Thứ Năm, 23 tháng 5, 2013

THƯỚC ĐO NGƯỜI TU





Tr thay chua 9THƯỚC ĐO NGƯỜI TU

Nhân ngày Lễ Phật Đản, chúng ta thử tham khảo dùng “thước đo” những người tự nhận mình đang tu đạo : tại gia hay xuất gia.
Nhiều người tu lâu năm, thường đi chùa, ăn chay, ngồi thiền, niệm Phật, làm công quả, theo học giáo lý với nhiều thầy nổi tiếng, nhưng bấy nhiêu đó có đủ để chứng minh là người này tu khá, tu đúng và đưa đến giải thoát hay không ?
Có những người tu chỉ thích đến chùa làm công quả, hoặc thích tạo chùa to, tượng lớn. Có người thích nhiều chùa, đông đệ tử. Có người thích học lấy nhiều bằng cấp thế gian. Có người thích nổi tiếng, v.v… Những cái đó có phải là tu không ?
Sau đây là những tiêu chuẩn tối thiểu và căn bản để nhận xét một người tu đúng hay không ?
1/. Còn ham thích tài sản, danh lợi và sắc dục hay không ?
2/. Còn dễ nổi sân hay không ? Khi gặp chuyện trái ý thì có giận dữ, bực tức hay không ?
3/. Còn kiêu căng ngã mạn hay không ? Còn thích khoe khoang, điều khiển kẻ khác. Thích được khen ngợi, tâng bốc hay không ?
4/. Còn chấp vào thầy tôi hay pháp môn của tôi là hay hơn hết ? Tâm tư hẹp hòi, ưa chia rẽ, bè phái.
Tr thay chua 2Nếu còn 4 điều trên thì dù đã tu 30, 40 năm, ngồi thiền nhập định 6, 7 tháng, tu đủ loại pháp mônThiền, Tịnh, Mật, tụng làu làu đủ loại kinh chú, có hàng ngàn đệ tử, viết hàng trăm cuốn sách, người này vẫn chưa tu đúng theo đạo Phật!
Ngoài ra một người tu cần phải có ít nhất những đức tính sau đây :
1/. Biết làm phước, bố thí : Có những người học (đọc) nhiều kinh sách, hiểu biết giáo lý,nói đạo rất hay, nhưng không biết làm phước, bố thí, mà lại keo kiệt, bỏn sẻn, bo bo bám chặt vào tài sản, tiền bạc của mình.
2/. Nói lời ái ngữ : Có người học đạo lâu năm mà không giữ gìn khẩu nghiệp, ăn nói xả láng, chê bai, chỉ trích, vu khống, bịa đặt, phỉ báng kẻ khác.
3/. Từ, Bi, Hỷ, Xả : Thiếu 4 đức tính này thì không phải là kẻ tu hành!
Nếu chưa có những đức tính này thì cũng chưa biết tu hoặc tu chưa đủ để sửa đổi tâm tánh.Yên Huỳnh post 


Tứ vô lượng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tứ vô lượng (zh. 四無量, sa. catvāryapramāṇāni, pi. catasso appamaññāyo), là "bốn trạng thái tâm thức vô lượng", còn được gọi làTứ phạm trú (zh. 四梵住, sa. caturbrahmavihāra), "bốn cách an trú trong cõi Phạm" hay gọi là Tứ vô lượng tâm và gọi tắt là Từ bi hỷ xả. Là thuật ngữ chỉ một phép thiền định, trong đó hành giả tạo điều kiện cho bốn tâm thức cao thượng phát sinh. Bốn tâm vô lượng là:
  1. Từ vô lượng (sa. maitry-apramāṇa, pi. metta-appamaññā)
  2. Bi vô lượng (sa. karuṇāpramāṇa, pi. karuṇā-appamaññā)
  3. Hỉ vô lượng (sa. muditāpramāṇa, pi. muditā-appamaññā)
  4. Xả vô lượng (sa. upekṣāpramāṇa, pi. upekkhā-appamaññā).
Bốn tâm này đối trị bốn phiền não là sân hận, ganh tị, buồn bực và tham muốn. Trong Đại thừa, Bốn tâm vô lượng cũng được gọi là hạnh Ba-la-mật-đa (sa. pāramitā, Lục độ). Đó là tâm thức của Bồ Tát muốn cứu độ chúng sinh. Thực hành Tứ vô lượng, thiền giả sẽ tái sinh tại cõi Thiên (sa. deva).
Phật Thích-ca Mâu-ni giảng về phép thiền định này như sau:
“Có bốn vô lượng. Hỡi các tỉ-khâu, một người tràn đầy tâm từ (bi, hỉ, xả) sẽ phóng tâm đó đi một phương, hai phương, ba phương, bốn phương, rồi phía trên, phía dưới, xung quanh mình. Người đó phóng tâm đi khắp thế giới, chiếu rọi khắp nơi với tâm từ (bi, hỉ, xả), tâm thức vô lượng vắng bóng sân hận và phiền não.”
Từ vô lượng
Còn gọi là Tâm từ, từ tâm, lòng từ. Là cái gì làm cho lòng ta êm dịu hay tâm trạng của người bạn tốt, là lòng thành thật ước mong tất cả chúng sanh đều sống thật sự an lành hạnh phúc.
Bi vô lượng
Bi được định nghĩa là động lực làm cho tâm người tốt rung động trước sự đau khổ của kẻ khác, hay là cái gì thoa dịu niềm khổ đau sầu não của người khác, của chúng sinh.
Hỉ vô lượng
Là tâm hoan hỷ, vui thích với hạnh phúc của người khác, trước sự thành công của một chúng sinh. Tâm Hỷ có chiều hướng loại trừ lòng ganh tỵ.
Xả vô lượng
Là lòng buông xả, không câu chấp. Là có chánh niệm và chánh định, hoặc suy luận vô tư, tức không luyến ái cũng không ghét bỏ, không ưa thích cũng không bất mãn.



  TÌM HIỂU KINH PHÁP CÚ (DHAMMAPADA)  
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương Xuất Bản -  2006
TỨ VÔ LƯỢNG TÂM: 
TỪ, BI, HỶ, XẢ       Ðức Phật khuyên dạy chúng sinh hãy chăm tu tập “Tứ Vô Lượng Tâm”, tức là “bốn món tâm rộng lớn không lường được”, đó là các tâm “Từ, Bi, Hỷ, Xả”. Phật dạy hãy mở rộng bốn tâm này, không hạn chế, cho tất cả các loài hữu tình ở khắp bốn phương. Đây là những đặc tính giúp con người trở nên tốt đẹp, hoàn thiện, là lối sống của bậc thánh. Nếu mỗi người tự cố gắng thực hành “tứ vô lượng tâm”, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc v.v… thì mỗi người sẽ trở thành một công dân lý tưởng trong một thế giới hòa bình, an lạc.
     Đạo Phật thường được gọi là đạo từ bi, đạo cứu khổ. Ở đâu có Đạo Phật, ở đó có tình thương. Phương châm tu tập của Phật Giáo là từ, bi, hỷ, xả. Người Phật tử lấy từ, bi, hỷ, xả làm nền tảng cho sự phát triển thánh hạnh; tâm từ bi được coi là tâm Phật. Trong quá trình truyền giáo, Đạo Phật chưa bao giờ gây chiến tranh hay đổ máu, thông điệp tình thương cứu khổ, giúp đời đã được Đức Phật tuyên thuyết ngay từ thời kỳ sơ khai thành lập giáo đoàn. Bốn món tâm rộng lớn không lường được nói trên nếu của Phật và các vị Bồ tát thời được xưng là “Đại từ, Đại bi, Đại hỷ, Đại
xả”.                                                            
     Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Đức Phật dạy người Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm. 
TÂM TỪ
     “Từ” là lòng lành giúp ích cho người, lòng thương yêu, thường đem vui cho tất cả chúng sinh. “Tâm từ” là cái gì làm cho lòng êm dịu, là lòng mong ước cho tất cả chúng sinh đều được an lành vui vẻ. Tâm từ là lòng mong mỏi chân thành của người bạn hiền muốn cho bằng hữu mình được an vui hạnh phúc. Ngược lại với tâm từ là lòng “sân hận”. 
     Tâm từ không phải là sự yêu thương thiên về xác thịt, về tình dục, cũng không phải là lòng trìu mến vị kỷ, lòng luyến ái đối với người nào. Tâm từ không phân biệt kẻ thân người sơ, không dành riêng cho tình đồng chí, không dành riêng cho tình đồng chủng, cũng không dành riêng cho tình đồng hương hay đồng đạo. Hơn nữa tâm từ không phải chỉ nên có giữa người và người mà phải bao trùm tất cả chúng sinh, bởi vì, loài cầm thú cũng cần đến sự giúp đỡ và tình thương.
     Nói tóm lại, tâm từ bao la, rộng rãi, trải ra đồng đều đối với chính mình cũng như đối với những người thân cận, dù không quen biết, dù có ác cảm với mình. Người thực hiện từ tâm đến mức độ cùng tột sẽ thấy mình đồng hóa với tất cả chúng sinh, không còn sự khác biệt giữa mình và người. Cái gọi là “ta” không còn nữa. Mọi sự chia rẽ đều biến mất như đám sương mù tan trong nắng sáng. Vạn vật trở thành một, đồng thể, đồng nhất.
     Khi tâm từ xuất hiện thì lòng sân hận, ác ý, thù oán không thể phát sinh. Đức Phật dạy chỉ có tâm từ mới dập tắt được lòng sân. Không những dập tắt được lòng sân, tâm từ còn diệt được các mầm tư tưởng bất thiện. Nhìn thái độ của loài người đối với hận thù, Ðức Phật đưa ra nhận xét là tình thương sẽ chinh phục được lòng sân hận. Ðể giảng hòa một cuộc tranh chấp giữa hai tiểu bang đang giành nhau nước dưới con sông làm ranh giới, Ðức Phật dạy:
 (Pháp Cú 197)
Ở ngay giữa đám nhân sinh
Dù người hờn oán, nếu mình thảnh thơi
Sống không thù hận cùng người
Thật là sung sướng, cuộc đời thơm hương.
     Nhưng có lòng từ ái đối với người khác không có nghĩa là phải quên mình. Lúc Ðức Phật sắp nhập Niết Bàn, các đệ tử từ bốn phương xa gần tấp nập về đảnh lễ Ngài. Chỉ có một thầy Tỳ kheo, thay vì làm như các vị khác, lại rút về tịnh thất chuyên cần hành thiền. Khi được hỏi về thái độ ấy, thầy trả lời vì trong ba tháng nữa Đức Phật sẽ nhập diệt nên thầy nghĩ rằng để tỏ lòng quý trọng Ngài, việc làm tốt đẹp nhất là thành tựu đạo quả A La Hán lúc Ngài còn tại tiền. Ðức Phật ngợi khen thầy và nhấn mạnh là “Không nên vì mục tiêu của người khác mà lãng quên mục tiêu, sự an lành của chính mình. Hãy nhận định rõ ràng mục tiêu của mình và lập tâm thành đạt mục tiêu ấy”:
 (Pháp Cú 166)
Chớ vì lợi ích cho người
Mà quên lợi ích cho nơi chính mình
Mục tiêu giải thoát tử sinh
Ai lo lợi ích cho mình chớ quên
Quyết tâm đạt được cho bền.
     Không nên hiểu lầm là Đức Phật dạy ta nên ích kỷ, chớ có phục vụ kẻ khác một cách vị tha, bất cầu lợi. Trái lại Đức Phật chỉ nhấn mạnh rằng trong khi phục vụ lợi ích cho người cũng đừng quên mục tiêu tự giải thoát cho chính mình. Mình có giác ngộ và giải thoát rồi sau đó đi giúp kẻ khác mới hữu hiệu được hơn.
TÂM BI
     “Bi” là lòng thương xót cứu khổ, thương dứt trừ đau khổ cho hết thảy chúng sinh. Bi là động lực làm cho tâm rung động trước sự đau khổ của kẻ khác. Đặc tính của “tâm bi” là ý muốn giúp người khác thoát khỏi cảnh khổ.
     Tâm bi là vị thuốc có thể tiêu trừ bệnh hung bạo. Lòng của người có tâm bi thật là mềm dịu. Lắm khi người có tâm bi không ngần ngại hy sinh đến cả tính mạng. Chính do nơi tâm bi mà con người có thể hoàn toàn vị tha trong khi phục vụ kẻ khác, giúp mà không bao giờ mong đền ơn, đáp nghĩa.
     Đối tượng của tâm bi là những kẻ nghèo đói, túng thiếu, đau ốm, cô đơn dốt nát, hư hèn và cả những  người có đời sống buông lung, phóng đãng tội lỗi. Tâm bi phải bao trùm tất cả chúng sinh đau khổ, rất bao la và bình đẳng. Như Đức Phật xưa kia đã từng tế độ cho một người phụ nữ lạc bước giang hồ và cho cả một tên sát nhân tàn ác, toan hại Ngài. Về sau, cả hai đều theo Ngài và hoàn toàn đổi tính. Bên trong mỗi người, dù xấu xa thế nào cũng ngầm có những tính tốt. Đôi khi chỉ có lời nói phải, đúng lúc, cũng có thể làm đổi hẳn con người. Như vua A Dục ngày xưa, tàn bạo đến nỗi, người đời bấy giờ gọi là “A Dục, con người tội lỗi”. Thế mà, khi nghe được lời nói phải của một thầy Sa di trẻ tuổi, ông đổi hẳn lại tính tình, mạnh tiến trên con đường tự giác và trở thành “A Dục, con người hiền đức”. Ta nên nhận định rằng, tâm bi của Phật giáo không phải là giọt nước mắt nhỏ suông gọi là thương xót. Kẻ thù gián tiếp của tâm bi là “âu sầu, phiền não”.              
     Tâm từ và tâm bi thường đi chung với nhau. Trước hết phải dùng tâm bi để trừ giùm đau khổ cho chúng sinh, rồi kế đó dung tâm từ mà cho họ niềm vui. Như thế, cái vui mới được hoàn toàn. Vậy “bi” là nhân mà “từ” là quả. Người sống có tâm từ bi, có tình thương thì mọi hận thù trên thế gian này sẽ tiêu tan.
     Một người có hai bà vợ. Một bà có con và một bà không. Bà không con đem lòng ganh tị, trộn thuốc độc vào thức ăn của bà kia, hại bà kia hai lần hư thai. Ðến lần thứ ba, thuốc độc làm cho bà kia đang có mang cùng chết với đứa bé. Bà kia khởi tâm cương quyết báo oán và thực hành ý định. Bà không con bị trả thù, cũng quyết tâm trả thù lại. Thù oán trả qua trả lại, hết bà này đến bà kia, qua lại trong hai kiếp sống liên tục. Tuy nhiên, đến kiếp tái sinh thứ ba, cơ hội đưa đẩy hai bà cùng đến gặp Ðức Phật và sau đó nhờ Ngài khuyên giải mà hận thù được chấm dứt:
(Pháp Cú 5)
Khắp nơi trong cõi dương gian
Hận thù đâu thể xua tan hận thù
Chỉ tình thương với tâm từ
Làm tiêu oán hận, giải trừ hờn căm
Đó là định luật ngàn năm.
     Cô hầu nhỏ của một ông chồng nọ bất chợt đem lòng ganh tị bà vợ lớn. Một lần cô đem đổ bơ nóng lên đầu bà nhưng bà không giận mà còn giải lòng từ bi đến cô, nguyện rằng mình không sân hận, khiến cho bơ nguội lạnh, bà không bị phỏng. Về sau, cô hầu nhỏ ăn năn hối hận và xin sám hối. Bà bảo cô phải lên xin sám hối với Ðức Phật trước bà mới bằng lòng quên lỗi. Cô làm theo lời bà và được Ðức Phật khuyên rằng “Hãy lấy tình thương mà chế ngự tâm sân, lấy chân thật khắc phục giả dối”:
(Pháp Cú 223)
Lấy từ bi, lấy ôn hòa
Thắng cơn nóng giận bùng ra thét gầm
Lấy hiền lành, lấy thiện tâm
Thắng lòng hung ác bất nhân khó lường
Lấy tâm bố thí cúng dường
Thắng hàng keo kiệt, thắng phường tham lam
Lấy chân thật để đập tan
Những trò hư ngụy, dối gian ở đời.
TÂM HỶ
     “Hỷ” là lòng vui, tự mình vui và mừng giùm cho người được điều thiện. Hay muốn nói cho đủ là tùy hỷ: vui theo, cùng vui với người khác. Phản nghĩa của hỷ là “ưu phiền”. Hỷ không phải là trạng thái thỏa thích suông, cũng không phải là cảm tình riêng đối với một người nào. Hỷ là lòng cùng vui thích với người khác khi họ có hạnh phúc hay họ được thành công, nhất là khi sự thành công ấy tiến về nẻo thiện, hướng đến mục đích giải thoát.
     Lòng “ganh tị” là kẻ thù trực tiếp của hỷ. Nhiều người lấy làm bực tức khi thấy người khác thành công hay vui khi thấy người khác thất bại. Chính tâm hỷ làm tiêu tan lòng ganh tị đó. 
     Người có tâm hỷ sẽ trực tiếp hưởng nhiều lợi ích do tâm ấy đem lại cho mình hơn cả người khác. Nếu so sánh với tâm từ và tâm bi, tâm hỷ lại càng khó thực hiện. Muốn có tâm hỷ, phải có ý chí mạnh mẽ và hết sức cố gắng. Để tạo sự an vui, hạnh phúc trong đời sống cá nhân cũng như tập thể và vươn mình lên sống đời trong sạch, cao thượng, người Phật tử nên thực hành tâm hỷ.
     Một Sa di, con của người gác cửa, nói xấu về tâm bố thí của tất cả các thiện tín đến chùa, từ đại thí chủ như ông Cấp Cô Độc đến vua Ba Tư Nặc, ngoại trừ những người có họ hàng với chú. Đề cập đến bà con mình thời chú nói: “Ô! Nhà của bà con tôi cung cấp đầy đủ cho các Sa môn tứ phương!”. Vài vị Sư khác muốn tìm hiểu, điều tra và khám phá ra sự thật. Khi các vị này bạch lại vớí Đức Phật về tác phong thấp hèn của chú Sa di, Đức Phật dạy “Người nào đem lòng khen chê, bất mãn và đố kỵ về những phẩm vật bố thí thì tâm người ấy chưa được an tịnh. Người bỏ được tính đố kỵ, ganh ghét và không so đo hơn thua thì tâm lúc nào cũng an tịnh”: 
 (Pháp Cú 249)
Do lòng tin, bởi niềm vui
Người người bố thí, nơi nơi cúng dường
Kẻ mà tâm xấu buông lung
Thấy ai được hưởng, trong lòng ghét ganh
Ngày đêm sẽ mãi quẩn quanh
Không hề an tịnh tâm mình được lâu.
(Pháp Cú 250)
Chỉ riêng người hiểu pháp mầu
Nên lòng ganh ghét trước sau diệt trừ
Ngày đêm hương đạo thơm đưa
Cõi lòng an tịnh, tâm tư thanh nhàn.
TÂM XẢ
     “Xả” là lòng buông xả ra mọi vật của mình cho tất cả chúng sinh không phân biệt kẻ oán người thân. Xả là bố thí, bỏ đi, không chấp, không ghi giữ trong lòng. Xả là trông thấy đúng đắn, nhận định chân chính, suy luận vô tư, tức là không ghét bỏ cũng không luyến ái; không ưa thích cũng không bất mãn. Phản nghĩa của “tâm xả” là “cố chấp”.
     Người cao thượng luôn giữ tâm bình thản trước sự khinh rẻ, phỉ báng, nguyền rủa. Giữa cuộc thăng trầm của thế gian đó, Đức Phật dạy ta nên luôn bình thản, hành tâm xả, vững chắc như tảng đá sừng sững giữa trời, vững như voi, như mãnh hổ. Ví như gió thổi ngang màn lưới mà không bị vướng trong lưới, tuy sống giữa chợ người mà ta không luyến ái những lạc thú hão huyền và vô thường của cuộc đời. Như hoa sen từ bùn nhơ nước đục vươn lên, chúng ta cũng vượt lên bao nhiêu quyến rũ của thế gian để sống trong sạch, tinh khiết, luôn luôn bình tĩnh và an vui.
     Kẻ thù trực tiếp của xả là “luyến ái” và kẻ thù gián tiếp của tâm xả là sự “lãnh đạm”. Tâm xả lánh xa lòng tham ái và trạng thái bất mãn. Thái độ vô tư, thản nhiên, an tịnh là đặc tính quan trọng của tâm xả. Người có tâm xả không thích thú trong vui sướng cũng không bực tức trong phiền não. Người có tâm xả đối xử đồng đều giữa kẻ tội lỗi và bậc thánh nhân. Đức Phật luôn khen ngợi, khuyến khích hàng đệ tử thực hành tâm xả.
     Xả có bốn thứ. Nếu đem cho người ta đồ vật, của cải thời gọi là “tài xả”. Nếu đem giáo pháp, giáo lý cho người thời gọi là “pháp xả”. Nếu đem đức không sợ hãi cho người thời gọi là “vô uý xả”. Còn tự mình xả bỏ tất cả các mối phiền não thời gọi là “phiền não xả”.
     Một Tỳ kheo có thói xấu hay moi móc lỗi lầm của người khác để chê bai. Đức Phật dạy “Nếu có ai nói rõ lỗi lầm của người khác và chỉ dạy cho họ cách sửa chữa lại thì đó chẳng phải là một hành động xấu ác đáng chê trách. Trái lại nếu có kẻ nào luôn luôn chỉ trích chỗ sai lầm của người khác với ý định hiểm độc để nói xấu thời những người như thế không bao giờ đạt được giác ngộ mà chỉ có sự ô nhiễm tăng trưởng trong họ mà thôi”:
(Pháp Cú 253)
Nếu ta thấy được lỗi người
Tâm ta nóng giận tức thời dễ sinh
Tăng thêm phiền não thật nhanh,
Xa lìa an tịnh, quẩn quanh muộn sầu,
Lỗi người chẳng để tâm lâu
Còn chi sầu muộn, còn đâu não phiền
     Vài thầy Sa di không biết nên theo phá khuấy một vị A La Hán khả kính vì thân hình ngài nhỏ bé thấp lùn. Khi được biết vị thánh tăng tính tình hiền hòa, chẳng hề tức giận, vẻ mặt luôn bình thản, không chút xao động, Ðức Phật dạy rằng chư vị A La Hán giữ mình luôn luôn bình thản trước những lời tán dương hay khiển trách:
(Pháp Cú 81)
Gió nào lay núi đá cao
Và người trí lớn khác nào núi kia
Tiếng đời trần tục khen chê
Tán dương, phỉ báng, dễ gì động tâm.
     Theo lời mời của một vị Bà La Môn, Ðức Phật và các môn đệ Ngài đến an cư kiết hạ tại làng của ông ta. Nhưng Đức Phật và các Tỳ kheo lắm lúc bị bỏ lửng, không được chăm sóc đến, vì vị thí chủ này lãng quên, hơn nữa dân làng địa phương lúc đó đang bị nạn đói kém trầm trọng. Đức Phật và các Tỳ kheo trong thời gian đó phải dùng lúa cho ngựa ăn được cúng dường bởi các người buôn ngựa, nhưng không có ai vì đó mà buồn ý, vẫn tinh tấn tu tập. Ðến khi trở về tịnh xá Kỳ Viên các ngài được cung cấp thực phẩm chu đáo nhưng cũng không vì đó mà tỏ ra thỏa thích quá độ. Ðức Phật lưu ý rằng người thiện trí vượt lên trên mọi xúc động thường tình, không bao giờ bồng bột, cũng không bao giờ để tinh thần suy sụp, luôn bình tĩnh trước mọi việc xảy ra:
 (Pháp Cú 83)
Người lành thường mãi lìa xa
Mọi điều dục lạc bỏ qua chẳng bàn,
Người hiền trí gặp vui buồn
Dù đầy hạnh phúc, hay tràn khổ đau
Không hề dao động trước sau
Tinh thần luôn vững, há nào mừng lo.
     Một bà tín nữ có ý muốn thỉnh năm vị Tỳ kheo lão thành  về nhà trai tăng. Nhưng tịnh xá lại cử đi năm vị Sa di trẻ tuổi đến nhà bà thọ thực. Bà thí chủ chỉ muốn thỉnh những vị Tỳ kheo nên bà không vui, tỏ vẻ không tôn kính và không dâng cúng vật thực đúng thời khiến các vị Sa di bị đói khát. Về sau bà mới nhận ra phẩm hạnh của các vị Sa di, mặc dầu không được tiếp đãi nồng hậu, vẫn không hề tỏ ra bất mãn. Khi nghe thuật lại câu chuyện, Ðức Phật dạy:
(Pháp Cú 406)
Tỏ ra thân thiết chân tình
Giữa người thù nghịch quanh mình gần xa,
Tỏ ra thiện chí ôn hòa
Với người tính khí thật là hung hăng,
Không còn luyến ái vương mang
Bên người cố chấp buộc ràng vây quanh,
Bà La Môn thật xứng danh.
     Một ông vua lấy làm thất vọng và âu sầu vì đã bị bại trận ba lần. Ông không thắng nổi kẻ địch là người cháu gọi mình bằng cậu. Người cháu đó là vua A Xà Thế. Ông vua bại trận bỏ cả ăn uống, cứ nằm dài mãi trên giường. Ðức Phật luận về hậu quả không hay của cả người thắng lẫn kẻ bại, dạy rằng muốn an vui, chớ ham tranh thắng bại. “Kẻ chiến thắng gây thêm thù hận. Còn người thất trận phải chịu khổ đau ảo não”. Sống an hòa là thái độ tốt nhất:
 (Pháp Cú 201)
Khi mà thắng lợi vẻ vang
Sinh ra thù oán ngập tràn. Nguy thay!
Khi mà thất bại chua cay
Sinh ra đau khổ chất đầy tâm can!
Chi bằng thắng bại chẳng màng
Cuộc đời tịnh lạc, bình an vô cùng.   
     Hỷ và xả là hai hạnh lành, có tương quan mật thiết, làm nhân làm quả cho nhau. Xả làm nhân cho hỷ, nghĩa là muốn vui theo với người, muốn làm cho người vui, thì trước tiên mình phải đừng chấp, phải xả bỏ những điều ngang trái, những điều thiệt thòi sỉ nhục mà người khác đã làm cho ta.
     Trong các truyện về “Tiền thân Đức Phật” ta thấy Ngài từng xả bỏ thân mạng mà cứu giúp chúng sinh. Khi được làm Bồ Tát trên cung trời Đâu Suất, Ngài xả bỏ các sự vui sướng nơi thiên cung mà giáng sinh cứu thế. Trước kia khi còn là một hoàng tử sắp lên ngôi vua, Ngài xả bỏ tất cả đền đài cung điện, châu báu ngọc ngà, vợ đẹp con khôn, quyền cao chức trọng để mà một thân một mình ra đi tu hành khắc khổ.
     Người tu hành phải tập xả dần, xả tất cả. Con tằm sở dĩ thành bướm bay lượn đó đây, vì nó đã rời bỏ cái kén, dù đó là một cái kén bằng tơ vàng óng ánh, ấm áp, đẹp đẽ mịn màng vô cùng. Nhưng xả mà còn buồn rầu tiếc nuối cho cái mà mình đã bỏ đi thì xả như thế không có ích gì. Xả phải đi đôi với hỷ. Phải xả với vẻ mặt hân hoan, vui mừng như người tù khi tháo gỡ xiềng xích.


Từ Bi Hỷ Xã Nghĩa Là Gì ?

Thế nào là Từ Bi Hỷ Xã ?



Từ Bi Hỷ Xả là Tứ Vô Lượng Tâm , điều cơ bản mà người Phật tử nên có. Sao gọi là Tứ Vô Lượng Tâm? . đó là bốn tư tưởng trong tâm , vô lượng là không có hạn lượng, có nghĩa là không bỏ dở nửa chừng, Thật ra, Từ Bi Hỷ Xả không có lúc nào là đủ cả. Chúng ta nên mở rộng, tăng cường cho đến khi đạt được cảnh giới hoàn toàn chí thiện mới thôi.

1. Tâm Từ có thể cho niềm vui. là dùng lòng từ bi đối xử với những không có duyên với mình. Chúng ta không những thông cảm ,thương yêu những người gặp hoàn cảnh khó khăn, mà chúng ta cũng nên thông cảm với cả loài động vật trong hoạn nạn ,. Phật Giáo lấy từ bi làm hoài bảo, là dùng cửa phương tiện để tiếp nhận chúng sinh.

2. Bi có thể bạt trừ khổ. Chúng ta có thể bạt trừ sự đau khổ Chúng ta nên có tư tưởng “đồng thể đại bi”, cũng tức là thấy người chết chìm như chính mình bị chết đắm, thấy người đói như chính mình bị đói. Phật giáo lấy bi làm tông chỉ, vì bi là lòng lân mẫn, thương xót.

3. Hỷ là tâm vui vẻ. Chúng ta luôn luôn hoan hỷ vui tươi yêu mến cuộc sống

4. Xả là tâm buông xả. Xả cái gì? Là phát tâm cho chúng sinh, bạt trừ cái khổ , giúp người nào đó thoát khỏi cảnh nguy khốn. chúng ta đừng nên chấp vào đó lưu giữ mãi trong tâm thức mông muốn được đền đáp trả ơn. Khi xong việc rồi là quên đi và bỏ hết tất cả, . Nếu chúng ta chấp mà không quên được, thì đó không phải là hạnh nguyện của Bồ Tát. Chúng ta nên có tinh thần thi ân bất cầu báo, như vậy thì mới được xem là người Phật tử chân chính.

Thiên tâm .

(Các) nguồn

http://www.thientam.vn/index.php?nv=News…

TỪ BI HỶ XẢ
Từ là không sợ hãi khổ đau mà phải biết ôm ấp nỗi đau của ta và của người để chăm sóc, khiến cho chúng không có loang lỗ ra trong tâm thức ta và trong đời sống của ta.

Ta phải chăm sóc nỗi đau của ta và của người, bằng tất cả trái tim hiểu biết và thương yêu của ta một cách chân tình. Ta chăm sóc những nỗi đau như vậy mỗi ngày qua bước đi, hơi thở, nụ cười và cách nhìn mọi sự hiện hữu, hay cách nghe mọi âm thanh trần thế, chắc chắn những nỗi đau của ta hay những nỗi đau của người sẽ trở nên lành lặn.

Bi là không tránh né khổ đau mà chạm trán với khổ đau bằng con mắt trầm tĩnh, bằng một trái tim nhiệt tình, bằng cái nhìn thấy sâu lắng và chính xác đối với những tập khởi khổ đau và với đôi bàn tay nhẹ nhàng mà cương quyết trong hành động để đào xới và bứng tận gốc rễ của chúng.

Nên, Bi là chất liệu giúp ta và mọi người vượt thoát mọi gốc rễ của khổ đau. Bởi vậy, Bi là chất liệu đánh bạt mọi nguyên nhân gây khổ, thiết lập và tái tạo tâm thức bình an cho ta và cho tất cả mọi người.

Trong tâm hồn ta, thiếu chất liệu của Bi, thì mọi hạnh phúc đến với ta chỉ là những hạnh phúc hư ảo, chỉ là những hạnh phúc có đó mà không đó.

Hỷ là không đàn áp những người có khả năng yếu kém so với ta và không kỳ thị hay khiếp đảm đối với những người có khả năng vượt trội hơn ta.

Hỷ là chất liệu loại trừ những hạt giống mặc cảm tự ty và tự tôn nơi ta, khiến cho ta có khả năng tùy thuận đối với những gì tốt đẹp và hạnh phúc xảy ra từ người khác.

Ganh tỵ là một trong những chất liệu làm vẩn đục tâm ta, khiến cho đời sống của ta trở nên chật hẹp và khó khăn, nên Hỷ là chất liệu xóa sạch những vết bẩn của ganh tỵ đang hiện hành nơi tâm ta, khiến tâm ta hoạt động trong sự tương vui, rộng lớn và trong sáng.

Nên, Hỷ là chất liệu giúp ta vượt thoát gốc rễ của khổ đau, và khiến ta có khả năng động viên, phát huy những điều tốt đẹp từ người khác.

Trong tâm hồn ta thiếu chất liệu của Hỷ, ta không thể có chất liệu đồng cảm chân thực đối với người, ta không có khả năng thân cận với một người tốt để học hỏi và ta không có khả năng làm thay đổi những người kém may mắn hơn ta.

Nên, trong tâm ta thiếu chất liệu của Hỷ, ta là người sống trong cô độc và chết trong cô đơn, ta đẩy hạnh phúc đi về phía chân trời xa lạ.

Xả là tích cực hành động theo Từ, theo Bi, theo Hỷ mà không có thủ lợi. Chất liệu của Xả giúp ta vượt thoát mọi hoạt động có cơ tâm, của thất vọng, hận thù và oán trách, đem lại sự an toàn cho tâm hồn ta và cho những người mà ta thương yêu.

Trong tâm hồn ta, thiếu chất liệu của Xả, chúng sẽ tạo ra trăm mối ngổn ngang cho đời sống của ta, nên ta bị quá khứ lôi kéo, khiến ta hoàn toàn không có tự do với quá khứ; ta bị tương lai cuốn hút, khiến ta không có tự do với tương lai và ta bị hiện tại cột chặt, khiến ta bị mất chủ quyền đối với hiện tại, và nếu trong tâm hồn của ta thiếu chất liệu của Xả, thì ta ở nơi đây là ta bị cột chặt ở đây; ta ở nơi kia là ta bị cột chặt ở nơi kia và ta tiếp xúc với bất cứ cái gì, thì ta sẽ bị cái đó trói buộc ta, khiến ta không có tự do đối với mọi thời gian, đối với mọi không gian và đối với mọi sự hiện hữu.

Nên, Xả là chất liệu giúp ta có giải thoát và tự do ngay trong mọi hành động của ta.

Tâm Xả của ta càng lớn, thì sự tự do của ta càng nhiều, và tâm Xả của ta vô lượng, thì hạnh phúc của ta là vô cùng và tình yêu của ta trở thành vô tận.

Bởi vậy, trong đời sống của ta mà thiếu chất liệu của Xả, thì ta làm bất cứ cái gì, ta sẽ bị cái đó trói buộc, ta sẽ bị khổ đau và thất vọng bởi cái đó.

Thiếu chất liệu của Xả, không những khiến cho đời sống của ta bị chết ngột bởi tài sản, bởi nhận thức mà còn khiến cho ta bị chết ngột bởi tình cảm.

Nếu một người tu tập tịnh độ, tâm của họ thiếu chất liệu của Từ, Bi, Hỷ, Xả thì cảnh giới tịnh độ của họ là cảnh giới của đất cát khô cằn hay là những nghĩa địa u buồn mất trắng cả linh hồn.

Nếu một người tu tập thiền, mà tâm của họ thiếu chất liệu của Từ, Bi, Hỷ, Xả thì cảnh giới của họ chỉ là những núi đá đứng trống trơ sừng sững và chai lỳ, hoàn toàn mất hết mọi cảm giác và tuệ giác.

Và, nếu một người chuyên gia bố thí, mà tâm họ thiếu chất liệu của Từ, Bi, Hỷ, Xả thì chỉ làm chồng chất thêm những bất công cho xã hội và khổ đau của con người.

Nên, Từ - Bi - Hỷ- Xả là chất liệu cần phải có trong mọi hành động của ta, trong mọi lời nói của ta và trong mọi ý nghĩ của ta, khiến cho hạnh phúc của ta từ đó mà sinh khởi và lớn lên.

Hạnh phúc của ta sinh khởi và lớn lên từ nơi tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả của ta mới là hạnh phúc chân thực.

Hạnh phúc và an lạc chân thật của ta phải sinh khởi từ nơi đó, mà không phải sinh khởi từ bất cứ nơi nào.

Sáu quan năng của ta là những điều kiện biểu hiện của một tâm hồn có hạnh phúc hay của một tâm hồn đau khổ mà không phải là nguyên nhân của hạnh phúc hay khổ đau.

Nguyên nhân của hạnh phúc và an lạc là chất liệu Từ, Bi, Hỷ và Xả ở nơi tâm của mỗi chúng ta và nguyên nhân của khổ đau thì ngược lại!
4/. Khiêm cung và lễ độ . Càng tu thì cái ngã phải nhỏ dần và biết cung kính tôn trọng kẻ khác, nhất là các bậc trưởng thượng.



Triết lý của Phật giáo: Từ - Bi - Hỷ - Xả
Phật giáo Việt Nam là Phật giáo được bản địa hóa khi du nhập từ Ấn Độ vào Việt Nam, Phật giáo Việt Nam mang những đặc điểm khác biệt so với Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo của các nơi khác trên thế giới. Phật giáo là tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng nhất ở Việt Nam. Sau khi tìm hiểu về triết lý Từ - Bi - Hỷ - Xả, xin chia sẻ về ý nghĩa của điều này về chính sự tương đồng với triết lý sống "CHO là NHẬN" mà VUNGTAUCONNECT theo đuổi và thực hiện trong xuyên suốt quá trình phát triển.


1. Từ có nghĩa là có thể cho niềm vui. Mỗi người đều có thể những món quà tặng để giúp người khác có thêm niềm vui cho dẫu bạn chẳng có gì thì vẫn còn đó những món quà vô giá mà tạo hóa ban tặng cho tất cả chúng ta (đọc thêm bài Những món quà vô giá). Nếu như chúng ta không có "từ", không dùng hết lòng "từ" đó là một sự bất hạnh, một sự cô đơn vô hạn.

2. Bi tức là có thể bạt trừ khổ. Chúng ta có thể bạt trừ sự đau khổ của mọi người không? Nếu không thể, thì đó là vì chúng ta chưa dùng hết lòng bi của mìmh. Trong khi các nhà Nho nói rằng “bi thiên mẫn nhân” lại cũng phù hợp với ý nghĩa trên. Do đó mà biết rằng tư tưởng của thánh nhân trong thiên hạ đều giống nhau, như cùng xuất phát theo vết bánh xe, là không tách rời lòng trắc ẩn xót thương. Phật giáo chủ trương từ bi, Nho giáo đề xướng trung thành và tha thứ. Tâm tâm tương đồng, đấy là cốt tủy của tôn giáo, nếu không thì là dị thuyết của ngoại đạo.

3. Hỷ là tâm vui vẻ. Chúng ta có vui vẻ, hoan hỷ cuộc sống này hay không? Chúng ta có ưu sầu, buồn phiền hoặc tâm tư bực bội không? Nếu quả là có ưu sầu, buồn phiền và bực bội thì hãy mau sửa đổi, đừng để tình trạng đó phát triển.

4. Xả là tâm buông xả. Chúng ta có tâm buông xả không? Nếu có, thì là lớn hay nhỏ? Là nhất thời hay là vĩnh viễn? Xả cái gì? Là phát tâm cho chúng sanh sự vui vẻ, bạt trừ cái khổ của chúng sanh và giúp người trong cảnh nguy khốn. Làm được như thế, chúng ta sẽ sanh lòng hoan hỷ đến mức vô hạn, nhưng chúng ta đừng nên chấpvào đó. Làm xong việc rồi là quên hết tất cả, chớ đừng lưu giữ trong tâm thức, mà đỏi hỏi sự trả ơn. Nếu chúng ta chấp mà không quên được, thì đó không phải là hạnh nguyện của Bồ Tát. Chúng ta nên có tinh thần thi ân bất cầu báo, như vậy thì mới được xem là người Phật tử chân chánh. Thi ân bất cần báo nó cũng là cái triết lý của tư tưởng "CHO là NHẬN", bởi lẽ khi cho ta tức là ta đã nhận rồi, nhận niềm vui, nhận lấy cái hạnh phúc của người khác rồi vậy.

Cái triết lý của Phật giáo hướng con người đến sự lương thiện, rèn luyện nhân thân để hướng cuộc sống đến sự tốt đẹp hơn. Và đó cũng là cái triết lý chung của tất cả học thuyết - cái triết lý sống "CHO là NHẬN" ấy.

Bài viết dựa trên tư liệu của Bồ Đề Hải - Vạn Vật Thánh Thành.
Tại địa chỉ website: http://www.dharmasite.net/bdh67/TuBiHyXa.html



Từ bi của Phật giáo & đạo đức nhân loại

THỨ SÁU, 15 THÁNG 7 2011 07:52 HIẾU THẢO
InPDF.

Phật giáo vào Việt Nam lúc nào thì “từ bi” xuất hiện vào lúc ấy. Nói đúng hơn, Phật giáo hay “từ bi” cũng chỉ là một. Phật giáo ra đời không ngoài mục đích giải thoát chúng sinh, giải thoát nhân loại khỏi khổ đau. Có khổ đau mới có “từ bi”, có “từ bi” mới có Phật giáo. 




Quán vô lượng thọ kinh chép: “Tâm của chư Phật là tâm đại từ bi” (Chư Phật tâm giả, đại từ bi thị 诸佛心者大慈悲是). Đại trí độ luận giải thích thêm: “Hết thảy những điều trong Phật pháp, từ bi là quan trọng nhất” (Nhất thiết chư Phật pháp trung từ bi vi đại 一切诸佛法中慈悲为大)…

“Từ bi là gốc rễ của đạo Phật” (Từ bi thị Phật đạo chi căn bản 慈悲是佛道之根本). Phật giáo hay "từ bi" đến với Việt Nam khác với Trung Quốc. Trung Quốc dựa vào Nho, Đạo và các học thuyết có lịch sử lâu đời chẳng kém gì Phật giáo ở Ấn Độ để "lĩnh hội" vị khách từ Tây Trúc viếng thăm này. Tứ khố toàn thư tổng mục đề yếu, quyển 117 cho rằng Phật giáo chẳng có gì mới cả: “Giáo lý của nhà Phật, về “thanh tịnh” thì có nguồn gốc ở Lão Tử, về “từ bi” thì có nguồn gốc ở Mặc Tử” (Nhiên Phật thị chi giáo, kỳ thanh tịnh thủ chư Lão, kỳ từ bi thủ chư Mặc 然佛氏之教其请净取诸老其慈悲取诸墨)(1).

Có lẽ nên so sánh những điểm dị đồng giữa các học thuyết hơn là khẳng định cái này từ cái kia mà ra. Việt Nam không có điều kiện để so sánh như vậy, ba giáo gần như du nhập cùng một lúc. Lấy giáo lý để "lĩnh hội" giáo lý như Mâu Tử trong Lý hoặc luận không phải là “sở trường” của Việt Nam. Phật giáo vào Việt Nam từ dưới lên chứ không phải từ trên xuống như ở Trung Quốc(2). Cho nên ba giáo “đồng nguyên” ở Việt Nam là “đồng nguyên” ở tiêu điểm văn hóa truyền thống nhân ái, “thương người như thể thương thân”. Nói cách khác là “từ bi” của Việt Nam đã “bắt gặp” “từ bi” của ba giáo (3). Ba giáo “đồng nguyên” ở thời Lý-Trần là “từ bi thực hành” được lý thuyết hóa. Sự thống nhất giữa “từ bi” bên trên và “từ bi” bên dưới đã tạo thành sức mạnh phi thường trong lịch sử chống ngoại xâm cũng như xây dựng đất nước. Nói cách khác, “đồng nguyên” giữa ba giáo xuất phát từ lợi ích, từ tinh thần dân tộc chứ không phải từ lợi ích, từ quyền lực của giai cấp thống trị.

Nếu như “từ bi” trong truyện dân gian Quan Âm Thị Kính bị lãng quên hay bị đánh mất thì có nghĩa là xã hội đang đứng trước ngã ba đường về giá trị đạo đức, văn hóa. Với 788 câu thơ lục bát của truyện Quan Âm Thị Kính có thể tóm lại trong một chữ, đó là chữ “từ” (câu 624). Ôi! chữ “từ” của “một thời để nhớ” là chữ “từ” gắn liền với truyền thống văn hóa dân tộc, còn chữ “từ” “một thời để quên” là chữ “từ” bị che lấp bởi đồng tiền và quyền lực.
Như vậy là chữ “từ” hay “từ bi” có lịch sử của nó, ở mỗi thời đại khác nhau nó được nhận thức và thực hành theo nhiều cách khác nhau.
“Từ bi” là “từ” và “bi”, là hai đức tính (tinh thần) cơ bản trong bốn đức tính mà Phật giáo gọi là “tứ vô lượng” (Caturapramana) hay còn gọi là “tứ vô lượng tâm” 四无量(4). Theo Câu xá luận, quyển 29, “vô lượng” 无量nói về đối tượng vô lượng, bao quát mọi chúng sinh, không hạn chế một ai cả (vô lượng chúng sinh无量众生) và hiệu quả vô lượng, lợi ích đem lại cho chủ thể cũng như khách thể đạo đức là vô cùng lớn lao (vô lượng phúc quả无量福果).
Bốn đức tính đó gọi là "từ" 慈, (Skt: Maittri", Pali: "Metta"; "bi" 悲 (Skt, Pali: Karuna); "hỷ" 喜 (Skt, Pali: Mudita); "xả" 舍 (Skt: Upeksa, Pali: Upekkha)(5). Kinh Tập giải thích: “Từ” là lòng mong muốn đem lại lợi ích và an lạc cho người khác. “Bi” là hy vọng nhằm loại trừ những khổ đau không có lợi cho người khác hoặc có hại cho người khác” (Từ thị lợi ích hòa an lạc tha nhân đích tâm nguyện. Bi thị trừ khử bất lợi tha nhân hoặc hữu hại tha nhân chi khổ chi hy vọng 慈是利益和安乐他人的心愿,悲是除去不利他人或者害他人之苦之希望).
Phật học Đại từ điển Đinh Phúc Bảo định nghĩa “tứ vô lượng” là “bốn đức tính của Phật Bồ tát gồm từ, bi, hỷ, xả. Tâm niệm đem lại niềm vui cho người khác gọi là “từ”, tâm niệm làm cho người khác bớt khổ đau gọi là “bi”, vui mừng vì chúng sinh được an lạc, tránh khổ đau gọi là “hỷ”, tâm niệm đối với chúng sinh không tính toán thân, sơ, đối xử với mọi người bình đẳng như nhau gọi là “xả” (Phật Bồ tát từ, bi, hỷ, xả chi tứ đức dã. Dữ lạc chi tâm vi từ, bạt khổ chi tâm vi bi, hỷ chúng sinh ly khổ hoạch lạc chi tâm viết hỷ, ư nhất thiết chúng sinh xả hận thân chi niệm nhi bình đẳng nhất như viết xả 佛菩萨慈悲喜舍之四德也,与乐之心为慈,拔苦之心为悲,喜众生离苦获乐之心曰喜,于一切众生舍恨亲之念而平等一如曰舍).
Thông thường, "từ" vẫn được hiểu là "đem lại niềm vui" (dữ lạc 与乐), "bi" có nghĩa là "giảm bớt khổ đau" (bạt khổ 拔苦). Nhưng không phải ai cũng hiểu như vậy. Chẳng hạn Vãn sinh luận chú lại cho rằng: “Giảm bớt khổ đau cho người khác gọi là “từ”, đem lại niềm vui cho người khác gọi là “bi”” (Bạt khổ viết từ, dữ lạc viết bi 拔苦曰慈,与乐曰悲). Niết bàn kinh, quyển 14, cũng cùng kiến giải: “Giảm bớt những gì không có ích lợi cho chúng sinh gọi là “đại từ”, đem lại niềm vui vô hạn cho chúng sinh gọi là “đại bi”” (Vi chư chúng sinh trừ vô lợi ích thị danh đại từ, dục dữ chúng sinh vô lượng lợi lạc thị viết đại bi 为诸众生除无利益是名大慈,欲与众生无量利乐是名大悲).
Như vậy là “từ” được hiểu là “bi” và “bi” lại được hiểu là “từ”. Cái nọ thành cái kia và cái kia thành cái nọ. Nhưng thực ra “từ” và “bi” cũng là hai mặt của một vấn đề, cho nên gọi là “đại từ”, “đại bi” hay “đại từ bi” cũng thế mà thôi. Thậm chí chỉ cần một chữ “từ” cũng đủ rồi, bởi vì “từ là mẹ của mọi đức tính” (Từ vi nhất thiết đức chi mẫu, Nhân Vương kinh 慈为一切德之母,仁王经). Metta sutta có thể gọi là Từ kinh hay Từ bi kinh cũng chẳng có gì khác nhau. Cũng như “ngũ thường” của Nho giáo bao gồm “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” nhưng gọn lại chỉ cần một chữ “nhân” là đủ.
“Từ” của Phật giáo thường được ghép với “ái” 爱 - "từ ái" 慈爱. "Nhân" 仁là cốt lõi của Nho giáo, "nhân" cũng là "nhân ái" (Nhân, nhân ái dã, Mặc Tử, Kinh thuyết hạ仁,仁爱也). "Nhân ái" là "yêu người" (Nhân giả ái nhân, Mạnh Tử, Ly lâu hạ). “Ái” (Love) cũng là một trong ba mỹ đức của thần học và cũng là một trong ba cương lĩnh của Đức Chúa Giê-su(6). Như vậy phải chăng “yêu thương mọi người”, “yêu thương nhân loại” là tiêu điểm của Phật giáo, Nho giáo và Cơ Đốc giáo?
Nhưng “tình thương” hình như vẫn đang bị bóng đen của “hận thù” và “dục vọng vô bờ” che lấp. Mahatma Gandhi, vị Thánh của người Ấn Độ, đã từng sống và kêu gọi mọi người hãy sống theo tinh thần “chấp trì chân lý” (Satyafraha), nghĩa là từ bi, tình thương và phi bạo lực (Ahimsa): “Linh hồn bao gồm cả trí tuệ. Ngọn lửa của lòng từ bi bùng cháy trong nó. Nếu một ai đó tổn thương ta bằng vô minh thì ta thắng họ bằng tình thương” (Collected Work of Mahatma Gandhi).
Mahatma đã cảnh báo về “bảy sai lầm lớn đối với nhân loại” (Seven Blunders of the World) (ông có bổ sung thêm sai lầm thứ tám). Nhưng chẳng bao lâu sau đó ông bị hành thích và nghe đâu trước khi từ giã cõi đời ông còn đưa tay lên trán tỏ ý khoan dung cho kẻ đã hành thích mình. Có thể trích ra đây một vài sai lầm mà ông đã phê phán:
“Của cải mà không tự mình làm ra”,
“Hưởng lạc mà vô lương tri”,
“Tri thức mà không có phẩm hạnh”,
“Buôn bán làm ăn mà không có đạo đức”,
“Khoa học mà không có nhân tính”,
“Quyền lợi mà không có trách nhiệm”…
(Wealth without work,
Pleasure without conscience,
Knowledge without character,
Commerce without morality,
Science without humanity,
Rights without responsibility)…
Như vậy thì hạnh phúc của con người được giải quyết bằng đạo đức, bằng từ bi hay là bằng bạo lực? Hầu như ít ai đồng tình bạo lực đem lại hạnh phúc. Nếu như vậy thì con người đâu có hơn gì con vật? Nhưng con người cũng là con vật kia mà! Tính người đâu đã dễ dàng gì chiến thắng tính động vật. Đức tính “từ bi” cao cả của lý tính e rằng còn lâu mới có thể thuyết phục nổi “nắm đấm” của những con người công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chẳng trách học trò của Khổng Tử lại dám lên tiếng chê học thuyết nhân ái của thầy là “không thực tế” (vu khoát). Còn Khổng Tử thì tự an ủi rằng biết thừa là học thuyết của mình không thực thi được nhưng vẫn cứ làm. Có lẽ ông hy vọng rằng một ngày nào đó trên trái đất, “nhân ái” của ông sẽ chiếm được ưu thế chăng? Giá như ông sống lại ở thế kỷ XXI này thì ông sẽ thấy mọi việc chẳng có gì khác xưa, thậm chí có khi còn tệ hại hơn là đằng khác.
Thuyết “nhân ái” nổi tiếng của Khổng Tử gồm hai nguyên tắc gọi là ‘trung” 忠và "thứ" 恕. Khổng Tử giải thích "trung" như sau: "Nếu ta muốn đứng được trong xã hội thì nên làm cho người khác cũng đứng được như vậy, ta muốn được thành đạt thì nên làm cho người khác cũng thành đạt như vậy" (Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân, Luận ngữ, Ung Dã 己欲立而立人己欲达而达人). "Thứ" nghĩa là: "Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác (Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân, Luận ngữ, Nhan Uyên 己所不欲勿施于人). Nhưng giữa "trung" và "thứ" thì Khổng Tử vẫn xem trọng "thứ" hơn là "trung". Tử Cống hỏi thầy rằng liệu có câu nói nào mà suốt đời cần phải theo hay không? Khổng Tử đáp đó là "thứ", nghĩa là "cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác" (Kỳ thứ hồ, kỷ sở bất dục vật thi ư nhân, Luận ngữ, Vệ Linh Công 其恕乎!己所不欲勿施于人).
Cũng không có gì khó khăn lắm để tìm thấy những câu tương tự như thế trong Kinh Thánh. Trong Tân ước có câu: “Những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Do to others what you would have them do to you) (Matthew 7:12). Tân ước, Phúc âm Luca (Gospel of Luke 6: 31) cũng có câu tương tự như vậy. Cựu ước cũng có câu tương tự như “thứ” của Nho giáo: “Điều gì con không thích thì cũng đừng làm cho ai cả” (Do not do to others what you would not like to do) (Tobias 4:15). Hobbes trong tác phẩm Leviathan, khi đề cập về nhà nước cũng đề cập đến “nguyên tắc vàng” (Golden Rule) nói trên.
Thực ra “nguyên tắc vàng” còn xuất hiện ở nhiều kinh điển tôn giáo trên thế giới. Chẳng hạn như: “Bất kỳ ai làm cho người khác những gì mà mình không muốn thì kẻ đó không xứng đáng là tín đồ”, Islam giáo (Bốn mươi Thánh huấn 13). “Nhân loại nên lấy đạo lý của mình để đối xử với kẻ khác”, Jaina giáo,(Sutrakritanga, 11). “Không thể lấy đạo lý mà mình không thích để làm cho người khác. Đó là bản chất của đạo đức”, (Mahabharata, XIII, 114, 8).
“Nguyên tắc vàng” phổ biến như vậy cho nên “Tuyên ngôn đạo đức toàn cầu” (Declaration Toward a Global Ethic)(7) xem đó như là điểm đồng quy của đạo đức nhân loại: “Hàng nghìn năm qua, rất nhiều tôn giáo và truyền thống đạo đức của nhân loại đều duy trì một nguyên tắc, đó là “cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”. Điều đó cần phải trở thành nguyên tắc tuyệt đối vô điều kiện, thiên cổ không thay đổi trong mọi lĩnh vực của đời sống, bao gồm gia đình và xã hội, các chủng tộc, các quốc gia, các tôn giáo”.
Đó là điểm tương đồng giữa đạo đức và văn hóa của phương Đông và phương Tây. Tuy nhiên, ngay ở điểm tương đồng này cũng đã có dị biệt, dị biệt giữa Đông và Tây đã đành mà còn cả dị biệt giữa phương Đông và phương Đông nữa. Kinh Thánh, hay văn hóa phương Tây thường tách biệt giữa con người và tự nhiên, giữa chủ thể và khách thể, cho nên có phần thiên về “trung” hơn là “thứ”. Cho nên “nguyên tắc “thứ” của Khổng Tử bị xem là có phần tiêu cực, còn “trung” mới là tích cực. Nhiều học giả lại cho rằng “thứ” mới là cơ bản, còn “trung” mà phương Tây đề cao có thể lại là nguyên nhân của chủ nghĩa nhân loại trung tâm, châu Âu trung tâm, cá nhân trung tâm, chân lý bản vị… Cái gì mình thích, cái gì mình cho là đúng thì nên hoặc bắt mọi người cũng thích và cũng cho là đúng như mình.
Nói vậy thôi chứ nguyên tắc “thứ” của Khổng Tử có phải ai cũng khen hết đâu! Chưa chắc cái gì mình thích thì người ta cũng thích, cái gì mình không thích thì người ta cũng không thích? Cho nên “suy bụng ta” không phải lúc nào cũng “ra bụng người”. Nhưng dầu sao “hễ ta không muốn thì người chẳng ưa”, nghĩa là đừng “đụng” đến người khác có lẽ còn hơn là “hễ ta đã muốn thì người phải ưa”.
Xuất phát điểm “từ bi” của Phật giáo không phải từ chủ thể để đến với khách thể, không phải từ “suy bụng ta” để “ra bụng người”. Đã là “vô ngã” thì làm sao “suy bụng ta” được? “Từ bi” của Phật giáo không khiên cưỡng đem “muốn” hay “không muốn” của mình áp đặt cho người khác(8). Cơ sở của “từ bi” không phải là chủ nghĩa kinh nghiệm, cảm tính. Cho dù “vô ngã” ở Phật giáo nguyên thủy chủ yếu là phê phán “vị ngã” trên bình diện đạo đức, nhưng từ thuyết duyên khởi Nagajruna đã tiến thêm một bước thống nhất giữa “vô ngã” và “tính không”, giữa đạo đức và triết học. Cơ sở của “từ bi” không phải là kinh nghiệm mà là triết lý “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi” 无缘大慈同体大悲 , nghĩa là "đại từ" là do nhận thức được "duyên" là "không" (vô duyên), "đại bi" là do lãnh ngộ chúng sinh và bản thân cùng một gốc (đồng thể). Cho nên đạo đức và trí tuệ, hay "bi" và "trí" trở thành yêu cầu không thể thiếu của Đại thừa. A la hán 阿罗汉 (Skt: Arhat) là hình tượng của Tiểu thừa, chủ yếu là tự độ, tự giải thoát, thịnh hành nhất ở thế kỷ thứ II-III trước Tây lịch. Bồ tát 菩萨hay Bồ-đề-tát-đỏa 菩提萨缍, Bồ-đề-tát-đa 菩提萨多, Skt: Bodhisattva, Pali: Bodhisatta, mới thực sự là hình tượng của Đại thừa(9). “Bodhi” nghĩa là trí tuệ, Satva nghĩa là chúng sinh hữu tình. Cho nên “Bồ tát” được dịch là “giác ngộ chúng sinh hữu tình” (Giác hữu tình 觉有情). Bồ tát bao gồm "trí tuệ" và "từ bi", thể hiện của "từ bi" lại là "bố thí". "Bố thí" được xếp ở hàng đầu của Lục độ. Bố thí có nhiều hình thức, nhiều phương pháp, nhiều cấp độ nhưng Du già sư địa luận (Yogacarabhumi-sastra) chia “bố thí” làm ba loại: “tài thí”, “pháp thí” và “vô uý thí”. “Bố thí” không phải chỉ là hành vi lợi người, thiệt mình mà là hành vi tự lợi, lợi tha. Thậm chí không phân biệt chủ thể và khách thể, không phân biệt giữa người bố thí và người được bố thí. Kinh Kim cương cũng đã từng lưu ý điều đó: “Bồ tát cứu độ không biết bao nhiêu là chúng sinh nhưng thực ra chẳng có chúng sinh nào được cứu độ cả” (Bồ tát diệt độ vô lượng chúng sinh thực vô chúng sinh đắc diệt độ giả 菩萨灭度无量众生实无众生得灭度者).
Hoàn toàn không có sự phân biệt giữa người “cứu độ” và người được “cứu độ”, cho nên “từ bi” hay “bố thí” không có thân, sơ, trên dưới mà là “bình đẳng nhất như”.
Khen cho ai đã chuyển từ “dộc thiện kỳ thân” sang “thiện cùng đại thiên hạ”. Vĩ đại thay cho ai đã từng tuyên bố: “Ta không vào địa ngục thì còn ai vào địa ngục? Chừng nào địa ngục còn chúng sinh thì ta thề không thành Phật” (Ngã bất nhập địa ngục thùy nhập địa ngục? Địa ngục bất không thệ bất thành Phật,Địa Tạng Bồ tát bản nguyện kinh 我不入地狱谁入地狱?地狱不空誓不成佛)(10). Như vậy là Phật không phải chỉ ở Niết bàn mà còn ở địa ngục, ở nơi mà chúng sinh cần đến người hơn bất cứ nơi nào trên cõi đời này!
“Nhân ái” của Nho giáo dựa trên cơ sở huyết thống để phân biệt thân sơ, dựa vào địa vị xã hội để phân biệt trên dưới (xem Lễ ký, Lễ vận). Phạm vi “nhân ái” của Nho giáo chủ yếu là con người chứ không bao quát mọi chúng sinh, mọi sinh vật như “từ bi” của Phật giáo. Cho nên quan hệ giữa con người và tự nhiên của Phật giáo có phần hài hòa hơn là “thiên nhân hợp nhất” của Nho giáo. “Từ bi” của Phật giáo cũng không đặt con người vào vị trí trung tâm vũ trụ hay con người được Chúa sinh ra là để cai quản muôn loài như Cơ Đốc giáo. Như vậy là hành tinh xanh đang cần đến “từ bi” và “từ bi” cũng đang hướng về hành tinh xanh!
Không có hành tinh xanh thì cũng không có sinh vật, không có sự sống và cũng không có con người. “Từ bi” vô lượng hay “tứ vô lượng tâm” của Phật giáo chẳng phải với mục đích cao cả đó sao? Tuy nhiên, cái gọi là “tình thương” của Phật giáo đối với chúng sinh không hoàn toàn giống như “bác ái” của Cơ đốc giáo hay “nhân ái” của Nho giáo. Thậm chí có người cho rằng Phật Thích Ca chưa bao giờ kêu gọi “bác ái” như Cơ đốc giáo cả. Rắc rối có lẽ là tại chữ “ái” mà ra. Chỉ có một chữ “ái” nhưng lại được dịch từ nhiều chữ Sanskrit, Pali khác nhau trong kinh điển Tiểu thừa và Đại thừa (nhất là Tiểu thừa) thì làm sao mà không rắc rối được?
Chữ Sanskrit hay Pali được dịch ra chữ Hán là “ái” 爱, nhưng "ái" lại có nghĩa rộng hơn "Love" tiếng Anh hay "Liebe" tiếng Đức. "Ái" trong kinh điển Phật giáo nói chung chia làm hai loại: loại chỉ đức tính tốt và loại chỉ tính xấu, gọi là ô nhiễm, chấp trước. Ví dụ như Skt, "sneha" có nghĩa là cha mẹ thương (ái) con (Xem Phật sở hành tán), “Preman” là tình yêu cao thượng (từ này có ngoài đời từ lâu) hay Pali, Pema có nghĩa là tình bằng hữu (Xem Pháp cú kinh)… Đó là những từ chỉ đức tính tốt. Còn những từ có tính ô nhiễm cũng được dịch là “ái”, ví dụ như Pali, Chanda, có nghĩa là ham thích (Xem Tạp A hàm kinh), Skt, anunaya, trsyamana (Xem Trung luận), Skt, trsna, Pali, tanha, có nghĩa là ham muốn (Xem Câu xá luận và Tạp A hàm kinh)… đều là những từ thuộc vào loại “chấp trước” cần phải loại trừ. Như vậy có thể thấy chữ “ái” được dịch từ kinh điển Phật giáo chủ yếu là chữ “ái” không biểu thị đức tính tốt mà thường ngược lại. Ngay ở “Tứ diệu đế” hay “Thập nhị nhân duyên”, “ái” và “dục” là những từ đồng đẳng, được xem là nguyên nhân cơ bản của khổ đau. “Ái-dục” là yêu thích, là ham muốn chiếm đoạt những đối tượng do nhân duyên hợp thành, không có tự tính, thực ra là ảo, là không tồn tại.
Cho nên “từ bi” của Phật giáo không hoàn toàn giống như “bác ái” của Cơ Đốc giáo hay “nhân ái” của Nho giáo cũng là lẽ đương nhiên(11). Có lẽ vì vậy nên Nagajruna đã chia “từ bi” thành ba mức độ: chúng sinh duyên众生缘, pháp duyên法缘 và vô duyên无缘. "Chúng sinh duyên" là từ bi, bố thí cho chúng sinh những nhu cầu thông thường thiết yếu đối với cuộc sống. "Pháp duyên" là từ bi đối với đối tượng đã lãnh hội được mọi sự vật là do nhân duyên hợp thành. "Vô duyên" là từ bi đối với đối tượng đã lãnh hội được "duyên" (nhân duyên) cũng là không, là vô. Để lãnh ngộ được điều đó, "từ bi" hay "bố thí" không thể thiếu trí tuệ. "Bi-trí" trở thành đặc điểm của Đại thừa. Lục Ba-la-mật 六波罗蜜 (Skt: Satparamita) đặt "bố thí" ở hàng đầu và cả năm điều đầu tiên đều thuộc về "bi", nhưng điều sau cùng không thể thiếu lại là "tuệ". Cho nên "bi" thiếu "tuệ" sẽ mất phương hướng, "tuệ" thiếu "bi" thì "tuệ" sẽ mất sức sống.
Phật giáo Việt Nam thời Lý-Trần đã kết hợp cao độ giữa "bi" và "trí" nhưng càng về sau hình như thiên về "bi" hơn là "trí". Phải chăng là do một trong những đặc điểm gọi là "thiết thực" của dân tộc Việt Nam đã tác động? "Thiết thực" là không xa rời thực tế, không kinh viện, không lý luận suông, nhưng lại có xu hướng xem thường lý luận. "Quyền lực" thường được đặt ở vị trí cao hơn cả "bi" lẫn "trí", nói cách khác, "bi" và "trí" thường không thống nhất với quyền lực. Sở dĩ như vậy là vì "quyền lực" là thiết thực của thiết thực. Có quyền lực thì làm gì mà chẳng được, có quyền lực thì muốn gì mà chẳng có. Quyền lực mới là mục đích, "bi-trí" chỉ là phương tiện. Cho nên "từ bi” và "Bồ tát" trở thành đối tượng của cầu đảo ở các lễ hội. Thay vì Quan Thế Âm Bồ tát và "từ-bi-hỷ-xả" chỉ là một thì nay hình tượng của ngài lại được đồng nhất với tiền tài, lợi lộc, thành đạt, thăng tiến…
"Từ bi" của Phật giáo thời Lý-Trần là đỉnh cao của "bi-trí" - "đạo đức" và "trí tuệ, của Phật giáo Đại thừa và cũng là của dân tộc, của nhân loại.
Thời đại văn minh vật chất, GDP được xem như là giá trị, là mục tiêu tối cao đã và đang đẩy đạo đức nhân loại trở về quá khứ. "Con người kinh tế", "con người văn minh dã man" càng ngày càng trở thành "người mẫu" hiện đại, còn con người thì ngày càng được “kính nhi viễn chi”. Chủ nghĩa GDP giàu mạnh đang lạc lối trước cửa ngõ của “trái tim của thế giới không có trái tim” và đang cách xa thế giới tâm linh của con người. Quyền lực, pháp chế, chế tài… hình như đang nhường chỗ tình yêu thương con người cho các tôn giáo, “từ bi” của Phật giáo cũng ở trong số đó. Nếu “từ bi” của Phật giáo là đạo đức của dân tộc, của nhân loại thì môi trường sống sẽ không phải chết, quan hệ giữa con người sẽ là quan hệ con người chứ không phải là quan hệ chó sói. Quan hệ giữa người và người là quan hệ “từ bi”, là “bi” và “trí”. “Từ bi” tồn tại cùng với nhân loại và nhân loại sẽ tồn tại cùng với “từ bi”.
------------

(1) Xem Tứ khố toàn thư tổng mục đề yếu, quyển 117, Tử bộ tạp gia loại, Mặc Tử, quyển 15.
(2) Những giả thuyết Phật giáo từ Ấn Độ vào Trung Quốc thường được bắt đầu từ các vị vua như Hán Vũ Đế, Hán Minh Đế, Tần Thủy Hoàng… Chùa Bạch Mã đầu tiên ở Trung Quốc xây dựng ở Lạc Dương là do lệnh của Hán Minh Đế (Xem Lý hoặc luận của Mâu Bác). Cao tăng truyện, Phật Đồ Trừng truyện ghi chép Hán Minh Đế để cao tăng Ấn Độ dựng chùa ở Lạc Dương nhưng cấm người Hán xuất gia.
(3) Phật giáo: “Từ”, “Bi”, “Hỷ”, “Xả”; Nho giáo: “Nhân nghĩa”, “Nhân ái” (Luận ngữ, Phàn Trì); Đạo gia: “Từ”, “Kiệm”, “Bát vi thiên hạ tiên” (Đạo đức kinh, Chương 67).
(4) Tiếng Anh thường dịch là “Four Immeasurable Minds”, “Four unlimited Minds”, tiếng Pháp “Quatre incommensurables”…
(5) Bhikshu Dharmamitra dịch sang tiếng Anh: “từ”- Kindness, “bi”-Compassion, “hỷ
-Delight, “xả”-Renunciation. Những bản dịch khác: “từ”- Loving-Kindness, “bi”-Compassion, “hỷ”-Sympathetic joy, “xả”- Equanimity. Tiếng Pháp dịch “từ”- Bienveillance, “bi”-Compassion, “hỷ”-Sympathie, “xả”-Équanimité, Détachement…
(6) Ba mỹ đức đó là “Ái” (Love), “Vọng” (Hope) và “Tín” (Faith).
(7) Tuyên ngôn của Hội nghị tôn giáo thế giới lần thứ 2 họp tại Chicago (Mỹ) từ ngày 28-8 đến ngày 4-9-1993.
(8) Tương Ưng bộ kinh chép: “Những gì mà ta không thích thì đương nhiên cũng đừng làm điều đó cho người khác. Làm sao mà ta có thể đem những điều không thích áp đật cho người khác được” (Phàm bất năng thủ duyệt ư ngô nhân giả diệc tất bất năng thủ duyệt ư tha nhân, ngô nhân hựu khả năng tương chi cưỡng gia ư tha nhân ni?).
(9) Danh xưng “Bồ tát” ở thời Phật giáo nguyên thủy chủ yếu là để chỉ tiền thân của Đức Phật Thích Ca.
(10) Địa Tạng Bồ tát bản nguyện kinh thực ra không có nguyên văn câu nói trên.
(11) Xem Phật giáo đại từ điển, Thương vụ án thư quán quốc tế hữu hạn công ty xuất bản, 1992.
Hà Thúc Minh



*
Chim Việt Cành Nam 
Tìm Hiểu Sơ Vài Điều Căn Bản Của Phật Giáo
Trong Phần Một chúng ta đã thấy Bác-Sĩ ( Đức Phật) đã khám bệnh nhân (nhân loại) và đã định rõ bệnh (diagnosis) là " Đau-Khổ " (Khổ Đế), đã cho biết nguồn gốc của bệnh (Tập Đế) là bị nhiểm ba vi trùng Tham, Sân, và Si, đã chỉ cho cách chữa bệnh là dùng thuốc trụ-sinh Từ, Bi, Hỷ, Xả (Diệt Đế) và cách phòng bệnh tái phát là phải bỏ cái Ngã. (Vô Ngã). Thì hôm nay chúng ta cố tìm hiểu sơ
I) Tham, Sân, Si là gì?
II) Từ, BiHỷ, Xả là gì?  và
III) Vô Ngã là gì?
I -  Nói Về Tham, Sân, Si
I-  Nói Về Tham, Sân, Si (Cupidity, Anger, Ignorance). [Theo sách Phật Pháp Căn Bản do Minh Không biên sọan, Hè 2005, tr.122-126]
1- Tham (Cupidity): Tham là trạng thái ham muốn : 1) vật chất (tiền bạc, nhà đất, sắc đẹp, địa vị, danh vọng v.v.) hoặc 2) tinh thần ( viết văn, ăn noi, đàn hát v.v.). Tham bao gồm đủ các cấp độ nặng nhẹ, từ ao ước, đến ham muốn, đến thèm khát Tham nếu không được thỏa mãn, sẽ gây ra buồn rầu đau khổ [cầu-bất đắc khổ], hoặc đưa tới những hành động bất chánh như trộm cướp, đánh đập, giết chóc Tham nếu được thỏa mãn, sẽ đưa đến kiêu căng, ngạo mạn, buông thả, phóng túng, rồi khi mất sẽ buồn rầu đau khổ [ ái - biệt - ly - khổ]. Không được thỏa mãn, Tham sẽ đưa đến Sân; mà khi được thỏa mãn rối lại bị mất đi, cũng sẽ đưa đến Sân .
2-Sân (AngerSân là trạng thái giận,vì không hài lòng, bất mãn, có khi giận đến cả với chính mình hay những vật vô tình như cảnh vật, thời tiết v.v. Sân bao gồm đủ các cấp độ nặng nhẹ, từ thoáng không ưa, không thích, trái ý, khó chịu, bực bội, đến ghét bỏ , căm thù. Sân đưa đến Phẫn( phẫn nộ), Hận (ôm áp sự óan ghét), Não (bực tức trong lòng), Tật(ganh ghét).
3-Si (Ignorance)Si là trạng thái không biết. lẫn lộn, không ý thức được.Sự thiếu hiểu biết sẽ gây ra những sự nghi ngờ, và hiểu biết sai lầm khác, và còn gây ra sự ngoan cố tin tưởng vào những việc đã sai lầm. Si đưa đến Nghi (nghi ngờ, phân vân, không thể quyết định theo bên nào, hoặc lấy một lựa chọn nào giữa mấy cái khác nhau), đến Bất-tín (không tin sự thành tín, thiếu tin tưởng), đến Ác-Kiến ( quan-điểm, ý-kiến lệch lạc vế mọi thứ), đến Trạo-cử (tâm lao chao,giao động, không yên tinh), đến Hôn-trầm (tâm trí uể oải, đờ đẫn).
Si còn đưa đến Tham, rồi Tham đưa đến Sân và còn hổ-trợ cho nhau nữa [Nói theo Y-học, thì ba vi-trùng Tham. Sân, Si hoạt động một cách "hợp lưc, đồng vận" (d'une manìère synergique) [ Có ngu (Sia) mới tham; có Tham mà không được hay được rồi mất thì mới giận dữ (Sân): mà ngu nhiều thì tham nhiều, mà tham càng nhiều, thì khi mất càng giân dữ nhiều.]
II-  : Nói Về Từ, Bi, Hỷ, Xả
II-  : Nói Về Từ, Bi, Hỷ, Xả . [Theo sách "Đức Phật và Phật Pháp tác giả Nãrada Maha Thera ,Phạm Kim Khánh dịch 2001, Chương 42: Tứ Vô Lượng Tâm, tr.653-684].
1-Tâm Từ ( pali: Mettã; skrt: Maitr. ) Nghĩa trắng là: cái gì làm cho lòng ta êm dịu, hay là tâm trạng của người bạn tốt. Đức Phật có day: "Tâm Từ được rải khắp đồng đều cho mọi chúng sanh, phải bao trùm vạn vật, phải sâu rộng và đậm đà như tình thương của bà từ mẫu đối với người con duy nhất, chăm nom bảo bọc con, dầu nguy hiểm đến tánh mạng cũng vui lòng" (Metta Sutta (Sermon du Bouddha sur la Bonté) : L'idée exprinée dans le Sũtra est que si nous sommes humbles et libres de nos propres attachements, notre bénévolence naturelle peut atteindre tous les êtres sans limitation. Le Sũtra souligne le modèle de la Bénévolence insondable dont la nature elle-même nous a pourvus en suggérant que nous puissions nous attacher á tous les êtres, comme une mère se rattache à son enfant unique) (Bénévolencelòng khoan hồng, rộng lượng)].
Tâm Từ của Đức Phật là vô biên. Ngài đã tạo an lành hạnh phúc cho tất cả những người thân yêu kính mộ Ngài cũng như những người ganh tỵ, oán ghét, và những người âm mưu ám hại Ngài.
Tâm-Từ bao la rộng rãi, đồng đều, đối với mình cũng như đối với những người thân cận, những người không quen biết, và người có ác ý với mình.
Những danh-từ được xem là gần đồng nghĩa nhứt với Tâm-Từ là: thiện-ý, từ-ái, hảo-tâm, bác-ái, Người có Tâm-Từ không bao giờ nghĩ đến làm hại, làm giảm giá trị, hoặc bài xích, không bao giờ làm ai sợ.
Đức Phật day: "Không thể lấy thù óan để diệt sân hận chỉ có tâm-từ mới dập tắt lòng sân.
2- Tâm Bi (Karunã) .Bi được định nghĩa là động lực làm cho tâm người tốt, rung động trước sự đau khổ của kẻ khác, hay cái gì thoa dịu niềm khổ đau, sầu não, của người. Đặc tính của tâm Bi là ý muốn giúp người khác giải thoát khỏi cảnh khổ. Đức Phật đã nêu gương lành cao quý bằng cách tự tay chăm sóc người bệnh và khuyên dạy hàng đệ tử như sau : " Người nào chăm sóc người bệnh là chăm sóc Như Lai".
Cũng như tâm Từ, tâm Bi là vô lượng, vô biên, vô hạn định, phải được rải đến cho tất cả những chúng sanh đau khổ, cho đến những loài cầm thú.
Kẻ thù gián tiếp của tâm Bi là âu sầu, phiền muộn (domanassa).
3- Tâm Hỷ (Muditã). Hỷ là Vui, Hỷ không phải là trạng thái thỏa thích suông, cũng không phải là cảm tình riêng đối với người nào mà tâm hoan hỷ. Đặc tánh của Tâm Hỷ là hoan hỷ với người thành công, người lộc cao phúc hậu ( anumodanã). Lòng ganh tỵ là kẽ thù trực tiếp của Tâm Hỷ, mà Tâm Hỷ phải diệt trừ. Tâm Hỷ còn có chiều hướng loại trừ mọi hình thức bất mãn (arati) trước sự thành công của ngừoi khác.
4- Tâm Xả [Upekkhã] Theo Phạn ngữ, Upekkhã là trông thấy đúng đắn, nhận định chân chánh, hoặc suy luận vô tư Nhờ vậy mà giữa cơn giông tố của trường đời, người trau giồi Tâm Xả cao thượng, luôn luôn giữ tâm bình thản. Đức Phật dạy rằng người trí tuệ minh mẫn luôn luôn thản nhiên hành tâm Xả, vũng chắc như tảng đá to sừng sựng giữa những thăng trầm của thế sự. Ngài nói: "Vững như voi không run sợ trước tiếng động , ta không nên để tâm rối lọan trước những làn tên có tẩm thuốc độc của miệng lằn, lưỡi mối. Như gió thổi ngang màn lưới mà không vướng mắc trong lưới, tuy sống giữa chợ người ta không nên say mê luyến ái những lạc thú huyền ảo của thế gian vô thường biến đổi nầy. Như hoa sen không bị bùn do nước đục làm nhơ bẩn, vượt lên khỏi bao nhiêu quyến rũ của thế gian, ta phải sống trong sạch, luôn luôn tinh khiết, an lạc và thanh bình, không bị nhiễm ố."
Kẻ thù trực tiếp của Tâm Xả là luyến ái (rãga),và kẻ thù gián tiếp là trạng thái lãnh đạm, thái độ lạnh lùng. Tâm Xả lánh xa tham ái và bất mãn. Thái độ vô tư, thản nhiên, an tĩnh, là đặc tánh chánh yếu của Tâm Xả. Người có Tâm Xả không bị lạc thú trần gian quyến rũ,không thích thú say mê trong hạnh phúc, cũng không bị những gì nghịch ý làm bực tức buồn phiền, hay bất mãn trong khổ đau. Tâm Từ bao trùm tất cả mọi chúng sanh; Tâm Bi những chúng sanh đau khổ; Tâm Hỷnhững chúng sanh hạnh phúc; Tâm Xả phủ khắp những gì tốt đẹp và những gì xấu xa, những điều khả ái và những điều khả ố, những thích thú và những nghịch lòng.
Bốn Tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả nói trên, là bốn phẩm hạnh vô giá được gọi chung trong tiếng Phạn là "Brahma Vihãra" có nghĩa là lối sống cao thượng, trạng thái cao siêu, hoặc chổ nương tựa của bậc Thánh Nhân. Ta gọi là " Tứ Vô Luợng Tâm".
III -  : Nói Về Vô Ngã, Vô Tướng
III -  : Nói Về Vô Ngã, Vô Tướng.
1- Vô Ngã.   [Anatman (Selflessness)].
Vô Ngã là điều căn bản quan trọng nhứt, đặc biệt nhứt của Phật giáo, mà cũng là điều khó hiểu và khó giải thích nhứt.
Theo sách "Pour comprendre le bouddhisme" của S. Bercholz & Chodzin Kohn, 1999, tr.408: [Anãtman (skrt.; paliAnatta) "Conscience héréditaire". Une des trois caractéris- tiques de toute existence. La doctrine de l'Anãtman est l'une des principales théories du bouddhisme. Elle nie l'existence d'un soi dans le sens d'une substance impérissable, immortelle, unique, et indépendante. Dans le bouddhisme, le Moi n'est qu'une person- nalité empirique, composée des cinq agrégats (Skanha) éphémère, changeante, et donc destinée à souffrir.]
Để hiểu Vô-Ngã , trước hết phải nhìn vào, và phân tách hai hiện-tượng sau đây:
1 : Hiện tượng Cầu-Vòng (l'arc-en-ciel / the rainbow). Ai cũng đã thấy cầu-vòng với bảy màu sắc của nó, nhưng khi đến tận nơi để tìm kiếm thì chẳng thấy nó đâu. Không thể nói rằng " không có cầu-vòng " vì rõ ràng mình thấy nó, mà cũng không thể nói là " cầu-vòng" vì mình không gặp được nó.; chỉ có thể nói nó " không thật " .
2: Hiện tượng Mặt Trăng Trong Hồ. Nhìn vào hồ nước, thấy rõ ràng trong hồ có mặt trăng sáng chói, nhưng khi lội xuống hồ để tìm kiếm thì không thấy nó đâu. Không thế nói là nó "không có" vì mình đã thấy nó rõ ràng, mà cũng không thể nói là nó "" vì mình không gặp được nó; chỉ có thể nói là nó "không thật có".
"Không thật có" là vì không tự nó mà có. Có cầu-vòng là vì có ánh-sáng và hơi nước (duyên khởi); thấy mặt trăng trong hồ là vì có mặt trăng và có mặt nước hồ (duyên khởi).
Vì không tự nó mà có, nên cầu-vòng không thể tự nó thay đổi [vì tùy theo số lượng ánh sáng và số lượng hơi nước, cầu-vòng có thể dài, hay ngắn, hoặc lâu hay mau]. Vì không tự nó mà có, cầu-vòng không thể có thường xuyên (vô thường) và không thể có mãi mải (bất biến), [không có (hoặc mất) ánh sáng hay hơi nước là không có (hoặc mất) cầu vòng]. Mặt trăng trong hồ cũng vậy: vì không tự nó mà có, nên nó không thể có thường xuyên và bất di, bất diệt, [ tùy theo trăng có bị mây che hay không, nước mặt hồ có bị gió làm nhăn hay không, và tùy theo ngày có trăng hay không., thì mình mới thấy có hay không thấy có mặt trăng trong hồ]
Như vậy những đặc điểm của sư "Không Thật Có" là: 1) không tự nó sanh ra (là không tự có); 2) luôn luôn thay đổi (tức là nó không bất biến); 3) nhưng nó không tự ý thay đổi được (tức là nó không độc lập ); 4)- và nó không có thường xuyên mãi mãi (tức là nó không thường và không bất diệt).
Đem cái lối nhìn hai hiện tượng trên vào việc nhìn vào con người mình (là cái "tôi"cái "ta"), không phải tự nhiên mà có (không tự có) [vì thân mà có là nhờ ở cha mẹ, và được Sắc Uẩn cấu thành], còn tâm là do bốn uẩn Thọ, Tưởng, Hành ,và Thức cấu thành Như vậy cái "tôi" cái "ta" là kết quả của sự trộn lẫn 5 tập-hợp ( "Ngũ Uẩn") mà không có uẩn nào tự có, độc lâp, bất biến, bất diệt. Cái "tôi"cái "ta" không tự có, không độc lâp, không bất biến, không bất diệt tức là thuộc vào loại "không thật có" nghĩa là "vô ngã" [khi hiểu chữ vô ở đây không có nghĩa là "không có", mà có nghĩa là "không thật có".]"Tôi" đã không thật có, thì Tham làm gì, tham cho ai ? Mà không Tham thì đâu có Sân [giân cái gì ?] KhôngTham, không Sân, là không có ngu (không Si ). Mà không Tham, không Sân, không Si, thì không Đau Khổ. Tức bỏ được cái Ngã sẽ phòng được Đau Khổ
2- Vô-Tướng  (Animitta). Ngoài quan niệm "Vô Ngã" nói trên, trong Phật-học còn có một quan niệm cùng rất đặc biệt và rất quan trọng là quan niệm "Vô Tướng" [Tánh Không (Animitta)]
Animitta [vô tướng (Vacuité, Emptyness)]: Absence d'objet,, de réalité objective qui existe indépendamment de l'esprit, à la différence d'anatman (vô ngã) qui est l'absence de soi, de réalité distincte qui fait qu'un être est lui-même et non un autre. Le principe d'Animitta affirne l'illusoriété des objets sensibles et intelligibles. [sách " Six Sermons du Bouddha" par Hiền-Mật Đổ-Hữu- Trạch, 2002, tr.131]. [illusoríété từ chữ illusoire là hão-huyền, huyền-hoặc; illusoríeté là tính cách huyền-hoặc.].
Đem lối nhìn và lối phân tách hai hiện tượng "Cầu-Vòng" và "Mặt Trăng Trong Hồ" nói trên, áp dụng vào một vật (un objet) như "cái nhà", thì ta thấy: cái nhà không tự nó mà có [nó là cái nhà khi tất cả những thành phần như gỗ, ván, gạch, ngói, hồ, vôi, xi-măng, đinh, ốc, v.v. được ráp lại]; với thời gian, nắng, mưa, gió, tuyết, sương, nó bị hư hao nên thay đổi hình dáng,(tức là không bất biến) mà không tự ý nó biến đổi được (tức là không độc lập), rồi lâu sau nó sẽ sụp đổ không còn là cái nhà nữa (tức là không bất diệt). Không tự có, không bất biến, không độc lập, không bất diệt tức là "không thật có".
Rồi một cái cây không phải là cánh rừng, nhưng nhiều cây tụ lại một chỗ ta đặt tên cho chúng là cánh rừng. Cái bánh xe, không phải là cái xe; tay lái, máy xe,v.v. cũng không phải là cái xe, nhưng khi ráp tất cả bộ phận nầy lại ta gọi chúng là cái xe. Cũng như khi mặt ta nóng đỏ, máu huyết sôi lên, cơ thể run rẩy, cộng những yếu tố này lại ta gọi đó là sự giận dữ. Như vậy, nếu phân tích và khảo sát một cách tường tận thì sẽ không tìm thấy cái gì là cánh rừng, cái xe, hoặc cơn giận :chúng chỉ là những tên gọi, tượng trưng cho những hiện tượng vật chất hoặc tinh thần được kết hợp bởi những thành phần khác. Hiểu theo nghĩa này, thì tất cả sự vật chỉ là tên gọi được gắn đặt, chớ chúng không thật có.
Tức là vạn vật đều "Vô Tướng" [có Tánh Không ( Animitta )].




ĐỨC TỪ BI HỶ XẢ

Sống với tâm rộng lượng sẵn sàng tha thứ, bỏ qua mọi lỗi lầm, sai phạm của người khác và không bao giờ nhắc đến. Khi nhắc đến lỗi lầm, cái sai, cái xấu của ai thì đã đánh mất lòng thương yêu. Có những gia đình sống rất hay, họ không bao giờ nói cái xấu, cái sai, cái lỗi của bất kỳ ai trong gia đình và ngoài xã hội, dù thấy biết nhưng họ sẵn sàng tha thứ và bỏ qua, xem như không có gì.

Có một câu chuyện về gia đình của Jane White, mỗi khi cả nhà quay quần bên bàn ăn thì họ chẳng quan tâm đến việc ai phạm sai lầm gì. Họ lướt qua những lỗi lầm của nhau và vẫn vui vẻ tiếp tục sống. Không một ai mách tội ai, họ không bao giờ để ý xem ai phạm điều gì, để mách tội nhau. Gia đình White có 3 trai và 3 gái. Lần đó em gái Amy vừa mới lấy bằng lái xe hơi, nhân dịp đi New York chơi, các chị cho em lái xe và không ngờ em lơ đễnh và phản xạ của em còn chậm cho nên bị một xe tải đâm vào làm một người chị gái Jane chết ngay tại chỗ, còn Sarah thì bi thương ở đầu, Amy thì bị gãy chân. Khi bố mẹ vào bệnh viện thăm, họ ôm hôm các con và khóc nói những lời nói động viên “các con còn sống là cha mẹ mừng rồi”, nói những câu vui đùa như không có chuyện gì xảy ra. Chẳng một lời trách móc nào. Chính nhờ vậy mà cô con gái tiếp tục sống vui vẻ, có sự nghiệp, cưới chồng và có một gia đình hạnh phúc.

Thật là tuyệt vời. Qua câu chuyện tôi đã học được bài học từ gia đình Jane rằng việc đỗ lỗi cho ai vì bất cứ chuyện gì là không quan trọng. Đôi khi, nó chẳng có tác dụng gì. Đức này là đức Từ Bi Hỷ Xả.


Câu chuyện về đức từ bi hỷ xả có thể đọc tại đây



Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Chỉ cần tu mấy chữ Từ - Bi - Hỉ - Xả 


Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Chỉ cần tu mấy chữ Từ - Bi - Hỉ - Xả
Trong mỗi ngườiđều có Phật tính
 Con người hiện đại phần dương tính quá mạnh. Đó là những chia sẻ và cũng chính là lý do ông viết "Đội gạo lên chùa" - cuốn tiểu thuyết vừa nhận được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhân dịp này, KH&ĐS đã có cuộc trò chuyện với nhà văn Nguyễn Xuân Khánh xung quanh đề tài đạo Phật trong văn hóa của người Việt Nam.Trong mỗi người đều có Phật tính
Xin chúc mừng ông vừa nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cho tiểu thuyết "Đội gạo lên chùa"?
Cảm ơn bạn.
Đây là cuốn tiểu thuyết về Phật giáo. Khi đọc tôi cứ hình dung tác giả chắc phải có thời gian sống ở chùa?
(Cười) Tôi chưa sống ở chùa bao giờ. Nhưng bắt đầu nghiên cứu về đạo Phật từ lúc còn thanh niên. Chủ yếu là tự đọc sách, chứ cũng không học với nhà sư nào cả.
Đạo Phật ngày càng hấp dẫn với nhiều người, theo ông vì sao vậy?
Sức hấp dẫn lớn nhất của đạo Phật là lòng từ bi. Con người thấy rằng, nếu cứ đối xử hoàn toàn vị kỷ thì thế giới sẽ nhiều va chạm, xung đột. 
Trong đạo Phật có sự bình đẳng giữa mọi người, người giàu cũng như người nghèo, sang, hèn, người yếu, kẻ mạnh, tất cả đều chung một lòng từ bi. Đạo Phật cho rằng, không phải đấng tối cao tạo ra hay mang lại hạnh phúc cho con người. 
Mà con người sung sướng, hạnh phúc, tốt hay xấu đều do tự bản thân mình. Phật giáo khuyên người ta phải tự tin vào sức mạnh của bản thân mình, tự tu dưỡng mình, có khả năng bỏ những cái xấu trong bản thân. Trong mỗi người đều có Phật tính, là cái phần tốt đẹp, người nào cũng có. 
Nhưng cũng có ý kiến cho sự từ bi khiến con người yếu đi?
Tôi cũng thấy đạo Phật có phần nhu quá. Con người gồm hai phần: Dương tính và âm tính. Đạo Phật là phần âm tính. Phần âm tính thì bao giờ cũng mềm mại, chịu đựng, nhẫn nhục, nhưng tạo ra một tiềm năng ẩn ngầm, khi nó bùng nổ thì rất ghê. Đạo Nho là dương tính, nó năng nổ, tích cực hoạt động, tích cực xông vào đời. 
Đạo Phật không có những lý thuyết về chính quyền, về cai trị... vì họ không chủ về những cái đó. Đạo Nho lại có những lý thuyết về cuộc sống hằng ngày. 
Cả 2 yếu tố đó đều cần thiết cả. Ông cha ta ngày xưa cũng thấy phần nhu quá của đạo Phật, nếu chỉ có phần âm tính thôi thì không chống lại được ngoại xâm nên phải hài hòa bằng cách đưa thêm phần dương tính vào, đưa đạo Nho vào.
Ông có cho rằng ngày nay phần dương tính lại nhiều hơn?
 Trong thời đô thị hóa, phương Tây hóa này, phần dương tính trong từng con người khá mạnh. Nó có cái tốt là năng động, chú ý tới phần vật chất nhưng lại yếu ở chỗ không chú ý đến phần tinh thần của con người. 
Tôi nghĩ ta phải cân bằng lại. Cũng may dân tộc ta luôn có sự điều chỉnh, bổ sung để hài hòa hai phần này. 
Thời Trần Nhân Tông sau 3 lần đánh quân Nguyên xong, phần dương tính quá mạnh, nên cụ lại phải chấn hưng lại đạo Phật, cụ lên Yên Tử đi tu. Người lãnh đạo tối cao phải luôn tìm cách để hài hòa hai phần dương, âm. 
Phải sống hết mình với cuộc đời này
Cái đặc biệt của đạo Phật ở Việt Nam là rất gần gũi với đời sống. Trong tiểu thuyết của ông cũng vậy, nhà sư vẫn đi bộ đội hay một người giang hồ cũng có thể trở thành sư...
Dân ta có câu: Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ 3 tu chùa. Đạo Phật vào Việt Nam đã được Việt hóa. Dân tộc mình rất thực tế chứ không phải chép y nguyên đạo Phật của Ấn Độ, Trung Quốc. 
Quy luật văn hóa là như thế, một yếu tố văn hóa nào vào một dân tộc nào thì phải qua cái lăng kính của dân tộc ấy. Văn hóa ấy phải biến động tùy thuộc vào tâm lý, yếu tố văn hóa nội sinh của dân tộc ấy.
Vì vậy, đạo Phật ở Việt Nam rất nhập thế, không lý thuyết mấy và nặng về cái hành xử hằng ngày ở đời. Vua đi đánh giặc, đánh giặc xong rồi đi tu. Thầy dạy của vua Trần Nhân Tông cũng là một cư sĩ chứ không phải nhà sư, ông ấy vẫn có vợ con, vẫn ăn thịt, chỉ đọc sách Phật.
Như vậy là có thể kết hợp một cái rất là vật chất ở thời hiện đại này và cái rất tinh thần của đạo Phật?
Phật giáo hiện đại kết hợp giữa cái rất trần tục với cái cao siêu, hai cái kết hợp với nhau thì mới hấp dẫn được con người hiện đại chứ. Nếu toàn ăn chay, không lấy vợ... thì con người hiện đại không chấp nhận đâu. 
Họ chỉ chấp nhận những cái thực, những cái mang lại cho con người hạnh phúc thực sự trên cõi đời này chứ không phải đi sang tận Niết bàn nào, kiếp nào mới được hưởng. Phật giáo còn là lối sống. Người ta phải được sống về tinh thần thì đạo đức, tử tế, về vật chất thì hạnh phúc no đủ ở ngay thế gian này. 
Riêng tôi nghĩ con người chúng ta không cần phải tu thành Phật. Tôi không tu thành Phật nhưng những yếu tố của Phật giáo thì tôi rất trân trọng. 
Đó là những yếu tố gì thưa ông?
Tôi chỉ cần tu mấy chữ Từ - Bi - Hỉ - Xả. Phần vật chất thì ta sống hết mình với cuộc đời này. Ta sống ở cõi đời hiện đại thì phải tùy duyên, phải làm việc cho hết mình, yêu thương hết mình, sống một cái cuộc sống thật no đủ về mặt vật chất và làm cho mọi người đều sung sướng. 
Đó là lý tưởng của Bồ Tát, làm cho mọi người xung quanh đều sung sướng. Về tinh thần chỉ cần Từ - Bi - Hỉ - Xả. Từ là phải có lòng thương với tất cả mọi sinh vật từ cây cỏ đến con vật, con người... 
Bi là đối với người gặp khó khăn, khổ sở, gặp bất hạnh, phải luôn cứu giúp. Hỉ là đối với những người thành công ta cũng phải vui với họ không được ghen tị, kèn cựa... Còn Xả là tất cả những gì thành công, thất bại ta đều coi là bình thường. 
Tôi có được cái giải thưởng này nọ thì nó cũng thế thôi, có gì hạnh phúc ghê gớm lắm đâu. Dĩ nhiên là mình không coi thường nó nhưng đừng lấy thế làm cái gì ghê gớm quá, bình thường thôi. Hoặc khi thất bại thì cũng đừng bi quan quá, phải ngẩng cao đầu mà sống.
Đừng đạp lên người khác
Thời hiện đại, tính cạnh tranh rất cao. Nhiều khi người ta phải dẫm đạp lên nhau, dùng thủ đoạn với nhau để đạt được mục đích của mình?
Cạnh tranh thời hiện đại cũng phải có đạo lý, có văn hóa đấy, đừng đạp lên người khác. Khi nào làm đau khổ người khác là không được rồi. 
Có thể họ thất bại vì năng lực, tiền bạc... của họ kém, còn nếu mình dùng mưu mẹo, thủ đoạn để chơi xỏ người ta là không được. Làm gì thì cũng phải giữ được 4 nguyên tắc Từ - Bi - Hỉ - Xả. 
Thế thì quả là khó quá
Phải xác định đó là cái mình hướng tới thôi chứ sao mà đạt ngay được. Có lúc mình cũng nóng vội, cũng ghen tị, bực bội... nhưng phải cố gắng buông xả, cố gắng hướng tới những cái cao thượng tối cao.
Có lẽ tuyệt đối thì không được, nhưng tương đối thì có thể. Theo tôi con người hiện đại cũng phải nghiên cứu đạo Phật để dẹp bớt phần dương tính hiện đang lên cao quá. Chính vì vậy tôi mới viết “Đội gạo lên chùa”. 
Đấy cũng là tùy duyên, thưa ông?
Tùy duyên là ý của cụ Trần Nhân Tông: Cư trần lạc đạo thả tùy duyên (hãy ở cõi trần này vui với đạo và tùy theo duyên).
 Xin cảm ơn ông và chúc ông mạnh khoẻ để viết tiếp những tác phẩm mới!
  
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933 tại Hà Nội. Ông công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Báo Thiếu niên Tiền phong. Ông viết tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện thiếu nhi, phê bình văn học... Đặc biệt, thời gian gần đây bộ ba tiểu thuyết "Hồ Quý Ly - Mẫu Thượng Ngàn - Đội gạo lên chùa" đã mang lại cho ông danh tiếng và nhiều giải thưởng.

Theo Bee.net.vn



Vĩnh Bảo sưu tầm 24/5/2013

Không có nhận xét nào: