Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2012

4 loại thực phẩm như “nhân sâm”


4 loại thực phẩm được ví như “nhân sâm”

Nhân sâm bổ như thế nào ?

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều sản phẩm mang tên sâm: từ trà sâm đến sâm nguyên củ, từ rượu bổ sâm đến nhiều loại thuốc chứa sâm… Điều người tiêu dùng quan tâm là sâm thật, sâm giả, sâm tốt nhiều, sâm tốt ít…. Vì thế xin được hỏi: Sâm bổ như thế nào? Có bao nhiêu lọai sâm? Ai dùng cũng được hay có kiêng kỵ gì không?

T

Những lưu ý khi sử dụng nhân sâm

Thứ Ba, 19/01/2010 08:10
Nhân sâm được xếp vào loại đầu tiên trong 4 loại dược liệu quý của Đông y, đó là sâm, nhung, quế, phụ. Nhân sâm có tên khoa học là (Panax ginseng C. A. Mey.), họ nhân sâm (Araliaceae), họ (ngũ gia bì). Trên thực tế do cách chế biến khác nhau, người ta có được các sản phẩm chế của nhân sâm khác nhau, như hồng sâm, bạch sâm, đại lực sâm...
Nhân sâm được Đông y ghi vào loại "thượng phẩm", nghĩa là có tác dụng tốt mà không gây ra độc tính, được ghi vào đầu vị của dòng "bổ khí" với những công năng tuyệt vời: đại bổ nguyên khí, ích huyết, sinh tân, định thần, ích trí... Nhân sâm được dùng để  bổ khí, đặc biệt cho các trường hợp chân khí suy giảm, người mệt mỏi, vô lực, mới ốm dậy, trẻ em chậm lớn. Tăng cường sinh lý, tăng khả năng hồi phục cho mọi hoạt động cơ thể. Chống và giảm căng thẳng của hoạt động thần kinh, nâng cao sức bền trong hoạt động thể thao. Cải thiện hoạt động tuần hoàn khí huyết, điều hòa ổn định hệ tim mạch, nhất là các triệu chứng tim hồi hộp, loạn nhịp. Có lợi cho các trường hợp ho lao, viêm phế quản mạn tính, tiểu đường. Làm tăng sức đề kháng và tăng khả năng miễn dịch, giúp cho chế độ làm việc dẻo dai hơn, tạo  điều kiện để tăng năng suất lao động.  Làm chậm quá trình lão hóa của cơ thể, giúp cơ thể vượt qua những thay đổi khắc nghiệt của môi trường. Hỗ trợ tích cực trong phòng và trị bệnh ung thư. Người lớn, có thể dùng riêng, ngày 6 - 8g, dưới dạng thuốc hãm, thuốc sắc, hoặc phối hợp với các vị thuốc khác: nhân sâm 8g; bạch truật, bạch linh, cam thảo, mỗi vị 4-6g, ngày một thang, uống liền 2-3 tuần lễ. Cũng có thể sử dụng dưới dạng rượu sâm (40g sâm, thái lát mỏng ngâm trong 1 lít rượu trắng 30-35  độ trong 3 - 4 tuần là có thể dùng được. Tiếp tục ngâm lần 2 với  0,5 lít rượu trong 2-3 tuần lễ nữa). Ngày có thể dùng  2 - 3  lần, mỗi lần 30 -50ml. Uống trước các bữa ăn, hoặc vào các  buổi tối. Với trẻ em gầy còm chậm lớn, yếu mệt, biếng ăn, có thể dùng với lượng nhỏ hơn, 2 - 4 g/ngày, dưới dạng thuốc hãm.
Lưu ý khi  sử dụng nhân sâm
Núm rễ của củ sâm (còn gọi là lô sâm). Để giữ được các hoạt chất khi chế biến và để tạo dáng cho nhân sâm (giống như cái đầu người),  người ta đã giữ nó lại. Lô sâm, không có tác dụng bổ mà còn gây ra cảm giác buồn nôn. Do đó cần cắt bỏ đi, trước khi sử dụng.
Khi nói về nhân sâm đã có một lời khuyên  mang tính  kinh điển: "Phúc thống phục nhân sâm tắc tử". Vốn là, khi xưa đã có một thầy thuốc, sau khi cho một bệnh nhân uống nhân sâm, người bệnh  này đã bị tử vong. Vấn đề là ở chỗ người thầy thuốc này lại cứ cho rằng, ông ta không hề có một sai sót gì cả! Vì trước đó, ông đã từng đọc rất kỹ sách đã chỉ rõ: "Phúc thống phục nhân sâm...", tức là "đau bụng uống nhân sâm...". Đáng tiếc là, người thầy thuốc này đã chưa đọc hết hai chữ nữa ở trang sau: "tắc tử", nghĩa là " sẽ chết".
Ngày nay, trên thực tế, nhiều người bị "đau bụng" do viêm gan, viêm dạ dày, viêm ruột co thắt, táo bón... vẫn dùng nhân sâm mà vẫn khỏe mạnh. Rõ ràng ở đây có sự hiểu khác nhau về khái niệm "phúc thống". Qua kinh nghiệm thực tế, khái niệm "phúc thống" trong trường hợp chết người này là chỉ các triệu chứng đau bụng thuộc "thể hàn", đau bụng "tiết tả", tức đau bụng  ỉa chảy,  đầy bụng, trướng bụng..., nếu dùng nhân sâm sẽ nguy hiểm đến tính mạng, ngoài ra, những người cao huyết áp cũng không nên dùng nhân sâm; những người hay mất ngủ tránh dùng sâm vào buổi chiều và buổi tối.
GS.TS. Phạm xuân Sinhừ xa xưa, sâm đã được sử dụng như là phương thuốc thần hiệu trị được nhiều bệnh và 


Bạn đã bao giờ nghe nói rằng nhiều loại thực phẩm cũng có tác dụng tương tự như nhân sâm chưa? Những thực phẩm tuyệt vời đó là: cà rốt, cá chạch, hải sâm và thịt chim cút.

Chúng ta đều biết, nhân sâm là một trong những loại thuốc bổ rất được ưa chuộng. Do nó có tác dụng bảo vệ sức khỏe rất tốt nên giá cả cũng khá đắt. Nhưng thực ra, trong cuộc sống có rất nhiều thực phẩm cũng được coi là nhân sâm vì chúng có công dụng gần như nhân sâm chính hiệu.
Cà rốt - “nhân sâm” trong rau củ quả
Loại củ này rất giàu vitamin A, có tác dụng phòng ngừa ung thư hiệu quả. Hãy ăn cà rốt để giảm nguy cơ mắc ung thư phổi. Trong cà rốt còn chứa quercetin, kaempferol, kali, nên có thể làm tăng lưu lượng máu mạch vành, hạ lipid máu, thúc đẩy tổng hợp adrenaline.
cu ca rot
Do đó, ở một mức độ nào đó, cà rốt có công hiệu nhất định với việc điều trị huyết áp cao, bệnh tim và dạ dày. Ngoài ra cà rốt còn làm mát gan, sáng mắt, tốt cho thận và giải độc, hạ đường huyết…
Cá chạch - “nhân sâm” từ nước ngọt
Cá chạch - “Nhân sâm” dưới nước
Thịt cá chạch có thành phần dinh dưỡng cao hơn rất nhiều so với cá chép, bạch tuộc, tôm hùm hay tôm thường… Đông y cho rằng, cá chạch có thể coi là thuốc bổ trị các bệnh như tiểu tiện nhiều, liệt dương, tiết dịch màu vàng, đổ mồ trộm ở trẻ em, bệnh trĩ, ghẻ lở…
Do đó nó được coi là “nhân sâm” so với các thực phẩm khác từ nước ngọt.
Hải sâm - “nhân sâm” từ biển

Hải sâm - thực phẩm và vị thuốc quý
Hải sâm.
Để chữa tiểu đường, dùng hải sâm 2 con, trứng gà 1 quả, tụy lợn 1 cái, ba thứ đem hấp chín rồi ăn, cách 1 ngày dùng 1 lần.
Hải sâm (tên khoa học là Stichopus japonicus selenka) là một loại động vật không xương sống, sống ở biển, trên đáy cát hoặc san hô chết, tập trung nhiều nhất ở độ sâu 2-5 m, hay gặp ở vùng vịnh và những nơi có nhiều đá ngầm. Tại Việt Nam, hải sâm có khá nhiều ở vùng biển Khánh Hòa, đảo Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu...

Theo y học cổ truyền, hải sâm vị mặn, tính ấm, có công dụng bổ thận ích tinh, dưỡng huyết nhuận táo, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như tinh huyết hao tổn, hư nhược, liệt dương, di tinh, mộng tinh, tiểu tiện nhiều lần, táo bón... Hải sâm có công dụng khá phong phú:
- Bổ ích cường tráng, đặc biệt tốt đối với các trường hợp tinh huyết hư tổn.
- Bổ thận điền tinh, thích hợp với các trường hợp di tinh, liệt dương, tiểu tiện nhiều lần về đêm.
- Tư âm nhuận táo, dùng rất tốt cho những người bị táo bón, tiêu khát (tiểu đường).
- Lợi niệu thoái hoàng, thích hợp cho những trường hợp bị phù thũng nguyên nhân do thận và bệnh lý vàng da do các nguyên nhân khác nhau.
- Bổ huyết, thường dùng cho các trường hợp thiếu máu.
- Kháng ung, thường dùng để điều trị hỗ trợ cho các trường hợp ung thư.

Bởi vậy, từ xa xưa, hải sâm đã được coi là một trong “tứ đại danh thái” (bốn loại thực phẩm nổi tiếng) cùng với óc khỉ, tay gấu và yến sào của ẩm thực cổ truyền phương Đông và được mệnh danh là “nhân sâm của biển cả”. Về mặt thực phẩm, nhiều y gia coi thịt hải sâm là một trong tám món ăn “cao lương mỹ vị” nổi tiếng (bát trân) của phương Đông cùng với yến sào, bào ngư, vây cá...

Theo kết quả nghiên cứu của dinh dưỡng học hiện đại, hải sâm là một trong những loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng hết sức phong phú. Các nhà khoa học Trung Quốc ước tính cứ 100 g hải sâm khô có chứa 76 g protein, cao gấp 5 lần so với thịt lợn nạc và 3,5 lần so với thịt bò. Hải sâm còn có hàm lượng cao các acid amin quý như lysine, proline... và nhiều nguyên tố vi lượng như P, Cu, Fe..., đặc biệt là Se - một chất giải độc kỳ diệu, làm vô hiệu hóa các kim loại nặng đi vào cơ thể qua đường ăn uống (như Pb, Hg) để thải ra nước tiểu. Ngoài ra, trong thành phần hải sâm còn có nhiều loại vitamin, hoóc môn, các chất có hoạt tính sinh học trong đó có 2 loại saponin là Rg (gây hưng phấn thần kinh, chống mỏi mệt và tăng cường thể lực) và Rh (có tác dụng ức chế tế bào ung thư).

Kết quả nghiên cứu dược lý học hiện đại cho thấy, hải sâm có tác dụng tăng cường sức đề kháng và nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể, ức chế quá trình sinh trưởng và di căn của các tế bào ung thư; chống mệt mỏi cơ bắp, duy trì trạng thái hoạt động cao; chống lão hóa; tăng cường hoạt động của thần kinh và tăng phản xạ, ổn định tâm lý; bổ sung các yếu tố tạo máu, tăng tuần hoàn máu, cải thiện khả năng hấp thu ôxy và chống mệt mỏi cơ tim. Nó cũng xúc tác các phản ứng enzyme, thúc đẩy quá trình chuyển hóa và hấp thu, tăng sinh tổng hợp protein. Hơn nữa, do chứa rất ít lipid và hầu như không có cholesterol nên hải sâm là loại thực phẩm bồi bổ lý tưởng cho những người bị rối loạn lipid máu và bị các bệnh lý động mạch vành.

Ngoài đặc điểm giàu protein, chất béo, đường, muối vô cơ và các loại vitamin khác, hải sâm còn chứa các sợi collagen, I-ốt, polysaccharides, chondroitin sulfate, có tác dụng bổ thận, giữ ẩm, dưỡng huyết và có lợi cho dạ dày. Ăn thường xuyên còn có công hiệu bổ dương, hạ hỏa, bổ thận tráng dương, tốt cho trí óc…
Chim cút - “nhân sâm” trong các loài động vật

Chim cút rất bổ nhưng phải biết dùng

Thứ Bảy, 04/07/2009 08:10
Chim cút và trứng cút thì ai cũng biết. Nhưng tác dụng bổ dưỡng của nó thì chưa mấy ai biết. Trong y văn đã xếp nó vào thương phẩm mệnh danh là "Sâm động vật". Gọi như vậy vì nó là động vật có tác dụng bổ dưỡng như sâm thực vật. So với các sản phẩm động vật khác thì chim cút cho tác dụng bổ toàn thân trội hơn tác dụng bổ cục bộ.
Chim cút tốt cho người bị xơ vữa động mạch,
mỡ máu cao...
Chim cút vị ngọt tính bình, có tác dụng bổ ngũ tạng, lợi cửu khiếu, ích trung khí, mạnh gân cốt. Dùng cho các đối tượng suy nhược thần kinh và thể lực, trẻ em suy dinh dưỡng, người già lú lẫn, phụ nữ có thai và cho con bú, người mới ốm dậy cần lấy lại sức, người lao động vất vả chân tay và trí óc. Chim cút cũng có phần nhỏ bổ thận tráng dương, lưng đau, gối mỏi. Ngày nay chim cút được dùng cho trường hợp béo phì, tiểu đường, tăng huyết áp, xơ mỡ động mạch vì chim cút có ưu điểm giàu chất dinh dưỡng (đạm, khoáng) nhưng rất ít mỡ. Tuy nhiên còn phụ thuộc vào cách chế biến như không được rán hay nướng...
Thành phần dinh dưỡng của thịt chim cút nói chung cao hơn các gia súc, gia cầm khác đến 10 lần (trong đó chất béo lại thấp hơn nhiều). Sau đây là một số cách dùng:
Nhóm thức ăn
Thanh nhiệt trừ thấp cho người mỡ máu cao, béo phì, xơ xứng mạch, tăng huyết áp, tiểu đường, lú lẫn tuổi già: Chim cút 1 con. Đậu đỏ nhỏ 20g (xích tiểu đâu), gia vị. Chim cút làm sạch bỏ phủ tạng, nhồi đậu đỏ. Nước vừa đủ. Chưng chín cả 2 nêm gia vị hành, gừng, ít muối. Ăn ngày 1 con liền trong 2 tuần.
Ích khí dưỡng huyết, kiện tỳ hòa vị cho người ho lâu ngày thiếu máu, tiểu đường, trẻ em cam tích tiêu chảy kéo dài, suy dinh dưỡng: Chim cút 2 con, hoài sơn 50g, gạo tẻ 100g nấu cháo khi chín cho ăn nóng, gia vị thích hợp (gừng hành).
Bổ tỳ, ích thận, dưỡng tâm, an thần. Dùng cho người thận hư đau lưng, mỏi gối, ù tai, khó ngủ, biếng ăn, thiếu máu, ho lâu ngày. Chim cút 2 con, củ cải trắng 200g, chim cút làm sạch thái miếng. Củ cải thái sợi. Xào chim xong cho củ cải xào cùng. Nêm gia vị hành gừng ít rượu, giấm muối đun cho đến khi chín, ăn nóng.
Kiện tỳ trừ thấp thũng, giảm béo, dưỡng da, ăn ngon ngủ yên: Chim cút 5 con, ý dĩ 50g, rau xà lách 200g, tương, sữa lượng vừa đủ. Gia vị gừng hành. Đổ nước vào nồi với sữa, tương, muối, đường, rượu, gừng hành. Nấu sôi vớt bỏ bọt cho chim vào hạ lửa nấu chín. Lấy chim ra rưới nước dùng lên trên.
Nhóm dược thiện (Chim cút + thuốc)
Can thận âm hư lưng đau gối mỏi, răng yếu: Chim cút 3 con (khoảng 400g), câu kỷ tử 30g, đỗ trọng 15g. Hầm chín ăn chim, uống nước (bỏ thuốc).
Già yếu, chóng mệt, sưng mặt, chân, da khô, sợ lạnh, phân lỏng.
Chim cút 2-3 con (300g), ngũ gia bì 18g, hoàng kỳ 45g, phục linh 30 (thuốc cho vào túi vải). Dùng lửa to cho sôi rồi hạ lửa, ninh chín nhừ. Bỏ túi thuốc. Ăn chim uống nước. Người âm hư hỏa vượng kiêng món này.
Bổ phế ích thận, kiện tỳ khai vị. Chữa ho các loại, suy nhược, đoản hơi (hụt hơi): Chim cút 5 con. Đông trùng hạ thảo 2g, canh gà 100g. Gừng, hành, hạt tiêu, muối. Chim cút mổ moi. Đông trùng hạ thảo chia 5 phần lấy mỗi phần cho vào bụng chim buột chặt lại. Đặt chim vào bát to, cho nước canh gia vị rồi đặt bát chưng cách thủy để ăn cái uống nước.
BS. Phó Thuần Hương

Thịt chim cút thơm ngon, giàu dinh dưỡng. Ngoài lượng protein cao, thịt chim cút còn chứa nhiều loại vitamin, khoáng chất, lecithin và một loạt các axit amin thiết yếu.
Nó còn được coi là loại thực phẩm điển hình chứa ít chất béo, ít cholesterol, đặc biệt thích hợp với người già, người huyết áp cao và béo phì.
Ngoài ra, thịt và trứng chim cút còn là liều thuốc dinh dưỡng điều trị nhiều loại bệnh; bổ cho ngũ tạng; chắc gân, xương và có thể trị suy nhược cơ thể, dưỡng gan, mát phổi.

Củ cải - Nhâm sâm mùa đông


Củ cải là thực phẩm tốt nhất trong các loại rau
Củ cải trắng là món ăn không thể thiếu của rất nhiều gia đình trong mùa đông, ngoài nấu canh, xào với thịt, kho thịt…củ cải còn có rất nhiều cách ăn mới và có hiệu quả chữa bệnh rất tốt.

Nguồn:
 Dân trí 
Củ cải càng “cay”, phòng ung thư càng tốt

Củ cải là thực phẩm tốt nhất trong các loại rau, thành phần dinh dưỡng phong phú, hàm chứa phong phú vitamin B và nhiều loại khoáng chất, trong đó hàm lượng vitamin C nhiều gấp 10 lần so với quả Lê. Củ cải còn có tác dụng chống vi rút, chống ung thư.

1. Trong củ cải hàm chứa nhiều chất xơ có thể kích thích dạ dày, đường ruột nhu động, giảm bớt thời gian lưu lại của “chất thải” ở trong đường ruột, phòng chống ung thư kết
tràng và ung thư trực tràng.

2. Acid ribose kép trong củ cải có tính chịu đựng khá cao đối với chất xúc tác ở trong
khoang miệng. Khi nuốt vào không dễ bị thoái biến, không có tác dụng phụ.

3. Trong củ cài hàm chứa dầu cải và glycoside, có thể phát huy tác dụng đối với nhiều
loại chất xúc tác, hình thành nên thành phần chống ung thư có vị cay cay. Vì vậy, củ cải
càng cay, thành phần này càng nhiều, khả năng chống ung thư cũng càng tốt.

Cách sử dụng củ cải để phòng chống bệnh tật
 
1. Củ cải luộc - tốt hơn cả thuốc dạ dày

Vitamin C ở trong củ cải có thể giúp bài trừ chất thải ở trong cơ thể, thúc đẩy cơ thể trao đổi chất cũ mới, đặc biệt là củ cải trắng hoặc củ cải nước giàu chất xúc tác có tác dụng thúc đẩy tiêu hóa. Thông thường, chất xúc tác có khả năng hấp thụ tinh bột trong thực phẩm, càng có thể hóa giải thức ăn tích trữ trong dạ dày, có tác dụng tiêu hóa rất tốt, phòng chống được đau dạ dày và loét dạ dày. Canh củ cải nấu với cải bắp kèm đậu phụ không những đem lại mùi vị rất ngon mà còn có thể gia tăng tiêu hóa, dưỡng dạ dày và giữ ấm cho cơ thể.

2. Kẹo củ cải - giảm nhẹ đau họng

Trong củ cải hàm chứa một lượng chất cay nhất định. Điều này làm cho củ cải có một vị cay tự nhiên. Ngoài ra, bản thân củ cải còn có chức năng trợ giúp tiêu hóa, đối với những người mùa đông hay bị tắc mũi, đau họng do cảm mang đến, có thể dùng củ cải để giải quyết những vấn đề nhức đầu này.

Băm nhỏ củ cải trắng ép thành nước, chuẩn bị một miếng vải mỏng hoặc lấy một miếng bông tăm nhúng vào nước củ cải. Sau đó cắm vào trong lỗ mũi. Làm từ 2-3 lần, mỗi lần
khoảng 5 phút, triệu chứng tắc mũi sẽ tự nhiên mất đi.

Người bị đau họng có thể tự chế cho mình một ít “ kẹo củ cải”. Lấy củ cải chia thành những miếng nhỏ, trộn vào một lượng mật ong thích hợp và muối, chờ cho củ cải nổi lên trên mật ong thì vớt ra, mỗi lần bị đau họng ăn một chút, bệnh tình sẽ dần dần giảm nhẹ.

3. Uống trà lá củ cải trắng - đẹp da

Ăn lá củ cải đẹp da, có thể bạn chưa được biết đến điều này hoặc cảm thấy ăn nhiều củ cái như thế mới có tác dụng làm đẹp? Thực ra chúng ta không cần ăn nhiều củ cải, tự mình làm một ít trà lá củ cải, như thế không những có thể hưởng thụ các giá trị dinh dưỡng của củ cải mà cũng không cần phải ăn nhiều củ cải.

Trong lá củ cải giàu vitamin A, vitamin C, đặc biệt là hàm lượng Vitamin C nhiều hơn 4 lần so với củ. Vitamin C có thể phòng chống da lão hóa, ngăn chặn hình thành các vết thâm nám, giữ cho da được trắng mềm. Ngoài ra, vitamin A và C đều có tác dụng chống oxy hóa, khống chế các bệnh ung thư, cũng có thể phòng chống lão hóa và xơ cứng động mạch vv..

Ngoài vitamin, hàm lượng chất xơ trong củ cải cũng khá nhiều, đặc biệt là chất xơ thực vật trong lá càng phòng phú. Các chất xơ thực vật này có thể xúc tiến dạ dày nhu động, tiêu trừ táo bón, có tác dụng bài trừ độc tố, từ đó cải thiện làn da thô ráp, mụn bọc vv.

Khi chúng ta làm trà là củ cải, đầu tiên rửa sạch lá củ cải, phơi khô 3-4 ngày, sau khi phơi khô, lấy 30g lá cho vào ấm nấu cùng với 1 lít nước, sau khi sổi chỉnh lửa nhỏ vừa, nấu thêm vài phút nữa, sau đó lọc nước ra uống. Nếu bạn cảm thấy mùi vị không ngon thì có thể thêm vào một ít đường thì sẽ dễ uống hơn.

4. Ăn củ cải sống - nhuận phổi

Củ cải tính mát có công dụng nhất định trong việc trị ho, nhuận phổi, đặc biệt là vào mùa đông, một số người thường xuất hiện nhiều đờm khô, phổi cũng không được thoải mái, lúc này ăn một ít củ cải sẽ có tác dụng hỗ trợ trị liệu.

Ăn củ cải sống vừa bổ sung nước cho cơ thể, có thể lợi tiểu, có ích cho sức khỏe.

Hiệu quả giảm đau của củ cải rất tốt. Điều này là do củ cải có chức năng lợi tiểu, có thể dùng để tẩy trừ sưng viêm, chất cay kháng khuẩn còn có thể hoạt lạc gân cốt, có hiệu quả giảm đau. Mùa đông nếu đau mỏi cơ bắp hoặc đau khớp, có thể trực tiếp lấy củ cải gọt vỏ, lấy vỏ đắp lên chỗ đau, cũng có thể bỏ vỏ củ cải vào trong một cái túi vải để chườm nóng. Khi bị đau răng, có thể đặt túi chườm nóng lên bề mặt da trên má, cũng có thể dùng bông tăm nhúng vào nước củ cải và đắp vào chỗ răng đau.

Củ cải làm món ăn không bị nóng, mùa đông lạnh chúng ta thường ăn nhiều thịt, ăn thịt sẽ sinh đờm, dễ bị nóng. Khi ăn thịt chúng ta nên kết hợp với một ít củ cải hoặc làm một số món ăn củ cải, như thế không dễ bị nóng và càng có tác dụng bổi bổ dinh dưỡng rất tốt.
Vĩnh Bảo sưu tầm 17/9/2012




Không có nhận xét nào: