ hôi ban đêm, và ngăn ngừa chứng loãng xương!
Có tài liệu còn nói ăn đậu nành có thể giúp giảm nguy cơ xuất hiện cancer vú. Đậu nành cũng có chứa chất sterol có khả năng kéo cholesterol xấu LDL trong máu xuống và giúp ngừa được các bệnh về tim mạch.
Video: Breast cancer survival and soy (Đậu nành giúp ngừa cancer vú) http://nutritionfacts.org/videos/breast-cancer-survival-and-soy/
Tháng 3 /2012  một khảo cứu của đại học Columbia, Hoa Kỳ cho biết chất isoflavone trong đậu nành có khuynh hướng giãn mạch nhờ vậy làm giảm huyết áp tâm thu xuống(systolic pressure là số đầu tiên trong 2 số đo huyết áp).Đây là một tin khích lệ cho các bạn nào đang bị cao máu.

Soy Nutrient May Lower Blood Pressure

Isoflavones May Relax Blood Vessels, Researchers Say
Reviewed by Louise Chang, MD
March 27, 2012 (Chicago) — Nutrients called isoflavones — found in soy, green tea, peanuts, and other plant foods — may help to lower blood pressure.
Researchers reported that news today at the American College of Cardiology’s annual meeting.
The researchers studied data from more than 5,000 Americans who were followed for 20 years, starting when they were 18-30 years old.
They filled out dietary surveys, which showed a blood pressure benefit for people who ate the most isoflavones. Their systolic blood pressure (the first number in a blood pressure reading) was, on average, 5.5 points lower than people who ate the least amount of isoflavones.
Tàu hũ, món ăn căn bản của người ăn chay
Đối với người VN mình, tàu hũ (Tofu) có thể được chế biến ra thành rất nhiều món ăn cũng ngon lắm. Nào là kho, chiên, xào, hấp hoặc nấu canh. Còn món tàu hũ trắng và mềm nữa, chế nước đường thắng với tí gừng, dùng để ăn chơi cũng hấp dẫn dữ lắm.
Đây là chưa kể đến tài nấu nướng của các bà chị khéo tay, có thể biến tàu hũ và mì căn ra thành vô số «món mặn» ăn cũng bắt cơm dữ lắm.
Dân Tây Mỹ thì họ xem  tofu như một loại thức ăn lành (healthy food), tốt cho sức khỏe, tuy biết vậy nhưng tofu cũng chưa phải là một món ăn hấp dẫn đối với họ. Theo người gõ thì Tofu bán ở các  siêu thị Tây ăn không mấy ngon và cũng không mấy thích hợp với «gu» của người mình.
Tàu hũ mua ở chợ Á Đông ăn vẫn thích hơn.
Sữa đậu nành
                                             
                                                      
Nói đến tàu hũ thì cũng phải kể luôn món sữa đậu nành (soymilk). Đây là một loại thức uống rất bổ dưỡng. Tại các chợ Tây cũng như chợ Tàu đều có bán rất nhiều loại sữa đậu nành. Phần lớn sữa nầy đều được cho tăng cường thêm vitamins A, D, B12, riboflavin (B2), kẽm Zn, phosphorus và calcium, v.v…
Cũng có nhiều loại sữa được pha thêm nước trái cây, vanilla hoặc lá dứa. Theo nhận xét riêng của người gõ, thì các loại sữa đậu nành bán ngoài chợ đều quá ngọt, vì vậy không mấy thích hợp cho những ai phải kiêng cữ đường.
Tốt nhất chúng ta nên ra chợ mua một cái máy automatic soymilk maker, mỗi ngày tự làm sữa đậu nành tại gia. Uống vừa bổ, vừa hạp vệ sinh, duy chỉ hơi mất công một chút thôi…
                               

Miso, Tương, Chao, Nước t
 ương, Xì dầu
Các loại nước chấm dùng để ăn chay thường được làm từ đậu nành…
Tương, chao, nước tương, xì dầu là những món rất phổ thông đối với người Việt Nam mình.
* Tương miso, gốc Nhật Bản, cũng thấy có bán tại các chợ Á đông. Có nhiều loại miso, như miso làm từ gạo (rice miso), từ đậu nành ủ cho lên men (soymiso) hoặc từ lúa mạch barley. Miso có thứ thì lỏng sền sệt, có thứ đặt hơn. Miso có nhiều màu như trắng, vàng và nâu đỏ. Miso trắng là loại ngọt, các thứ khác là loại miso mặn.
Theo phương thức cổ truyền, đậu nành được ủ cho lên men trong những thùng cây tuyết tùng (cedar) trong vòng cả 1-2 năm.
Miso sản xuất theo lối công nghiệp, thời gian ủ rất ngắn nên được gọi là quick miso. Lẽ dĩ nhiên miso công nghiệp phẩm chất không thể sánh bằng loại miso sản xuất theo lối cổ truyền được! Miso thường được dùng để nêm vào soupe gồm có tàu hũ, rong biển và nấm shiitake, v.v… theo kiểu Nhật Bản.
* Nói về tương thì Trung Hoa dẫn đầu về món nầy. Có rất nhiều loại tương được chế biến từ đậu nành. Tại Bắc Mỹ, không ai mà không biết hiệu tương ngọt Hoisin sauce bán ở các chợ Á đông. Người mình cũng không kém họ. Chúng ta cũng có rất nhiều loại tương quốc hồn quốc túy, chẳng hạn như tương bần và tương Cự Đà.
*Bên cạnh tương, thì cũng phải nói đến chao, cũng từ đậu nành mà ra.
Ngày nay, tương, chao, nước tương và xì dầu đã trở thành những món chấm rất thông dụng cho cả ăn chay cũng như cho cả ăn mặn.
Ngày xưa, lúc quê hương còn khó khăn, tương chao là những món chấm rất phổ thông và rất bình dân trong những bữa cơm hằng ngày của nhiều gia đình.
Thời đó, vào những ngày mùng một và  ngày rầm mỗi tháng, người gõ thỉnh thoảng thấy ở chợ Vườn Chuối, Saigon có bán một loại chao đặc biệt gọi là chao chùa. Chao nầy có màu trắng, hơi sền sệt, và có mùi thum thủm không khác gì mùi hột gà ung hay blue cheese, nhưng ăn vào thì lại rất bùi và rất  béo. Mua vài trái dưa leo và một bó rau lang về luộc chấm với chao cũng xong được một bữa cơm…thanh đạm và tốt cho sức khỏe.
Nước tương (soy sauce) được sản xuất qua phương pháp thủy phân (hydrolysis) đạm đậu nành. Năm 1999, cơ quan Joint Food Safety and Standards Group của Anh Quốc đã cảnh giác mọi người về sự hiện diện của một chất độc trong các loại nước tương (soy sauce) và dầu hào (oyster sauce) nhập cảng từ Á châu. Đó là chất 3-monochloropropane-1-2 (3-MCPD). Đây là một nhiễm hóa chất trong nhóm Chloropropanolols thấy trong các loại đạm thực vật được thủy phân bằng acid (acid hydrolysed vegetal protein).
Chất 3-MCPD có thể gây cancer nếu ăn thật  nhiều và ăn thường xuyên.
Tại Canada, Cơ quan kiểm tra thực phẩm (CFIA) vẫn thường xuyên theo dõi và kiểm tra nồng độ chất 3-MCPD của tất cả mặt hàng loại nầy nhập cảng từ Á châu.
Có một điểm cần nên nhớ là miso, tương, chao, nước tương và xì dầu đều rất mặn vì có chứa rất nhiều muối sodium, ăn nhiều, ăn thường xuyên sẽ có hại cho tim thận, và có thể làm tăng áp suất động mạch. Vậy hãy cẩn thận!
Tin ngược dòng về đậu nành
Tuy từ lâu đậu nành đã được hầu như tất cả các nhà dinh dưỡng trên khắp thế giới ca ngợi hết lời nhưng gần đây Internet có đăng bài Tragedy and Hype của hai tác giả Sally Fallon và Mary G Inig viết trong  báo Nexus Úc châu.
Trong bài báo nầy đậu nành bị kết án là nguyên nhân của nhiều bệnh tật.
Không biết họ làm chuyện nầy với dụng ý gì? .
Họ đã cảnh giác người tiêu thụ đừng nên đừng dùng đậu nành vì chất Isoflavone của đậu nành thuộc nhóm hormone nữ nên có thể gây hại tuyến giáp trạng (glande thyroide), giảm số lượng tinh trùng gây nên tình trạng vô sinh ở nam giới. Isoflavone còn ngăn trở tác dụng của hormone testosterone khiến các cháu trai trở thành homohết « Soy is making kids gays ».
Sữa đậu nành Soy Formula dùng cho trẻ em Hoa Kỳ được ví như những viên thuốc ngừa thai đối với các cháu bé (birth control pills for babies) vì có chứa hormone nhóm estrogen, đậu nành làm teo não, gây bệnh Alzheimer’s, và làm tăng nguy cơ cancer vú ở phụ nữ nữa.
Ghê quá! Nguồn tin quái ác nầy rất khó kiểm chứng và cũng không có kèm theo một dẫn chứng khoa học nào đáng tin cậy cả.
Cũng không có một nhà khoa học quốc tế hay một tạp chí khoa học đứng đắng nào đề cập đến vấn đề trên. Tuy vậy, mặc dầu là tin dỏm từ đầu tới cuối nhưng nó cũng đã gây hoang mang trong dư luận không ít!
Vài năm trước đây người gõ có hỏi thẳng vấn đề trên với các nhà chuyên môn phụ trách trang mạng Y Dược Ngày Nay tại Hoa Kỳ. Dưới đây là tóm lược các câu trả lời của các vị bác sĩ.

Theo trang mạng Y Dược Ngày Nay (Hoa Kỳ) (đã đóng cửa 2012)

Đậu Nành, Tofu, Phytoestrogen

Bs Nguyễn Thượng Chánh, Bs Nguyễn Ý Đức và Ts Nguyễn Văn Tuấn
Bs Nguyễn Thượng Chánh viết:
Tôi thấy gần đây trong Internet có post nhiều tin negative về Soybean. Họ nói chất Isoflavone (Estrogen) của Soybean có thể gây hại cho Thyroid Gland và nó cũng có thể làm giảm số Spermatozoa ở Thanh niên. Xin hỏi các tin trên có credible không? Các khảo cứu trên đã được ai thực hiện, và ở đâu? đã được đăng tải trong những revues nào? Hay đây cũng chỉ là 1 khảo cứu trong 1 điều kiện nhất định nào đó? Cũng có giả thuyết nói rằng đây là trận giặc giữa 2 phe: Soybean Industry và Pharmaceutical Industry. (Bs Nguyễn Thượng Chánh, cựu thú y sĩ CFIA)

Bs Nguyễn Văn Đức viết
Đậu nành tốt cho sức khỏe
Theo Chương trình Hướng dẫn Vấn đề Cholesterol quốc gia (National Cholesterol Education Program), khoảng 52 triệu người Mỹ có mỡ cao trong máu, và cần ăn một thực phẩm giúp hạ thấp lượng mỡ trong máu. Tính ra, cứ mỗi 1% chất cholesterol giảm đi trong máu, ta sẽ giảm triển vọng bị chết cơ tim cấp tính (myocardial infarction, nôm na là “heart attack”) được đến 2%. ..
“…Người Nhật, hàng ngày mỗi người họ dùng đến 10-50 g đậu nành (so ra, trung bình, một người Mỹ chỉ dùng 1-3 g mỗi ngày). Từ lâu, nó được pha làm sữa cho trẻ em, và dùng phụ thêm cho những người lớn, vì bệnh tật không thể ăn một thực phẩm bình thường. Các vị chay trường, không ăn thịt (vegetarians), nhiều lực sĩ mỗi ngày cũng tiêu thụ rất nhiều đậu nành.
Y học Tây phương gần đây quan ngại đậu nành chứa hoạt chất isoflavones, mang đặc tính giống chất kích thích tố nữ estrogen, nên nếu dùng về lâu về dài ở những người phụ nữ đã mãn kinh, có thể làm tăng triển vọng bị ung thư vú.
Quan ngại vậy thôi, điều này cũng chưa chứng minh được. Song cẩn thận vẫn hơn, nên người ta khuyên các phụ nữ dễ có nguy cơ bị ung thư vú, chẳng hạn như người có mẹ hoặc chị đã bị ung thư vú, không nên dùng quá nhiều đậu nành; dùng vừa phải thì được….” (Ngưng trích) 
Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức, M.D., Chuyên Khoa Nội Thương


Nguyễn Ý Đức viết:
Đậu Nành: Giá Trị Dinh Dưỡng, Trị Liệu
“…Với sự tăng gia dân số trên thế giới, con người đang lo ngại thiếu thực phẩm nhất là protein động vật và đang tìm cách chế biến thực phẩm từ hóa chất. Chắc họ cũng không quên “vua trong các loại đậu” là đậu tương, đậu nành một thực vật dễ trồng lại có giá trị cao về chất đạm và nhiều phần tử dinh dưỡng khác.” (Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức, M.D., Chuyên Khoa Gia Ðình và Bệnh Người Già)

Ts Nguyễn Văn Tuấn viết:
Phytoestrogen và sức khỏe con người
“…Mối liên hệ giữa phytoestrogen và ung thư vú, và giữa chu kì kinh nguyệt và ung thư vú là hai vấn đề thu hút một số nghiên cứu trong thời gian gần đây. 
Ở phụ nữ người da trắng, chu kì kinh nguyệt trong những người bị ung thư vú ngắn hơn khoảng 2 đến 3 ngày so với chu kì trong những người không bị ung thư vú.
Chu kì kinh nguyệt ở phụ nữ da trắng tính trung bình ngắn hơn chu kì ở phụ nữ Á châu khoảng 2 đến 3 ngày, và sự khác biệt này được đề nghị là có liên hệ đến mức độ tiêu thụ đậu nành trong người Á châu cao hơn trong người Tây phương nói chung .
Bằng chứng y học thu thập trong khoảng 30 năm qua cho thấy phytoestrogen có ảnh hưởng tích cực chống lại các bệnh tim mạch. Đã từ lâu, giới nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ người Á châu, những người có mức độ tiêu thụ rau cải nhiều, bị bệnh tim mạch ít hơn người da trắng Tây phương [29-30]. Trong phụ nữ người da trắng, estrogen là một kích thích tố được xem là có tác dụng phòng chống nguy cơ bị bệnh tim mạch. Phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh dùng estrogen (hay HRT) có nguy cơ bị bệnh tim mạch thấp hơn phụ nữ không dùng estrogen …
Trong phụ nữ Á châu, những người dùng đậu nành trong một thời gian rất dài (qua nhiều thế hệ) và với liều lượng trung bình, thì khả năng sinh sản của họ không có gì để gọi là có vấn đề.
Phát triển - Cho đến nay, tất cả các nghiên cứu về phytoestrogen và phát triển chỉ giới hạn trong các động vật cấp thấp như chuột nhưng kết quả cũng không có gì mang tính khẳng định Dù thế, có người đặt giả thuyết rằng (còn gọi là Sharpe-Skakebaek hypothesis) nếu trẻ sơ sinh được tiếp thu estrogen sớm có thể dẫn đến một vài biến chứng trong thời gian trưởng thành, như chất lượng tinh trùng thấp, hay nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt…
Nhưng trong thực tế cho đến nay, những tác hại trên chưa được ghi nhận trong bất cứ một nghiên cứu nào. Thực ra, có bằng chứng cho thấy ngược lại rằng nếu trẻ sơ sinh dùng phyto- estrogen thì trong thời gian trưởng thành họ thường ít bị các chứng bệnh mãn tính.
Ở Mỹ, sữa đậu nành đã được dùng cho trẻ sơ sinh hơn 50 năm và chưa có bằng chứng gì cho thấy nó có tác hại.
Nhưng phytoestrogen cũng có một vài biến chứng phụ nếu dùng với liều lượng cao, dù những biến chứng này nói chung là không nghiêm trọng. Thế nào là một liều lượng trung bình?Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào trả lời dứt khoát câu hỏi này. Nhưng các dữ kiện khoa học công bố trong thời gian gần đây cho thấy có lẽ dùng khoảng 30-40 mg/ngày (tức khoảng 1 ly sữa đậu nành mỗi ngày) là một liều lượng an toàn. Về thời gian dùng “an toàn” cũng chưa có câu trả lời rõ ràng, vì hầu hết các nghiên cứu về tác dụng của phytoestrogen thường rất ngắn hạn, và chúng ta vẫn chưa biết được những biến chứng lâu dài. Tuy nhiên, cho đến nay, trong các sắc dân Á châu dùng phytoestrogen (đậu nành) từ thế hệ này sang thế hệ khác, chưa thấy có biến chứng nguy hiểm nào được báo cáo.
Tăng cường tiêu thụ các sản phẩm như đậu khuôn hay rau cải cũng nằm trong một chiến lược y tế công cộng của chính phủ nhiều nước Tây phương nhằm giảm tỉ lệ dân số bị bệnh tim mạch, ung thư và loãng xương. Đối với người Việt Nam, các sản phẩm của đậu nành, như đậu khuôn, sữa đậu nành, đậu hủ là những món ăn quen thuộc, và không có lý do gì chúng ta phải từ bỏ nguồn thực phẩm lành mạnh và quan trọng này…” (
Ngưng trích). Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn, Ph.D., Giáo sư Ðại Học Y Khoa và Scientist tại Trung Tâm Khảo Cứu Y Khoa Garvan, Úc Châu

Ý kiến của Cư Sĩ Tâm Diệu Thuvienhoasen
Cư sĩ hiện là Chủ Biên Website Thư Viện Hoa Sen và là Soạn giả các sách về dinh dưỡng đã được xuất bản chính thức tại Việt Nam và Hoa Kỳ:
Ngoài các sách đã xuất bản, Cư sĩ còn trước tác và dịch thuật hơn 40 tiểu luận về Phật học và dinh dưỡng đã được đăng ở các tạp chí và các websites Phật giáo trong và ngoài nước.
Ý kiến dưới dây của Cư sĩ Tâm Diệu được thấy tiếp nối theo bài Ăn Chay và Sức khỏe của BS Nguyễn Thượng Chánh, DVM đăng trong trang Thuvienhoasen (06/09/2011)
Lời chú thích của BBT TVHS: (Trích từ quyển sách-Chương 5): 
ÐẬU NÀNH 

NGUỒN DINH DƯỠNG TUYỆT HẢO
Biên Soạn: Tâm Diệu
Sửa bản in: Liên Hương – Tâm Linh – Hồng Anh (VN)
Nhà xuất bản: Hoa Sen Westminster 1998 & Nhà xuất bản Tổng Hợp TP. HCM 2001 (Chương 5):
Chương 5: HỎI ĐÁP VỀ ĐẬU NÀNH.
HỎI Chúng tôi được đọc tập san Dinh Dưỡng Trị Liệu số 3, trong đó có một bài viết về đậu nành do một vị nữ y sĩ chỉnh xương biên soạn. Mặc dầu tác giả, trong phần kết luận, nói là “đưa ra hai quan điểm đối chọi để người đọc lựa chọn duyệt xét” về sự nguy hại hay không nguy hại của thực phẩm đậu nành, nhưng trong nội dung, tác giả đã không giữ được sự vô tư mà khẳng định là thực phẩm đậu nành “không có lợi cho sức khỏe”. (trang 48, cột thứ hai, dòng 31). Vậy xin ông cho biết quan điểm về lời nói này?
ÐÁP Trước tiên, chúng tôi xin lỗi là đã không trả lời bà trong hai quyển sách mà chúng tôi đã xuất bản, vì chúng tôi đang biên soạn quyển sách riêng về đậu nành, và muốn dành cho câu hỏi của bà cũng như câu trả lời của chúng tôi có một vị trí đặc biệt trong một quyển sách có tính cách nghiên cứu khoa học.Thật ra, khi viết quyển sách này, một phần cũng là trả lời câu hỏi của bà. Tuy nhiên còn một vài điều đặc biệt, nên cũng dịp này trình bầy thêm để bà và quý độc giả hiểu rõ.Trước hết phải nói ngay rằng bài viết của nữ y sĩ chỉnh xương như bà nói, là người phụ trách trông nom và cũng là biên tập viên tập san Dinh Dưỡng Trị Liệu, có trụ sở chánh tại San Jose, không phải là một bài biên soạn có tính cách nghiên cứu khoa học mà là một bài dịch, nhưng lại không được dịch đúng và có thêm ý kiến của người dịch vào, cũng lại không nói rõ xuất xứ nguồn tài liệu và tên tác giả để người đọc có thể tìm hiểu thêm. Nguồn gốc của bài viết có tựa là “Are Soy Products Dangerous?” thực ra là của Charlotte Gerson đăng tải trên mạng lưới Internet http://www.gerson.org/soy.html, viết theo một tài liệu cũ cách nay 32 năm, in trên tờ nguyệt san Newlife ở New York, số tháng Năm năm 1966 bởi hai nữ tác giả Sally W. Fallon, và Mary G. Enig. (có lưu trữ tại thư viện California State University, Fullerton) Nội dung bài viết của Fallon và Enig đều chứa đựng những tin tức cũ và sai lạc so với những khám phá khoa học bây giờ.Điều Thứ Nhất, tác giả cho rằng “Người Trung Hoa đã không ăn đậu nành như họ đã ăn các thứ đậu khác, như đậu lentil chẳng hạn vì đậu nành chứa một số lượng lớn những chất độc hại,” mà một trong những chất ấy tác giả gọi là “một loại điều tố cực mạnh có khả năng ngăn điều tố trypsin và các điều tố khác cần thiết cho sự tiêu hóa chất đạm đậu nành. Nấu chín cũng không triệt tiêu được loại điều tố này và làm cho sự tiêu hóa bị trở ngại.
Ðiều này hoàn toàn sai lầm, vì (thứ nhất) cổ thư Trung Hoa còn ghi lại là đậu nành xuất hiện từ trước thời đại nhà Chu (Chou Dynasty, khoảng thế kỷ thứ 11 trước Tây lịch) là một loại nông phẩm cổ nhất được dùng làm thực phẩm chánh, qua cả hai dạng lên men như chao, nước tương, miso, và dạng không lên men như đậu tươi luộc, đậu rang, bột đậu nành, giá sống, tầu hũ ky, sữa và đậu hũ; và (thứ hai), người Trung Hoa biết trong đậu nành có một chất làm khó tiêu hóa, (mà về sau khoa học mới gọi là SBTI “soybean trypsin inhibitors” có tác dụng ngăn cản nhiệm vụ của một chất xúc tác giúp cho sự tiêu hóa protein) nên họ đã hóa giải bằng cách ngâm đậu nành qua đêm xong xay nhuyễn bằng cối xay đá, vắt bỏ bã rồi nấu sôi thành chất sữa và từ đây biến ra các thực phẩm khác như đậu hũ, tầu hũ ki,..do đó qua tiến trình biến chế này chất SBTI đã bị khử trừ và các thực phẩm trở nên rất dễ tiêu hóa.
Điều Thứ Hai, tác giả cho rằng các thực phẩm đậu nành đã không được dùng cho đến khi kỹ thuật lên men được phát triển. Nói như vậy là sai vì ngay từ khi khám phá ra đậu nành người dân Trung Hoa đã ăn đậu nành qua dạng không lên men như đậu tươi luộc, đậu rang, bột đậu nành làm bánh, giá sống, tầu hũ ky, sữa và đậu hũ. Ðậu hũ bắt đầu có từ thời đại nhà Hán vào khoảng thế kỷ thứ hai trước Tây lịch. (Han Dynasty 206 B.C.-220 A.D.)
Điều Thứ Ba, tác giả cho hay là thực phẩm đậu nành chứa nhiều chất hóa học không tốt, ví dụ như hóa chất Phytate, hóa chất Protease Inhibitors,..v..v..Ðiều này cũng hoàn toàn sai vì, như chúng tôi đã trình bầy rất rõ ràng trong sách. Xin bà xem lại chương nói về các hóa chất chống lại bệnh ung thư.
Điều Thứ Tư, tác giả cũng cho rằng trẻ sơ sinh uống sữa đậu nành bị thiếu chất kẽm (zinc), nhiều chất phytate, và bị dị ứng..v..v.. Ðiều này lại sai hơn nữa vì sữa đậu nành cho trẻ sơ sinh mới là loại sữa tốt, cân bằng đủ thứ vitamin và chất khoáng, nhất là lại càng không bị dị ứng. Xin bà coi lại chương nói về sữa đậu nành và sữa đậu nành công thức trẻ sơ sinh trong sách.
Cũng xin kể thêm là cháu ngoại của người viết, vì uống sữa bò bị dị ứng đầy mặt, đầy người, nên bác sĩ Hạnh đã cho thay thế bằng sữa đậu nành hiệu Isomilk mà kết quả là chứng dị ứng biến mất và rất là khỏe mạnh mập mạp.
Điều Thứ Năm, tác giả viết “trong lúc làm sữa đậu nành, các nhà sản xuất cố gắng loại bỏ tối đa chất trypsin inhibitors bằng cách cho đậu nành ngâm trong một dung dịch kiềm (alkaline), sau đó đun nóng bằng sức ép ở nhiệt độ 115 độ, nhưng hại thay là chất đạm bị làm tan dạng thức và số chất đạm còn lại khó có thể tiêu hóa được và chất phytate trong sữa đậu nành ngăn không cho các khoáng chất hấp thụ vào máu. Tệ hại hơn nữa chất kiềm dùng để ngâm tạo ra mầm ung thư lysinealine và giảm chất cystine, một chất rất quan trọng cho sự biến năng chất đạm. Thiếu chất cystine này các chất đạm trở thành vô dụng ngoại trừ ăn thêm các các thực phẩm có chất thịt, cá và các sản phẩm bằng sữa động vật như cheese bơ. Rất tiếc người ăn chay không có các chất này.”
Xin trả lời là việc ngâm đậu nành trong một dung dịch kiềm là phương pháp cổ điển, mà ngày nay, hầu hết các nhà sản xuất thực phẩm đậu nành không còn áp dụng, mà họ theo kỹ thuật boiling water-grind do viện đại học Cornell University phát triển, vừa có tác dụng không cho chất xúc tác hành hoạt (inactivate the soy enzyme) mà lại còn làm chất sữa có mùi thơm tự nhiên hơn. Lẽ dĩ nhiên, theo kỹ thuật này, đậu nành vẫn phải ngâm khoảng 10 tiếng đồng hồ, nhưng chỉ với nước thường, không pha thêm bất kỳ một hóa chất nào.
Ðó là nói về tác giả Fallon, Enig và Charlotte Gerson, bây giờ chúng tôi xin nói thêm về những điều mà tập san Dinh Dưỡng Trị Liệu Số 3 đã cho thêm vào hoặc dịch không đúng khi chuyển ngữ: 
Thứ Nhất, người biên tập viết rằng: “Những lợi ích của sữa đậu nành đã bị trầy vết khi các nhà khảo cứu cho rằng đậu nành không những có lợi ích làm giảm cholesterol mà còn có lợi chống ung thư và các triệu chứng của thời kỳ sau tắt kinh.” mà nguyên văn tiếng Anh như sau: “The health benefits of soy foods keep piling up as research unveils new information about the benefits of the components of soy, not only that is low cholesterol, but that it is also linked to cancer benefits and may help menopause symptoms.”.
Chữ soy foods không thể dịch là sữa đậu nành, chữ piling up cũng không thễ dịch là trầy vết mà nó có nghĩa là chất đống, chất chồng. Ý nghĩa toàn câu này là “Những lợi ích sức khỏe của thực phẩm đậu nành được tích lũy thêm bởi các nghiên cứu khám phá những tin tức mới về lợi ích của các thành phần cấu tạo đậu nành, không những chỉ làm giảm cholesterol, mà còn có lợi chống lại bệnh ung thư và các triệu chứng sau khi mãn kinh của phụ nữ”.
Thứ Hai, trong khi nói rằng: “Ðậu nành có tác dụng hạ cholesterol ra sao thì chưa được rõ..” (trang 46 cột thứ nhất) thì ở một đoạn khác cô nói là: “Ðậu nành có khả năng làm giảm cholesterol trong máu, đồng thời còn ngăn ngừa chất LDL cholesterol xấu bị oxýt hóa. (trang 46 cột nhì). Quả là mâu thuẫn, đủ chứng tỏ người viết, đã không nắm vững vấn đề, cho nên mới không được nhất quán như vậy.
Thứ Ba, trong bản văn tiếng Anh, tác giả Charlotte Gerson viết: “New soy products are being marketed to the growing “health product” consumers: soy milk, soy baby formula, soy yogurt, soy ice cream, soy cheese, soy flour for baking, and soy protein as a meat substitute for the vegetarians.” Thế mà cô lại dịch, có thêm vào (những chữ gạch dưới hàng) như sau: “Chúng ta nên nhớ, những người ăn chay, ăn đậu hũ thường bị thiếu khoáng chất rất trầm trọng. Nhiều những sản phẩm mới làm bằng đậu nành như sữa đậu nành, công thức sữa đậu nành cho trẻ em, yogurt đậu nành, kem đậu nành, bột đậu nành được tuyên bố là “ lợi ích cho sức khỏe” nhưng thật ra không có lợi cho sức khỏe. (trang 48)
Chúng tôi rất tiếc cho người viết, một Doctor of Chiropractic, có trách vụ nghề nghiệp là chăm sóc sức khỏe cho đồng bào, lại viết một bài về dinh dưỡng không phù hợp với các khám phá khoa học mới, vì cô chỉ y cứ vào một bài viết, mà bài viết đó lại căn cứ vào một bài viết khác quá cũ, đã xuất bản cách nay 32 năm, nhằm gây hoang mang cho những người ăn chay, một chế độ dinh dưỡng mới, đang đi vào dòng sinh hoạt chính của người dân Hoa Kỳ và các quốc gia Tây Phương.”
Đọc thêm
-Akira Currier. The controversy surrounding soy
-BBC. Soy “link” to male infertility
-Health Canada. (2006, November 3). Soy – one of the nine most common food allergens.
-Tatiana Mihaela. Is soy healthy or dangerous
Montreal, 2012

 Vĩnh Bảo đưa từ Khoa học net  ngày 25/7/2012

Nhà thơ NG. VIỆT CHIẾN

Thứ ba, 24/07/2012, 15:06
 

Nguyễn Việt Chiến trong hoạn nạn ‘gặp’ Nguyễn Du

http://evan.vnexpress.net/News/chan-dung/2012/07/11038-nguyen-viet-chien-trong-hoan-nan-gap-nguyen-du/

Trong tập thơ vừa ra mắt thơ “Trăng và thơ đọc chậm”, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Việt Chiến cho biết, trong tập này có nhiều bài thơ được anh làm trong thời gian hoạn nạn.

Tác giả cũng tâm sự, trong cơn mưa gió lớn của đời người ấy, chính thi ca, cái đẹp và lẽ phải đã cứu rỗi anh. eVan có cuộc phỏng vấn tác giả “Tổ quốc nhìn từ biển” về tập thơ này.
Làm mới không gian thơ lục bát
- Thơ vốn thường đọc chậm, những người đến với thơ cũng thường với tâm thế chậm rãi, sao anh còn phải lưu ý họ “đọc chậm” ngay từ tên tập thơ mới?
- Người đọc thơ hôm nay thường rất ít khi đọc kỹ một tập thơ đáng đọc, đọc kỹ một tác giả cần đọc, họ thường đọc lướt qua các trang thơ, bởi thế thể loại văn học “ý tại ngôn ngoại” này đang mất dần đất sống trong tâm thế con người hiện đại. Cũng có thể, bởi thời gian qua, thơ lạm phát như tiền giấy, người người làm thơ, nhà nhà in thơ mà in toàn loại thơ làng nhàng nên số lượng thơ in thì nhiều quá mà chất lượng thơ thì xuống quá. Do vậy, người đọc bỏ thơ đi khá nhiều. Đây là một thực trạng, nhưng có lẽ chúng ta cũng không cần quan tâm vấn đề này, bởi chỉ có những bài thơ hay, những tập thơ hay mới đọng lại được qua thời gian. Tên đề tập thơ của tôi là “Trăng và thơ đọc chậm” với ý tưởng: Trăng là cái đẹp, thi ca nhiều khi cũng mang vẻ đẹp của trăng và cách sống chậm, đọc chậm, cảm nhận chậm khi thưởng ngoạn vẻ đẹp của trăng và thi ca có lẽ sẽ giúp chúng ta phát hiện được nhiều điều thú vị hơn nhất là trong đời sống đô thị công nghiệp ngột ngạt, xô bồ hôm nay.
- Tạo nhịp điệu cho thơ bằng những dấu chấm là cách anh quen dùng. Anh có thể nói rõ hơn về thủ pháp này?
- Trong những bài thơ lục bát của tập “Trăng và thơ đọc chậm” tôi thường dùng dấu chấm để tạo nhịp điệu cho mỗi câu thơ. Những năm qua, người đọc đã quen với lối thơ lục bát mới, thường bẻ câu, xuống dòng để tạo nhịp điệu ví như đoạn thơ sau:
Đêm 
Mưa 
Gặp Nguyễn 
Trên sông
 Đầu đội nón lá 
Chân không mang giày
 Ông ra câu cá 
Sông này 
Một chiếc cần trúc 
Phất đầy mưa đêm
 ÔngDốc bầu rượu 
Tưới lên 
Dòng sông mặt sách 
Còn thiêm thiếp nằm 
Các người ngủ 
Suốt trăm năm 
Nguồn thơ đã cạn 
Nguồn văn đã mòn
Với kiểu thơ lục bát bẻ câu, xuống dòng như trên, nó cũng đã tạo ra một hiệu ứng “làm mới không gian thơ lục bát”. Tương tự như thế, nhưng tôi không bẻ câu, không xuống dòng, tôi vẫn giữ nguyên khổ thơ truyền thống “trên sáu chữ, dưới tám chữ” và dùng dấu chấm để ngắt và biến đổi nhịp thơ theo kiểu:
  Đêm. Mưa. Gặp Nguyễn. Trên sông 
Đầu đội nón lá. Chân không mang giày  
Ông ra câu cá. Sông này 
Một chiếc cần trúc. Phất đầy mưa đêm  
Ông. Dốc bầu rượu. Tưới lên 
Dòng sông mặt sách. Còn thiêm thiếp nằm  
Các người ngủ. Suốt trăm năm 
Nguồn thơ đã cạn. Nguồn văn đã mòn
Với những câu thơ lục bát dạng này, người đọc thường phải “đọc chậm” lại vì mỗi một đơn vị chữ khi đứng độc lập lại thường có sự “ngân vang” và liên tưởng riêng của nó. Và tôi coi đấy như một thủ pháp mới của mình để “làm mới” thơ lục bát. Vì thực ra, với thể thơ cổ điển này, sự mòn mỏi quen thuộc về mặt nhịp điệu thi pháp trong cả trăm năm qua cũng đã đến lúc cần phải có những chuyển đổi mới về mặt cấu trúc nhịp điệu câu thơ để có thể tạo ra một âm hưởng làm tươi mới thơ lục bát mà vẫn không làm mất đi vẻ đẹp quyến rũ truyền thống của nó.
Trang bìa tập thơ mới của Nguyễn Việt Chiến.
Trang bìa tập thơ mới của Nguyễn Việt Chiến.
- “Ta đã chìm rất sâu trong một đêm mưa lớn / không ai đến được với ta / nhưng ở nơi tận cùng của đáy sâu kia / ta vẫn nhận thấy hơi ấm của em…”. Đọc những câu thơ anh viết người ta rất dễ liên tưởng đến chuyện đời, nhất là những gì anh đã trải thời gian qua. Anh có thể nói rõ hơn về hình tượng “em” trong đoạn thơ trên?
- “Trăng nơi đáy sâu” là một bài thơ tình viết ở giai đoạn khó khăn nhất trong cuộc đời cầm bút của tôi. Em trong bài thơ này được ví với ánh trăng, với cái đẹp và dĩ nhiên được ví với thơ. Nhưng có lẽ chỉ có nhà thơ nào buộc phải sống “ở nơi tận cùng của đáy sâu kia” mới có thể cảm nhận được vị mằn mặn của ánh trăng, thứ ánh sáng không bị hủy hoại bởi bùn tối của những đáy sâu. Và như tôi đã tâm sự trong bài thơ này, khi ở nơi tận cùng đáy sâu kia, tôi đã được cứu thoát bởi chất muối ấy.
Nỗi đau lớn sinh ra những bài thơ lớn
- “Ta nói điều này cho anh biết. Chỉ có trong những đêm mưa lớn của đời người như anh đang từng trải qua, người thơ mới có thể ra sông văn câu được những bài thơ, tứ thơ, những câu chuyện văn chương hay nhất trong cuộc đời cầm bút của mình…”. Đó là một đoạn lời của Nguyễn Du trong bài mở đầu tập “Trăng và thơ đọc chậm” mới ra mắt của anh. Có vẻ như nó cũng giống một lời tự vấn về nghề. Anh nghĩ sao?
- Giấc mơ gặp cụ Nguyễn Du đi câu trên sông đêm là một giấc mơ có thật trong chuỗi ngày hoạn nạn gặp “tai nạn nghề nghiệp báo chí” của tôi. Cũng từ giấc mơ kỳ lạ đêm mưa lớn ấy, tôi viết được bài thơ lục bát “Gặp Nguyễn Du trên sông đêm” với những câu thơ không thể viết được lần thứ hai trong đời. Sau này khi đọc bài thơ của tôi in trên báo, một nhà thơ nói vui: “Mình cũng muốn vào trong ấy ít ngày để thử viết một bài thơ như vậy xem có được không?”. Tôi cười bảo: “Ấy là ông nói vui như vậy, chứ vào thì cũng khó lắm mà ra thì còn khó hơn nhiều!?”. Đúng ra, lời khuyên của cụ Nguyễn Du đối với tôi trong giấc mơ đêm ấy như một sự động viên, vỗ về, an ủi đối với một người thơ đang gặp hoạn nạn, tôi nghĩ như vậy và có vẻ nó cũng giống như một lời tự vấn về nghề như bạn nói, bởi tôi cho rằng nỗi đau lớn thường sinh ra những bài thơ lớn.
- Cũng trong tập thơ mới nhất của anh có một số bài ở thể loại “truyện-ngắn-thơ” khá lạ. Đây là một bắc cầu để Nguyễn Việt Chiến chuyển sang văn xuôi?
- Hoàn toàn không có chuyện bắc cầu để chuyển sang văn xuôi. Trong tập “Trăng và thơ đọc chậm” của tôi có 4 bài ở thể loại “Truyện-ngắn-thơ” (tôi cứ tạm gọi như vậy) là các bài: Gặp Nguyễn Du trên sông đêm, Sự nổi loạn của tranh, Nước mắt của trăng, Mùi Tiên. Đây là những bài thơ viết theo dạng truyện ngắn, cả câu chuyện là một bài thơ, được kể lại bởi một nhà thơ không hề có ý định làm văn xuôi trong thơ. Chất thơ và nhạc điệu của thơ trong 4 truyện-ngắn-thơ này chính là cái chất - nền của những câu chuyện mở ra một không gian thơ kể cả về hình ảnh, sự suy tưởng và chiêm nghiệm. Tôi đang có ý định sẽ viết tiếp những truyện-ngắn-thơ như vậy.
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.

- Phùng Quán từng viết “Có những phút ngã lòng / Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”, còn anh, trong những thời khắc sóng gió đời người, ngoài thơ, điều gì khiến anh có đủ niềm tin và nghị lực sống?
- Có thể nói tôi đã vượt qua được những thời khắc khó khăn ấy bằng một niềm tin lớn, bằng một khát vọng sống mãnh liệt rằng thi ca và cái đẹp, và lẽ phải sẽ cứu rỗi con người như những câu thơ tôi đã viết trong bài “Gửi bạn bè” trong tập “Trăng và thơ đọc chậm”: “Xin đừng hỏi vì sao ta gục ngã/ Ta yêu thương như Mẹ - núi sông này/ Khi ngay thẳng sống làm người thật khó/ Ta dọn mình cho bữa tiệc đắng cay/ Xin đừng hỏi vì sao ta phải sống/ Ta bản năng không chay tịnh thánh thần/ Ta bụi bặm ta hồn nhiên đến thở/ Trên chiếc giường của mộng mỵ ăn năn/ Khi số phận chọn ta làm ngọn bút/ Phất lên đầu sóng dữ một bài ca/ Ai biết được ta sẽ chìm tận đáy/ Rồi vượt lên bao bất hạnh, trầm kha/ Ngày lại ấm từng câu thơ con viết/ Mùa vẫn dài trong mắt mẹ buồn thương/ Khi mẹ nhắc chiều muộn rồi-con biết/ Bài thơ kia đã ở sát chân tường/ Khi bạn hỏi bóng tôi trên mặt sách/ Câu thơ nào viết dưới đáy thời gian/ Trong tuyệt vọng chỉ còn thơ là bạn/ Chỉ còn thơ cứu rỗi mọi suy tàn/ Nghe bạn hỏi bóng hoa trên mặt sách/ Mùi hương nào thấm đẫm một chia phôi/ Mai hay cúc, hay thuỷ tiên tưởng tượng/ Bóng hoa đen ám ảnh chúng ta rồi/ Trên gương mặt thời gian năm tháng ấy/ Có một phần gương mặt của chúng tôi/ Trán kiêu hãnh mang vẫn thơ hy vọng/ Dẫu trái tim đa cảm bị thương rồi”.
- Từng đoạt giải nhì cuộc thi thơ hay về biển năm 1992, có vẻ như cảm hứng sáng tác về biển xuất hiện trong anh từ khá sớm. Gần đây anh cũng có nhiều bài thơ được sự cộng hưởng của đông đảo bạn đọc như “Tổ quốc nhìn từ biển”, “Đất nước thời gian lao”, sao anh không lấy tên những bài thơ này để đặt cho tập thay vì cái tên khá cổ điển “Trăng và thơ đọc chậm”?
- Đúng là cảm hứng sáng tác về biển đã xuất hiện trong thơ tôi khá sớm, cách đây hơn 20 năm, tôi bắt đầu bằng bài thơ dài “Những cư dân của biển cả” đăng trên báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn VN năm 1991 với những câu thơ: “Những cư dân của biển cả/ Chim trời và các bạn là một phần của tự do/ Sóng ngầm và các bạn là một phần sức mạnh của trái đất/ Cá và mồ hôi của các bạn nuôi dưỡng cuộc đời này/ Muối của các bạn là kết tinh mặt trời và nước mắt/ Ngọc trai của các bạn là ánh sáng được nuôi từ nỗi đau…” và bài thơ “Biển chiều”của tôi đã được trao giải nhì cuộc thi thơ hay về biển năm 1992. Đến thời gian gần đây, bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” (bài thơ đầu tiên khi tôi trở lại cầm bút) đã nhận được sự cổ vũ của hàng triệu độc giả trong và ngoài nước, còn bài thơ “Tổ quốc bên bờ biển cả” của tôi đã được trao giải nhì của cuộc thi thơ nhạc “Đây biển Việt Nam” đầu năm 2012. Có thể nói, đề tài biển đảo đã trở đi, trở lại trong thơ tôi suốt hai chục năm qua với rất nhiều trăn trở và tôi sẽ tiếp tục viết về đề tài này, trước mắt, tôi đang hoàn thành một trường ca về biển. Còn tôi đặt tên tập thơ mới là “Trăng và thơ đọc chậm” là vì trong tập có gần một chục bài thơ tôi viết về trăng và nhiều bài tôi viết theo kiểu thơ-đọc-chậm. 

Nguyễn Việt Chiến sinh năm 1952 tại Thạch Thất, Hà Nội. Năm 1992 về làm việc tại báo Thanh Niên. Tác phẩm đã xuất bản: Mưa lúc không giờ (1992); Ngọn sóng thời gian (1998); Cỏ trên đất (2000); Những con ngựa đêm (2003); Thơ Việt Nam, tìm tòi và cách tân (2007); Trăng và thơ đọc chậm (2012). Đã đoạt các giải thưởng: Giải nhì cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1989-1990; Giải nhì cuộc thi “Thơ hay về biển” năm 1992; Giải nhì cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 2000 và năm 2008-2009; Giải thưởng thơ Hội Nhà văn Hà Nội năm 2004; Tặng thưởng thơ Hội Nhà văn VN năm 2004; Giải ba cuộc thi thơ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội năm 2010; Giải nhì cuộc thi thơ “Đây biển Việt Nam” năm 2012.
Năm 2008, do những thông tin báo chí liên quan đến vụ PMU-18, Nguyễn Việt Chiến bị Tòa án nhân dân tối cao tuyên phạt 2 năm tù giam. Đầu năm 2009, sau khi được đặc xá, anh tiếp tục trở lại làm việc tại báo Thanh Niên cho đến nay.
  Dương Tử Thành thực hiện

Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2012

KHẢO LƯỢC PHỞ


Vũ Thế Long qua loạt bài lược sử về Phở đã đưa chúng ta đi qua nhiều góc nhìn về phở và dự báo về sự tiến hóa của món ăn được xem là đứng đầu trong top 10 món ăn Việt. Nhất là ông đưa chúng ta lần tìm về nguồn gốc của món này.

Ngày nay, bạn đến du lịch Việt Nam, dọc dài khắp nẻo, từ Bắc chí Nam, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến núi cao hay hải đảo xa xôi, đâu đâu bạn cũng gặp những quán ăn, nhà hàng với những tấm bảng hiệu “Cơm – Phở”. Cơm – Phở đã phát triển khắp nơi trong nước. Không những thế, ra nước ngoài, món Phở Viêt Nam cùng với cơm Việt đã xuất hiện ở nhiều đô thị ẩm thực hầu khắp Âu Châu như Anh, Pháp, Bỉ, Hà lan, Ý, Tiệp, Đức, Ba Lan, Nga, v.v. Rồi sang cả Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Úc, Nhật, Hàn, Phi, Mã, Thái, Lào, Miên và Trung Hoa… Phở, món ăn Việt đã không chỉ nở rộ trên đất Việt mà đã và đang lan tỏa ra khắp hoàn cầu. Có những nguyên thủ quốc gia đến thăm Việt Nam đã tranh thủ thưởng thức bát phở Hà Nội đặc sắc và không ngớt lời khen ngợi. Trên dường đi vận động tranh cử, bà Thủ tướng Đức Merkel đã bất ngờ tạt vào nhà hàng ở Leipzig bắt tay chúc mừng nhân viên nhà hàng Phở Việt rồi hẹn một ngày sẽ trở lại. Phở đã là một món ăn nổi tiếng toàn cầu và tôi tin chắc rằng nó sẽ ngày càng lan tỏa để trở thành một món ăn đỉnh cao Việt Nam tỏa sáng trong văn minh ẩm thực của nhân loại.
Khi khách du lịch nước ngoài tới Việt Nam, theo chỉ dẫn dựa trên bình chọn của nhiều nhà ẩm thực học và cả các hãng thông tấn nổi danh nước ngoài, hầu hết đều yêu cầu thưởng thức món phở, một trong 10 món ăn được cho là ngon nhất trong ẩm thực Việt. Được mời giới thiệu món ăn Việt với du khách, với tư cách là một người Việt gốc Hà Nội, lại có chút đam mê tìm tòi về lịch sử ẩm thực Việt từ cổ chí kim, tôi không thể không quan tâm đến lịch sử hình thành và phát triển của phở Việt. Phở là một trong những sáng tạo nghệ thuật ẩm thực độc đáo trong lịch sử văn hóa nghệ thuật ẩm thực Việt Nam ở thế kỉ XX.

Do hạn chế về tư liệu, chưa có điều kiện sưu tầm và khảo sát cho thật đầy đủ các bằng chứng liên quan đến phở nên ở đây chỉ xin nêu một số nhận định qua khảo lược về phở Việt. Việc nghiên cứu toàn diện về phở nên coi như một công trình khảo cứu văn hóa học về nghệ thuật ẩm thực và nên tổ chức nghiên cứu cho thật chu đáo nhằm không ngừng gìn giữ, phát huy và quảng bá nghệ thuật ẩm thực độc đáo của văn hóa ẩm thực Việt Nam vốn rất đa dạng phong phú và đầy tiềm năng mà phở là một điển hình của sự phát triển cao về nghệ thuật ấy.
Phở là gì?
Theo thói quen thông thường của người làm nghiên cứu khoa học, tôi thường đi tìm cái định nghĩa cho đối tượng nghiên cứu của mình. Vậy phở là gì? Trước hết, tôi cất công lục lọi qua các từ điển. Từ điển bách khoa Việt Nam (4 tập), Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam và Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa xuất bản, Hà Nội, 1995-2005 được biên soạn bởi hầu hết các chuyên gia đầu ngành trong nước rất công phu. Lạ thay, lục đi lục lại mãi mà chẳng thấy đâu từ mục “phở” cả. Tôi bàng hoàng, trước khiếm khuyết quá lớn của các từ điển gia. Chẳng lẽ các vị không bao giờ nhúng đũa vào bát phở hay các vị không coi nó là sản phẩm ẩm thực đặc sắc thuần Việt sao? Giả định rằng phở không phải của Việt Namđi nữa thì từ điển bách khoa không lí gì mà để quên mất cái từ quan trọng này.
May thay, trong bộ Bách khoa thư Hà Nội mới xuất bản gần đây trong dịp kỉ niệm đại lễ nghìn năm Thăng Long (Ủy ban Nhân Dân Hà Nội- NXB. Thời Đại – Hà Nội – 2010) đã có hai tập đề cập ít nhiều về phở. Đó là tập 15 chuyên khảo về du lịch và tập 17 khảo về phong tục lễ hội. Các phần trình bầy về phở ở đây còn tản mạn chưa có vóc dáng của một bách khoa mang tính hàn lâm.
Tra trong từ điển tiếng Việt thì thấy: “Phở dt. Món ăn gồm bánh phở thái nhỏ và thịt, chan với nước dùng hoặc xào với hành mỡ: hiệu phở. Bát phở tái” (Từ điển Tiếng Việt TTKHXHNVQG; Nguyễn kim Thản – Hồ Hải Thụy – Nguyễn Đức Dương –NXB Văn hóa Sài Gòn – 2005, tr 942).

Các bạn nước ngoài khi muốn ăn phở, họ theo sách hướng dẫn du lịch mà gọi phở của ta là China soup. Tra từ soup trong từ điển Anh Việt thì: Soup có nghĩa là xúp, là canh, là cháo thịt. Phở rõ ràng khác với canh, khác với cháo và lại càng không phải là một thứ canh Tàu. Bởi thế, sau này người ta giới thiệu món phở Việt họ dùng nguyên gốc từ Phở (Pho noodle soup). Thế là đủ. Về nguồn gốc của từ phở cũng lắm chuyện rắc rối nhưng xin hãy để bàn sau, ta đang nói đến định nghĩa về phở. Rõ ràng là ngay cả từ điển tiếng Việt khi nêu định nghĩa về phở cũng còn có những thiếu sót như: có phải phở nào cũng ăn theo kiểu thái nhỏ bánh phở ra đâu. Ngoài phở nước phở xào còn có những loại phở chẳng chan nước, chẳng xào nấu gì cả. Đành vậy vì từ điển chứ không phải từ điển bách khoa. Mà ngay cả từ điển bách khoa công trình đồ sộ đến thế còn quên béng đi mất từ Phở thì cũng không nên khắt khe quá với từ điển làm gì. Vậy thì phở là gì? Tôi xin tạm nêu một vài ý như sau:
Phở là một số loại món ăn nổi tiếng của người Việt, được chế biến bằng nhiều cách khác nhau dựa trên một nguyên liệu gốc là bánh phở được tráng bằng bột gạo xay loãng, tráng mỏng, hấp chín bởi hơi nước và từ bánh phở nguyên liệu chủ đạo người ta chế biến với nhiều cách khác nhau để tạo ra các loại phở đa dạng.
Phở nước: bánh phở được thái thành những dải sợi chan với nước dùng ninh từ thịt, xương, (gà hoặc bò…) cùng một số hải sản như tôm, mực, xá sùng và các hương liệu đặc biệt. Cùng với thịt bò hoặc thịt gà… và một số rau thơm và các gia vị bổ sung như tiêu, ớt…
Phở xào: Sợi bánh phở tươi xào với một số loại thịt hoặc các phủ tạng động vật, hải sản và gia vị, rau.
Phở trộn: bánh phở thái nhỏ trộn với thịt và một số loại rau sống, gia vị không chan nước mà ruới nước mắm pha chế hay nước xốt.
Phở cuốn là bánh phở không thái cuốn nhân tôm hoặc thịt bên trong. Khi ăn thì chấm nước mắm pha chế.
Phở chấm: bánh phở không thái khi ăn chấm với nước chấm có thể ăn kèm giò chả, thịt quay, Trứng gà chần, húp nước dùng để riêng.
Phở nướng: Bánh Phở tươi cuốn quanh thịt lợn nướng thành chả rồi đem nướng trên than hồng …
Có thể còn nhiều kiểu phở khác nữa nhưng ta sẽ bàn thêm về tính đa dạng của phở ở phần sau. Phở là một món ăn chế biến theo nhiều cách và dứt khoát khi ăn món này phải có bánh phở làm từ bột gạo là thành phần không thể thiếu. Có thể có nhiều món nấu tương tự như phở nhưng khi thay thế bánh phở bằng sợi mì hay sợi miến thì sẽ không thể coi là phở được. Bởi vậy, bánh phở là một nguyên liệu chủ đạo.
Bàn về nguồn gốc và sự hình thành của Phở Việt quả là một vấn đề rất lí thú và vô cùng rắc rối. Lí thú bởi hầu như ai cũng thấy phở là một trong những đặc sản đầu bảng của ẩm thực Việt. Nó hay như thế, ngon như thế, giá trị như thế nên một số vị chỉ muốn nó là sản phẩm của người Việt mình, thậm chí của quê mình, của mỗi dòng họ mình thôi.
Tôi đã có lần chứng kiến cuộc tranh luận nảy lửa giữa hai vị cao niên có tiếng trong làng ẩm thực Việt trước bữa tiệc thịnh soạn chiêu đãi các vị lãnh đạo của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam. Chỉ vì quyết bảo vệ cho bằng dược phở có gốc từ Nam Định hay gốc Hà Nội mà mặt đỏ tía tai, to tiếng rồi bỏ tiệc ra về. Buồn thế đấy. Giá như các vị ấy biết nghe ý kiến phản biện lẫn nhau thì vui biết bao nhiêu không? Chỉ vì ai cũng muốn kiến giải của mình đúng, của người sai mà chẳng chịu tìm ra lí lẽ, chứng cớ nên mới sinh xung khắc. Lẽ ra phở có tiếng thơm là phở đem lại sự giao lưu hòa bình hữu nghị thì lại trở thành đề tài xung đột. Thật đáng tiếc! Nay hai vị ấy đều đã sang thế giới bên kia cả rồi mà câu hỏi Phở Việt ra đời từ Hà Nội hay Thành Nam vẫn là câu hỏi chưa được giải đáp thỏa đáng.
Để tìm hiểu Phở có từ bao giờ, bắt nguồn từ đâu, nhiều người đã đi tìm trong nhiều nguồn sử liệu và các tư liệu dân tộc học và những điều tra dân gian. Mỗi tư liệu, mỗi câu chuyện, mỗi trang sách, áng văn lại cho ta một lối giải thích.
Bằng chứng trong ngôn ngữ học, văn chương và chuyện kể dân gian:
Trước hết, tò mò muốn biết trong các văn tự Việt, từ Phở xuất hiện từ bao giờ. Tôi đành nhờ ông bạn vong niên – nhà nghiên cứu Dân tộc học và Việt học Đinh Trọng Hiếu sống và giảng dạy ở Paris có cả một kho sách và từ điển về văn hóa Việt tra giúp xem từ phở và bánh phở có trong các từ điển xưa ở Việt Nam từ bao giờ và diễn biến ra sao.
Đây là nguyên văn trả lời của Ông Đinh Trọng Hiếu:
Chữ “bánh” ta thường dùng, từ chữ “bính” (Trung Quốc) mà ra. Nhưng không phải bất cứ thứ bánh nào cũng bắt nguồn từ TQ, rất có thể những bánh dùng chất liệu bản xứ thì có nguồn gốc bản xứ.
Chữ “bánh” có mặt trong cuốn Từ điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes (1651), trang 26, với cả những từ như “bánh khô”, hoặc “bánh xe”, “bánh lái”. “Bánh” phải là mốt đồ ăn, đồ vật hình tròn. Bánh dày thì tròn, thế bánh chưng có tròn không ? (Đây là câu hỏi).
Từ “phở” không có mặt trong ngần ấy cuốn từ điển, kể từ 1651 cho đến 1931, với nghĩa là món “phở” hiện nay. Từ “phở” có mặt trong cuốn từ điển của Huình-Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (1896), với nghĩa là “phở lở” = “nổi tếng tăm”, trang 200 ; trong cuốn từ điển Dictionnaire Annamite-Français của Génibrel (1898) với nghĩa là “ồn ào”, trang 614.
Từ “phở” xuất hiện trong cuốn Việt Nam Tự Điển, do Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo, in năm 1931 (NXB Mặc Lâm) : “do chữ phấn mà ra. Món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò: Phở xào, phở tái”, trang 443.
Cuốn từ điển Dictionnaire Annamite-Chinois-Français của Gustave Hue (1937), có ghi từ “phở” như sau : “Abréviation de “lục phở”: phở xào: beignet farci et sauté. Cháo phở: pot-au-feu”, trang 745. Dịch là: “Viết tắt của từ “lục phở”: phở xào: thứ bánh có nhân và được chiên”.
Cuốn từ điển Việt Nam Tự-điển, do Lê Ngọc Trụ hiệu đính (1970, Nhà sách Khai Trí, Sài-gòn), ghi “Phở. Món ăn bằng bột gạo tráng mỏng hấp chín xắt thằnh sợi nấu với thịt bò (do tiếng Tàu “Ngầu-dục-phảnh” tức “Ngưu-nhục-phấn” mà ra: Ăn phở, bán phở”, trang 1169, tập 2).
Như vậy, qua những tư liệu hiện có, ta có thể biết rằng từ phở chỉ món ăn mà ta đang bàn ít nhất đã xuất hiện trongViệt Nam từ điển do Hội Khai trí tiến đức ấn hành vào năm 1931 và các các giải thích của các từ điển muộn hơn như từ diển của Gustave Hue (1937), hay Việt Nam Tự-điển, do Lê Ngọc Trụ hiệu đính (1970, Nhà sách Khai Trí, Sài-gòn), hoặc Từ điển Tiếng Việt TTKHXHNVQG ; Nguyễn kim Thản – Hồ Hải Thụy – Nguyễn Đức Dương – NXB Văn hóa Sài Gòn – 2005… Cho ta thấy lối giải thích khác nhau của các tác giả từ điển. Tựu trung lại, có tác giả cho rằng từ phở là biến âm của từ phấn trong tiếng Tàu và phở là lối rao gọn của món “ngưu nhục phấn” một lối ăn cũng thấy có ở người Nam Trung Hoa. Lại có lối giải thích: Gustave Hue (1937), có ghi từ “phở” như sau: “Abréviation de “lục phở”: phở xào: beignet farci et sauté. Cháo phở: pot-au-feu”, trang 745. Dịch là : “Viết tắt của từ “lục phở”: phở xào: thứ bánh có nhân và được chiên”. Thật chẳng mấy rõ ràng.
Đành rằng lối giải thích phở có thể bắt nguồn từ chữ phấn nói chệch đi nghe có vẻ hợp lí nhưng cũng cần có thêm tài liệu để chứng minh tương tự như việc chứng minh các tiếng rao và tên gọi món ăn đồ uống có nguồn gốc rõ ràng của Trung Hoa như “mì vằn thắn”, “xôi lạp xường” “sủi cảo”, “Tào phớ”, “chế ma phù” ‘nhụ mị” “bát bảo lường xà”, “sáng sáu” “Xì dầu”… mà đọc ra ta có thể dễ dàng suy luận.
Qua các chuyện kể trong dân gian, lại có những lý giải khác về tên gọi của phở như: Phở là tên của một anh bán phở đầu tiên ở Hà Nội. Anh này tên là Phở có gánh hàng bán bánh phở với riêu cua ở Hà nội sau mới chuyển sang bán phở bò:
“ Thoạt tiên những người nghèo từ Nam Định, Hà Đông (cũ) dạt cư lên Hà Nội, kiếm sống bằng nghề kẽo kẹt gánh bún riêu cua dạo theo hè phố. Chỗ nào có khách gọi thì dừng lại bán. Dần dần qua những lần đi dạo, họ chọn một nơi nào đó có đông thực khách thì ngồi lại bên hè phố bày những chiếc ghế gỗ nho nhỏ cho khách ngồi ăn như quanh mâm cơm ở quê nhà. 
Thời ấy, có một người trung niên tầm thước, da ngăm đen, tên là Phở. Vợ ốm, ông Phở thay vợ gánh bún đi bán dạo. Ông thấy ở chợ Mơ, người ta tráng bánh cuốn rất ngon. Ông say sưa nhìn xem người ta tráng bánh quên cả bán hàng. Đổi lại, ông đã học được nghề tráng bánh cuốn. Ông Phở quyết định sắm đồ nghề tráng một ít bánh cuốn không có nhân rồi xắt nhỏ thành từng sợi cho vợ đi bán thử. Không ngờ thứ bánh cuốn xắt nhỏ chan riêu cua lại đông khách. 
Người ta vừa thấy món này lạ miệng, vừa không chua như bún. Từ đây, người Hà Nội có thêm món ăn mới gọi là bún riêu ông Phở. Dần dà gọi luôn là phở Bắc, phở riêu cua, rồi phở thịt gà, phở thị bò hầm chín, phở thịt bò tươi trần nước sôi… Và từ những gánh phở bán rong trở thành những hiệu phở cố định như ngày nay.”
 Theo Dương Duy Ngữ
Trong “Phở Hà Nội”-Sài Gòn Giải phóng thứ Bảy

Lại có người giải thích:
“…Đạo diễn Thế Ngữ là hội viên câu lạc bộ văn hoá ẩm thực của Unesco, thường được mời đi nói chuyện về phở. Là người chính gốc Nam Định, ông từng nghe cha ông và các cụ già ở đây kể lại rằng, những năm đầu thế kỷ 20, người làng Vân Cù, bên kia sông Đò Quan, thuộc huyện Nam Trực xuất hiện tại khu nhà máy dệt Nam Định với những gánh hàng ăn rất lạ để bán cho công nhân: một bên là bếp lửa với nồi nước dùng nấu xương bò, một bên là gióng hàng gồm thịt bò, hành lá, bánh tráng thái nhỏ từng sợi. Những sợi bánh ấy cho vào bát cùng với thịt bò thái mỏng, hành lá cũng thái mịn rồi rắc lên, sau đó châm nước dùng đang sôi vào tô bánh, cho ra một loại thức ăn vừa nhanh, vừa lạ, vừa ngon.
Ban đêm, ánh lửa bập bùng từ những gánh hàng trên phố, thấy lạ, người Pháp ngạc nhiên vừa chỉ chỏ, vừa bảo: Au feu! Au feu! Người Việt đặt tên cho những gánh hàng ấy là phơ, rồi dần dà đổi âm thành phở….”
Võ Đắc Danh
Sài Gòn Tiếp thị xuân 2010
Nhà Văn Tô Hoài và một số tác giả khác đã có dịp qua Trung quốc và ăn ở Trung Quốc cũng có những nhận xét khác nhau về một thứ món ăn gần giống với phở Việt. Mỗi người một ý nhưng tựu trung thì món này chỉ có ở một vài nơi miền Nam Trung Quốc nhưng phong vị thì khác hẳn phở Việt.
Nhà văn Tô Hoài nhận xét:
“…Đầu tiên bên Quảng Đông có món ăn “Ngưu nhục phấn’ (thịt bò, bánh). Sang đến đây thì “ngưu nhục phấn” Hà nội hóa thành phở và phở khác hẳn cái món gốc gác quê hương, mới năm trước, tôi đến Quảng Châu, vào hàng gọi ăn bát phở, thấy nó là bát bánh canh chứ không giống phở. Phở thông thường như ta ăn bây giờ chỉ có ở Hà nội”…
Nhà nghiên cứu Đào Hùng bàn về phở Việt có viết:
 “ Trước hết phải nói rằng xuất xứ của tên gọi “phở” vốn là từ tiếng Trung Quốc “phấn” (fen). Có một số người đã đi xa hơn, qui tên gọi này cho từ “pot-au-feu” của tiếng Pháp được biến âm thành “phơ” của Việt Nam, rồi coi đây là một món ăn có xuất xứ từ món xúp của Pháp (vì người Pháp vốn gọi phở là “soupe chinoise” hay “soupe de Hanoi”). Xin hãy gạt những cách suy diễn tùy tiện đó sang một bên để đi vào vấn đề một cách nghiêm túc hơn. Nói Trung Quốc thì quá rộng, nên khoanh lại là món ăn của miền nam Trung Hoa, chủ yếu là vùng Lưỡng Quảng, địa bàn sinh tụ xưa của người Việt cổ. Vì vậy có thể nói đây là món ăn của người phương Nam, trồng lúa, được làm trên cơ sở bột gạo, khác với món mì sợi của người phương Bắc làm từ lúa mạch hay lúa mì.
Như vậy thì cũng có thể nói phở là món ăn của người Việt phương Nam, bao gồm cả người Lưỡng Quảng lẫn người Việt Nam. Nhưng ở Việt Nam việc chế biến món phở không phải đã có từ xưa như nhiều món ăn truyền thống khác. Nó chỉ xuất hiện khi có cuộc sống đô thị, đầu tiên chỉ có ở những thành phố lớn miền Bắc. Trong dân gian, trong các bữa ăn truyền thống vào dịp lễ tết, không hề thấy bóng dáng của phở, chứng tỏ nó không gắn với những tập tục ăn uống lâu đời của dân tộc. Trong khi đó bún lại là món ăn phổ biến trong mọi nhà, nhất là khi dọn cỗ bàn. Không biết phở được du nhập vào nước ta từ bao giờ, nhưng những người bán phở đầu tiên chỉ xuất hiện ở Hà Nội với những hàng phở gánh. Những người này hay đội chiếc mũ dạ cũ, bạc màu, biến dạng méo mó, nên đã nảy sinh tên gọi những chiếc mũ phớt cũ là “mũ phở”.
Hiện nay ở Trung Quốc vẫn còn món “phấn”, nhưng đó là một món ăn có bánh giống bánh phở của ta (được làm bằng bột gạo, chế biến kỹ hơn nên độ dẻo, độ dai cao hơn), nhưng không ăn với nước dùng, mà ăn với nước xốt nấu từ thịt (lợn hoặc bò). Món ăn này đã truyền sang Việt Nam nhưng chỉ dừng lại ở các tỉnh biên giới phía bắc như Lào Cai, Lạng Sơn, Cao Bằng… để trở thành “phở khô” hay “phở chua”, thường do người Hoa hay người Nùng bán. Nhưng khi đến các tỉnh đồng bằng thì nó lại trở thành món ăn gồm bánh phở, thịt bò thái miếng đặt lên trên rồi chan nước dùng, có điểm thêm các thứ rau thơm như hành, húng… tùy theo người ăƯn.
(Đào Hùng: Phở, một vài khảo sát về mặt lịch sử)
 “Phải nói đây là món ăn Việt Nam một trăm phần trăm, do người Việt Nam sáng tạo trên cơ sở “phấn” của Trung Quốc. Mùi vị của nó cũng là mùi vị quen thuộc của người Việt, đặc biệt sử dụng rau thơm như hành lá, mùi, húng, khi vào Nam còn có thêm mùi tàu (ngò), là những thứ rau thơm quen thuộc của người Việt, không có trong món ăn Trung Quốc.
Ngày nay, nếu đến Quảng Châu, ta vẫn có thể tìm thấy phở, nhưng đấy là phở Trung Quốc, cũng dùng bánh phở nhưng chan nước nấu bằng thịt bò có nhiều mùi vị của thuốc bắc, thứ không giống phở Việt Nam…”
.” Theo điều tra của nhà địa lý học Pierre Gourou, trong những năm 1930, những người bán phở gánh phần lớn xuất thân từ hai vùng là làng Di Trạch thuộc tổng Kim Thìa, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông, và làng Giao Cù thuộc tổng Sa Lung, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Cho đến nay ở hai làng này vẫn còn nhiều người chuyên nấu phở, có người đã đi vào tận Sài Gòn làm ăn, nhiều nhà hàng đã trưng biển là “phở gia truyền Nam Định” cho thấy đây có thể là nơi xuất phát của nghề nấu phở”
(Đào Hùng-Thăng trầm của phở Hà nội)  

 Những lối giải thích dân gian hay các ghi chép khoa học rất thú vị về nguồn gốc từ phở cũng như những lập luận bàn về sự ra đời của phở nói trên là gợi mở cho các đề tài nghiên cứu sâu hơn sau này nhưng quả thật một vài lối lối giải thích này cũng chưa đủ cơ sở để thuyết phục. Riêng tôi, Lối giải thích của nhà nghiên cứu Đào Hùng rằng: “Nói Trung Quốc thì quá rộng, nên khoanh lại là món ăn của miền nam Trung Hoa, chủ yếu là vùng Lưỡng Quảng, địa bàn sinh tụ xưa của người Việt cổ. Vì vậy có thể nói đây là món ăn của người phương Nam, trồng lúa, được làm trên cơ sở bột gạo, khác với món mì sợi của người phương Bắc làm từ lúa mạch hay lúa mì” là có phần hợp lí.
Tôi chưa được tiếp cận với tài liệu nghiên cứu của Pierre Gourou, theo tôi đây là một ghi chép rất quan trọng do một nhà khoa học Pháp thực hiện từ năm 1930 cần khảo cứu.
Trong một nhận xét rất lí thú của nhà văn Vũ Bằng ông có nêu nhận xét của một người bạn:
 Một người bạn đã từng nếm đủ hương vị của tất cả những hàng phở danh tiếng ở Hà Thành khoảng ba mươi năm trở lại đây, một hôm cho tôi biết rằng: “Đến cái năm 1952 này, phở hình như đã tiến tới chỗ tuyệt đỉnh của nó rồi, cũng như một bản nhạc tuyệt kỹ…không chê vào đâu được, nghĩa là không thể thêm một món gì hay giảm một món gì”. (Vũ Bằng: Phở bò, món quà căn bản -1952).
Nhận xét trên lại một lần nữa xác nhận trong những năm 20 của thế kỉ trước, phở đã trở thành món ăn phổ biến của dân Hà Nội. Vậy sự ra đời của nó ở Hà Nội rất có thể sớm hơn năm 1920.
Người Việt xưa gần như rất ít ăn thịt bò. Thịt bò xưa chỉ xuất hiện trong những dịp tế lễ quan trọng trong cung vua hay các gia đình quyền qúy. Tập quán ăn thịt bò dần dần xuất hiện trong đời sống của người Việt là do ảnh hưởng của lối ăn uống của người Pháp đưa vào.
Qua khảo cứu dựa trên nững tư liệu báo chí bằng tiếng Pháp ở Hà Nội xưa của nhà nghiên cứu Đào Hùng, ta có thể thấy được quá trình xuất hiện món ăn thịt bò của người Pháp ở Hà Nội từ những năm thực dân Pháp bắt đầu chiếm Hà Nội ra sao
“Đặc biệt người phương Tây thích ăn thịt bò, trong khi đó người Việt chỉ ăn thịt bò vào những dịp đặc biệt như khi mở hội làng (hồi đó thịt trâu là chính), chứ hàng ngày không mấy khi mổ bò bán ngoài chợ. Việc cung cấp thịt bò cho người Pháp lâu nay vẫn do một nhà thầu đảm nhiệm, nhưng vì giữ độc quyền nên người mua không có quyền lựa chọn. Ngày 5-8-1885, tờ Tương Lai của Bắc kỳ viết rằng: “Người Pháp ở Hà Nội đòi hỏi phải có một cửa hàng thịt, một tiệm giặt là kiểu Pháp, một thợ may, một thợ giầy và những bàn bi-a trong quán cà phê”. Thế là bị nhà thầu phụ trách cung cấp thịt cho quân dội điên tiết lên vì sợ bị cạnh tranh. Ông chủ nhà thầu Albert Billoux bèn gửi cho tòa soạn một bức thư mặn mà như sau: ‘Ông ăn nói lộn xộn. Đòi một cửa hiệu thịt bò! Từ nay ông đi hỏi đâu có cửa hàng thịt bò thì đến mà lấy thịt. Hoặc là ông xin lỗi tôi, hoặc là ông sẽ không có thịt bò và đừng đặt hàng nữa mà vô ích”. Tuy nhiên vài tháng sau, một hiệu thịt bò tư nhân đã mở ra ở phố Hàng Khay, và ông chủ nhiệm báo Tương Lai của Bắc Kỳ lại được ăn thịt bò như cũ…”
Các tư liệu này cho thấy: chỉ từ sau khi người Pháp chiếm đóng Hà Nội thì thịt bò mới trở thành một món ăn ở thành phố này. Vào nững năm 1885, thịt bò còn là một thứ thực phẩm khan hiếm dành cho các quan chức thực dân Pháp ở Hà Nội. Sau này dần dần nó mới tham gia vào thành phần của món ăn Việt. Trước đó người ta chỉ ăn trong các dịp tế lễ khao vọng với món bê thui…

Phở đầu tiên xuất hiện là phở bò và có xuất xứ ở Bắc Việt Nam và lúc đầu nó là thứ quà dành cho người Việt nên nó khó có thể ra đời trước năm 1885 vì lúc đó các quan chức Tây còn không có đủ thịt bò mà ăn nói chi đến người Việt. Ngay cả đến những năm 40-50 của thế kỉ trước, khi phở đã khá thịnh hành và thành món ăn “gây nghiện” cho một tầng lớp người khá giả ở Hà Nội thì việc cung cấp thịt bò ở Hà Nội cũng không phải dư giả cho lắm. trong bài Phở Gà. Nhà văn vũ Bằng đã phải thốt lên:
Ở Hà nội có hai ngày trong tuần mà những người “chuyên môn ăn phở” bực mình: thứ sáu và thứ hai. Hai ngày đó là hai ngày không có thịt bò. Anh nào nghiện thịt bò, nhớ thịt bò hai hôm ấy như gái nhớ trai, như trai nhớ gái.”…(Vũ Bằng – Phở gà)

Trở lại cái chú thích ghi dưới kí họa của họa sỹ Lê Văn Đệ “Người An-nam đi bán rong món súp nấu với phổi, hoặc những miếng thịt bò hạ cấp”, khiến ta có thể suy luận: Phải chăng phở ra đời đầu tiên là từ những loại xương và thịt bò mà người Pháp không có tập quán ăn như phổi bò, thịt bạc nhạc… Những thứ này được bán lại cho người Việt (có thể cả Hoa kiều) để nấu những món ăn gần với món ăn vốn có của dân bản xứ như xáo trâu ăn với bún thuôn hành răm hay canh bánh đa canh với xáo trâu… theo lối dân gian rồi trên cái nền ấy được cải tiến dần thành ra phở sau này. Phở đã có mặt ở Hà nội vào khoảng nững năm 20 của thế kỉ trước và nó không ngừng được cải tiến để trở thành một món ăn độc đáo của người Việt Nam.
Vũ Thế Long
Trong nhiều dòng nghệ thuật khác nhau, các nghệ sỹ trong quá trình sáng tạo luôn không ngừng tìm tòi, khám phá để hình thành nên những trường phái nghệ thuật và cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu có giá trị văn hóa cao.
Phở tái nạm và tái gầu .
Ví như trong nghệ thuật tạo hình, các nghệ sỹ việt Nam trong thế kỉ trước đã tìm tòi từ chất liệu sơn mài cổ truyền để cho ra đời một trường phái nghệ thuật sơn mài hiện đại mang đậm sắc Việt. Nếu chỉ có chất liệu sơn mài và phương pháp cổ truyền thì nghệ nhân xưa chỉ làm ra những hoành phi, câu dối và đồ thờ, đồ mỹ nghệ… không thể gọi là tranh sơn mài được. Chỉ từ khi nhóm thầy trò trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương cùng nhau khám phá, sáng tạo trên chất liệu ấy, cùng với sự tiếp nhận các giá trị hội họa từ phương Tây mà nghệ thuật sơn mài, sơn khắc mới thực sự trở thành một trường phái hết sức độc đáo và có một giá trị to lớn.
Món phở Việt cũng vậy. Cho dù bánh phở, bánh canh, bánh đa đã xuất hiện từ lâu đời. Lối ăn bánh phở chan canh hay xáo trâu , riêu, cá…đã có từ lâu và thịt bò mới dược du nhập vào trong bữa ăn sau này từ truyền thống ăn của Tây phương nhưng nếu không có sáng tạo của người nghệ nhân ẩm thực Việt, không có sự tán đồng và kiểm nghiệm khắt khe của những công chúng thưởng thức sành điệu thì món phở Việt cũng không thể nào hình thành. Họa chăng nó cũng chỉ như cái thứ “Ngưu nhục phấn’ của người Tàu Hoa Nam mà thôi. Bởi vậy, tìm hiểu sự ra đời và phát triển của phở như tìm về một trường phái ẩm thực đặc biệt của chúng ta là một điều rất đáng tìm tòi khám phá.
Trường phái nghệ thuật nào cũng có những tác giả và công chúng của nó. Vậy tác giả của phở là những nghệ sỹ nào? Cho đến nay, qua các bài viết từ xưa để lại và những ghi chép của những nghệ sỹ, nhà văn và công chúng yêu phở, ta có thể nêu đích danh một số tên tuổi những người nấu phở ngon còn được lưu truyền xưa nay. Đây là chủ đề rất thú vị nên cần có những công trình điều tra cặn kẽ. Ở đây, tôi chỉ xin nêu vài tên tuổi của một số người nấu phở danh tiếng đã sưu tầm dược qua vài văn liệu tiêu biểu.
Theo nhà văn Vũ Bằng ghi chép vào năm 1952:
Thời đó, nổi tiếng có anh phở Sứt sáng lập ra món phở giò (lấy thịt bò cuốn lại như cái dăm bông rồi thái mỏng thành khoanh nhỏ điểm vào với thịt).
Phở nhà thương Phủ Doãn ăn được nhưng nước hơi nhạt; phở Đông Mỹ ở Phố Mới ăn êm, nhưng tẩy gừng hơi quá tay; phở Cống Vọng, kéo xe, ngon, nhưng nước dùng hơi hôi; phở mũ đỏ ở đằng sau miếu Chợ Hôm vô thưởng vô phạt, ăn khá, nhưng chưa có gì quyến rũ.
Còn một anh phở nữa là anh phở Tàu Bay lúc đó cũng nổi tiếng lắm; sáng sáng người ta đứng đầy cả ra ở ngã ba đầu Hàm Long, xế cửa sở Hưu Bổng để mà tranh nhau ăn, như thể lúc mới hồi cư, người ta tranh nhau đứng lĩnh ‘bông” sữa, bông vải vậy. thịt mềm, nước dùng đã ngọt, nhưng thật ra chưa có thể gọi là trác tuyệt.
Phải đợi đến lúc hồi cư về ta mới thấy, phong trào phở tiến nhanh và tiến mạnh như thế nào. Họa hoằn về phía chợ Đuổi mới thấy một hai hàng phở xe. Còn thì là phở gánh và phở hiệu…”
“Vào khoảng 1948-1949, phở Phú Xuân ở phố Rixô ăn dược;đồng thời có phở Đông Mỹ, phở Tứ, phở Tư, phở Tàu Bay (bây giờ đã dọn thành cửa hiệu) và một ít hàng nữa mà ta không kể hết…”
“…chúng ta cần bỏ mấy tiếng đồng hồ lên trước cửa trường Hàng Than để quan sát một hàng phở nổi danh nhất bấy giờ; phở Tráng-mà có người yêu mến quá mực đã gọi (chẳng biết đùa hay thực) là “vua phở 1952”…” (trích trong “Phở bò, món quà căn bản – Vũ Bằng- 1952)
 Vũ Bằng cũng nhắc tới một quán phở gánh rất nổi tiếng thời bấy giờ chuyên bán phở gà ở dưới gốc cây si đầu phố Huyền Trân Công Chúa nay là phố Bùi Thị Xuân – Hà Nội)
Nhà văn Tô Hoài cho rằng:
“… Thoạt đầu chỉ có phở chín – phở bò, phở trâu. Đến những năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai mới thêm phở gà – không được rõ nguyên nhân sinh phở gà, có lẽ hồi ấy kém đói thiếu trâu bò…” (Phở- Tô Hoài).
Trên một số bài báo gần đây, người ta có điểm lại nhưng hiệu phở nổi tiếng ở Hà Nội như: …Người ta cũng đã kể rõ lai lịch của từng ông chủ hiệu phở và cuộc đời bảy nổi ba chìm của nhiều dòng phở lận đận vào Nam ra Bắc rồi sang cả Hàn quốc, Nga. Mỹ Úc, Pháp, Đức… kinh doanh.
Phở chín ngon hay không do người thái thịt.
Mỗi dòng phở có cả lịch sử của nó và mỗi dòng một khác có những hương vị riêng, biến tấu gia giảm theo đủ cách, có cung cách phục vụ riêng. Những tác giả khác nhau đã làm nên những dòng phở mang đậm cá tính của người nghệ nhân ẩm thực. Nơi thì nước dùng trong vắt, nơi thì nước phở đậm, béo, ngọt .
Nơi thì kén thịt , kén chỗ ngồi tươm tất, nơi thì khói lửa bùng bùng ngồi chen ngồi chúc. Có ông bán phở mặc áo blu trắng Bác sỹ vừa bán vừa hát ca trù, nhớ từng mặt khách lạ khách quen. Nơi thì mặt lạnh tanh kiêu ngạo không hé răng nửa lời nhưng tay thoăn thoắt chiều ý từng vị khách đã nhẵn mặt theo từng sở thích…Các nghệ nhân phở Việt là thế.
Phở từ Hà Nội về nông thôn theo kháng chiến chống Pháp. Phở về vùng tản cư, đi theo người lính ra trận rồi theo dân Bắc vào tận Sài Gòn rồi ra nước ngoài…Tùy theo cái môi trường, cái hoàn cảnh kinh tế và thăng trầm xã hội với những công chúng đủ loại khác nhau mà phở lan tỏa đi khắp nơi.
Vỉnh Bảo sưu tầm 8h  22/7/2012