Lycopene
Giới Thiệu Lycopene
Lycopene có sắc tố màu tím (hình 1 bên trái trên, tinh thể của Lycopene). Thành phần hóa học của Lycopene là C40H56, có kết cấu giống như hình 1 bên phải trên. Những thực phẩm có chứa Lycopene rất phổ biến như: cà chua, dưa hấu, cà tím, đu đủ, lựu, anh đào, lê, ớt ngọt…Kết cấu trên Lycopene thuộc loại Carotin (carotenoid), hiện giờ trên thế giới đã tìm thấy hơn 600 loại carotin, màu sắc giữa các loại khác nhau, màu vàng, màu cam, đỏ và tím…là sắc tố chính của trái cây, rau quả chín. Nhưng tại sao khi rau quả và trái cây chín tạo ra một lượng lớn Carotin cũng là điều cần phải phám phá.

Con người đã bắt đầu nghiên cứu đối với loại Lycopene Carotin này từ khá sớm.
*Con người tình cờ khám khá ra Lycopene bắt đầu từ năm 1873, do Hartsen lần đầu tiên chiết xuất được kết tinh Lycopene từ trái dâu tây nó có sắc tố màu đỏ đậm, nhưng độ tinh khiết rất thấp (Hartsen; Chem. Centr.,1873; 204).
*Hai năm sau, tức năm 1875, Millardet chiết xuất từ cà chua thu được Lycopene thô(Millardet; Bull. Soc. Sci. Nancy, 1875; 2: 21), nhưng không thể phân biệt rõ với carotin.
*Cho đến năm 1903, Schunck chiết xuất được Lycopene và carotin từ cà chua và chiết xuất ra carotin hấp thụ quang phổ khác nhau, và đặt tên là “lycopene” từ đó cái tên lycopene đã được xác nhận (Schunck, C.A. Proc. Royal Soc. London, 1903; 72: 165).
*Năm 1910, Willstaller và Escher nghiên cứu chất lycopene lần đầu tiên xác định được dạng phân tử của nó là C40H56, phân tử lượng là 536.85 (Willstatter, R. & Escher, H.H.Z.; Physiol. Chem., 1910;64: 47).
*Hai năm sau, tức năm 1875, Millardet chiết xuất từ cà chua thu được Lycopene thô(Millardet; Bull. Soc. Sci. Nancy, 1875; 2: 21), nhưng không thể phân biệt rõ với carotin.
*Cho đến năm 1903, Schunck chiết xuất được Lycopene và carotin từ cà chua và chiết xuất ra carotin hấp thụ quang phổ khác nhau, và đặt tên là “lycopene” từ đó cái tên lycopene đã được xác nhận (Schunck, C.A. Proc. Royal Soc. London, 1903; 72: 165).
*Năm 1910, Willstaller và Escher nghiên cứu chất lycopene lần đầu tiên xác định được dạng phân tử của nó là C40H56, phân tử lượng là 536.85 (Willstatter, R. & Escher, H.H.Z.; Physiol. Chem., 1910;64: 47).
*Năm 1930, nhóm Karrer chứng minh lycopene là một loại kết cấu hóa học trong đó chứa 11 cái khối liên kết và 2 cái phi liên kết của dạng ô xít các bon không bão hòa, thông qua sự hoàn hóa hình thành β-Carotene (Karrer, P,et al.; Pflanzenfarbstoffe. XXV. Leber die Konstitution des Lycopins und Carotins. Acta, 1930; 14: 154-162) ám chỉ β-carotin là tiền thân của lycopene.
Ngày nay, nhận thức của nhân loại về kết cấu hóa học của lycopene đã hoàn thiện. Nhưng đối với hiểu biết chức năng sinh học của nó còn cần phải nghiên cứu dài lâu. Cho đến thập niên 80 của thế kỷ trước, con người mới dần bắt đầu nhận thức rằng lycopene có thể chữa trị khối u, phòng bệnh tim mạch.
*Colditz GA, et al. Increased green and yellow vegetables intake and lowered cancer death in an elderly population. Am.J. Clin. Nutr. 1985;41: 3 (http://www.ajcn.org/cgi/reprint/41/1/32.pdf)
Ngày nay, nhận thức của nhân loại về kết cấu hóa học của lycopene đã hoàn thiện. Nhưng đối với hiểu biết chức năng sinh học của nó còn cần phải nghiên cứu dài lâu. Cho đến thập niên 80 của thế kỷ trước, con người mới dần bắt đầu nhận thức rằng lycopene có thể chữa trị khối u, phòng bệnh tim mạch.
*Colditz GA, et al. Increased green and yellow vegetables intake and lowered cancer death in an elderly population. Am.J. Clin. Nutr. 1985;41: 3 (http://www.ajcn.org/cgi/reprint/41/1/32.pdf)
*Ví dụ như, năm 1985 nghiên cứu sinh của viện y học thuộc đại học Harvard phát hiện ra, trong cuộc sống hằng ngày hấp thụ lượng nhiều carotin từ trái cây và rau quả thì tỷ lệ mắc các bệnh khối u sẽ thấp
*Snowdon D A,Gross M D,Butler S M.Antioxidants and reduced functional capacity in the elderly:findings from the nun study[J].J Gerontol Ser A Biol Sci Med Sci,1996;51:10-16。(http://biomed.gerontologyjournals.org/cgi/content/abstract/51/1/M10)
Ví dụ tiếp theo vào năm 1996 có báo cáo chỉ ra rằng hàm lượng carotin trong huyết tương cao hay thấp có liên quan đến khả năng tự trị liệu của người cao tuổi, cho nên cho rằng lycopene có khả năng phòng ngừa bệnh tật và bảo vệ chức năng của cơ thể của người cao tuổi.
★Rao AV. Lycopene, tomatoes, and the prevention of coronary heart disease. Exp Biol Med 2002;227 (10): 908-913)(http://www.ebmonline.org/cgi/reprint/ 227/10/908)。
★ Heber D & Lu QY. Overview of mechanisms of action of lycopene. Exp Biol Med 2002;227 (10): 920-923. (http://www.ebmonline.org/cgi/reprint/227/10/920) 。
Ngày càng có nhiều những minh chứng cho thấy lycopene là một chất phòng bệnh tim mạch cực tốt, ở đây hình như có liên quan đến lycopene là một loại chất chống oxy hóa mạnh.
★ (Boileau TW, et al. Bioavailability of all-trans and cis-isomers of lycopene. Exp Biol Med 2002; 227(10): 914–919)
*Snowdon D A,Gross M D,Butler S M.Antioxidants and reduced functional capacity in the elderly:findings from the nun study[J].J Gerontol Ser A Biol Sci Med Sci,1996;51:10-16。(http://biomed.gerontologyjournals.org/cgi/content/abstract/51/1/M10)
Ví dụ tiếp theo vào năm 1996 có báo cáo chỉ ra rằng hàm lượng carotin trong huyết tương cao hay thấp có liên quan đến khả năng tự trị liệu của người cao tuổi, cho nên cho rằng lycopene có khả năng phòng ngừa bệnh tật và bảo vệ chức năng của cơ thể của người cao tuổi.
★Rao AV. Lycopene, tomatoes, and the prevention of coronary heart disease. Exp Biol Med 2002;227 (10): 908-913)(http://www.ebmonline.org/cgi/reprint/ 227/10/908)。
★ Heber D & Lu QY. Overview of mechanisms of action of lycopene. Exp Biol Med 2002;227 (10): 920-923. (http://www.ebmonline.org/cgi/reprint/227/10/920) 。
Ngày càng có nhiều những minh chứng cho thấy lycopene là một chất phòng bệnh tim mạch cực tốt, ở đây hình như có liên quan đến lycopene là một loại chất chống oxy hóa mạnh.
★ (Boileau TW, et al. Bioavailability of all-trans and cis-isomers of lycopene. Exp Biol Med 2002; 227(10): 914–919)
(http://www.ebmonline.org/cgi/reprint/227/10/914)
Những tố chất lycopene tồn tại trong tự nhiên đều có kết cấu nghịch (hình 1 phải), nhưng qua quá trình đun nấu bằng nhiệt độ có thể làm cho nó chuyển thành kiểu kết cấu thuận, sấy khô cà chua hay bã cà chua cũng sẽ có biến đổi về kết cấu. Có một điều khá thú vị, cho dù khi hấp thụ vào cơ thể là kết cấu nghịch, khi đến cơ thể con người đa số lycopene sẽ bị chuyển hóa thành các loại kết cấu thuận. Cho nên, khi trong cơ thể con người là kết cấu gì thì mới phát huy được tác dụng quan trọng thì vẫn chưa biết rõ. (Boileau TW, et al).
Tuy nhiên, đối với tác dụng kháng khối u, giảm bệnh tim mạch…của Lycopene, đơn thuần chỉ giải thích bằng khả năng chống lão hóa thì không rõ ràng, do đó gần đây có không ít lý luận mới được đưa ra. Ví dụ như có những người đưa ra rằng chất chuyển hóa của lycopene (lycopenoids) có thể sẽ giống như những chất vitamin A, là đại diện điều khiển của đa số gen, từ đó phát huy chức năng sinh học to lớn. (hình 2)
Lindshield BL, et al. Lycopenoids: are lycopene metabolites bioactive? Arch Biochem Biophys 2007; 458(2):136-40. (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/17067545)
Mein JR, Lian F, Wang XD. Biological activity of lycopene metabolites: implications for cancer prevention. Nutr Rev 2008; 66(12):667-83. (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19019036)
Những tố chất lycopene tồn tại trong tự nhiên đều có kết cấu nghịch (hình 1 phải), nhưng qua quá trình đun nấu bằng nhiệt độ có thể làm cho nó chuyển thành kiểu kết cấu thuận, sấy khô cà chua hay bã cà chua cũng sẽ có biến đổi về kết cấu. Có một điều khá thú vị, cho dù khi hấp thụ vào cơ thể là kết cấu nghịch, khi đến cơ thể con người đa số lycopene sẽ bị chuyển hóa thành các loại kết cấu thuận. Cho nên, khi trong cơ thể con người là kết cấu gì thì mới phát huy được tác dụng quan trọng thì vẫn chưa biết rõ. (Boileau TW, et al).
Tuy nhiên, đối với tác dụng kháng khối u, giảm bệnh tim mạch…của Lycopene, đơn thuần chỉ giải thích bằng khả năng chống lão hóa thì không rõ ràng, do đó gần đây có không ít lý luận mới được đưa ra. Ví dụ như có những người đưa ra rằng chất chuyển hóa của lycopene (lycopenoids) có thể sẽ giống như những chất vitamin A, là đại diện điều khiển của đa số gen, từ đó phát huy chức năng sinh học to lớn. (hình 2)
Lindshield BL, et al. Lycopenoids: are lycopene metabolites bioactive? Arch Biochem Biophys 2007; 458(2):136-40. (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/17067545)
Mein JR, Lian F, Wang XD. Biological activity of lycopene metabolites: implications for cancer prevention. Nutr Rev 2008; 66(12):667-83. (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19019036)

Lycopene là chất chống oxy hóa mạnh nhất
Lycopene là loại chất chống oxy hóa, có chức năng kháng các gốc tự do mạnh, giảm áp lực oxy hóa trong cơ thể, giảm xác suất mắc bệnh tim mạch, ung thư và các căn bệnh liên quan đến các gốc tự do. Lycopene có thể tiếp nhận các dạng năng lượng điện tử kích thích khác nhau. Tác dụng này có thể làm cho năng lượng khí oxy một chiều tìm đến lycopene, tạo nên phân tử oxy cơ bản và phân tử lycopene 3 trạng thái, mà 3 trạng thái của lycopene được tạo ra bởi các yếu tố ánh sáng, dao động của dung môi. Bởi vậy, một phân tử lycopene có thể loại bỏ hàng ngàn phân tử oxy một chiều. carotin có khả năng dập tắt nhanh phân tử oxy một chiều và loại bỏ các gốc tự do hydrogen peroxide, nó có khả năng kiềm chế khả năng phá hoại phân tử oxy một chiều gấp 2 lần so với carotin-β .
Tác dụng kháng khối u của lycopene
Những báo cáo sớm nhất liên quan đến hoạt tính sinh học kháng khối u của lycopene là vào năm 1959, Ernster và Lindberg phát hiện chuột bị phóng xạ nhưng nếu được tiêm lycopene thì tỷ lệ sống sót được nâng cao, đồng thời có thể đề kháng sự lây nhiễm của vi khuẩn. Nghiên cứu của họ được chỉnh sửa và soạn thành hai bản luận văn, cụ thể như sau:
*Modification of the x-irradiation syndrome by lycopene. Exp Cell Res 1959 Jan; 16(1): 7-14. (chú ý: bản luận văn này không có chế bản điện tử)
*The promoting effect of lycopene on the non-specific resistance of animals. Exp Cell Res 1959 Feb; 16(2):384-93. (chú ý: bản luận văn này không có chế bản điện tử)
*Colditz GA, et al. Increased green and yellow vegetables intake and lowered cancer death in an elderly population. Am J Clin Nutr 1985;41: 32-36. (http://www.ajcn.org/cgi/reprint/41/1/32.pdf)
Cho đến đầu năm thập niên 80, các nhà nghiên cứu bắt đầu cho rằng tác dụng chống oxy hóa của lycopene có thể giúp giảm sự đột biến của DNA, từ đó dẫn đến giảm nguy cơ mắc bệnh khối u, đồng thời cũng giảm chứng do rối loạn mỡ máu mà dẫn đến bệnh tim mạch. Thế là bắt đầu có rất nhiều nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ giữa lượng hấp thụ những loại trái cây, rau quả có màu xanh và màu vàng và tỷ lệ mắc khối u. Năm 1985, một hạng mục nghiên cứu bệnh học tại người cao tuổi của Mỹ cho thấy, ăn lượng cà chua nhiều làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư.
Rất nhiều bệnh dịch học và nghiên cứu lâm sàn chứng minh cho thấy ăn những chế phẩm từ cà chua có thể giảm nguy cơ mắc ung thư, nhất là ung thư đường ruột và tuyến tiền liệt, mà lycopene là loại carotin chủ yếu trong chế phẩm cà chua. Cho nên, từ nhiều nghiên cứu mọi người có thể lý giải được mối quan hệ giữa lycopene và khối u, đồng thời ngày càng được coi trọng.
*Năm 1989, nhóm Morris bắt đầu thu thập các loại chỉ số dinh dưỡng sinh hóa trong huyết thanh của những người mắc khối u, lycopene được tìm kiếm và kết quả phát hiện trong huyết thanh của người mắc khối u có xu hướng tương đối thấp.
*Kathy J, et al. Selenium, lycopene, a-tocopherol, β-carotene, retinol, and subsequent bladder cancer. Cancer Res 1989; 49: 6144-6148. (http://cancerres.aacrjournals.org/cgi/reprint/49/21/6144)
*Năm 1991, Campbell phát hiện hàm lượng carotin trong huyết thanh của người mắc bệnh ung thư vú hơn thấp so với người bình thường. Potischman N, et al. Breast cancer and dietary and plasma concentrations of carotenoids and vitamin A. Am J Clin Nutr 52:909–915, 1990. (http://www.ajcn.org/cgi/reprint/52/5/909)
Năm 1992, nhóm nghiên cứu VanEenwyk phát hiện, hàm lượng lycopene trong huyết thanh và tỷ lệ nguy cơ mắc bệnh ung thư tử cung, ung thư bàng quang là có liên quan mật thiết với nhau. VanEenwyk J, et al. Folate, Vitamin C, and cervical intraepithelial neoplasia. Cancer Epidem Biomar 1992;1:119-124.(http://cebp.aacrjournals.org/cgi/reprint/1/2/119)
Năm 1994, một nghiên cứu từ năm 1985 của nhóm nhân viên nghiên cứ Italy đã báo cáo tỷ lệ xảy ra ung thư đường tiêu hóa và liều lượng sử dụng tương cà chua có liên quan mật thiết. Franceschi S, et al. Tomatoes and risk of digestive-tract cancers. Int J Cancer 1994; 59: l8l- l84. (http://www3.interscience.wiley.com/journal/112706964/abstract)
*Modification of the x-irradiation syndrome by lycopene. Exp Cell Res 1959 Jan; 16(1): 7-14. (chú ý: bản luận văn này không có chế bản điện tử)
*The promoting effect of lycopene on the non-specific resistance of animals. Exp Cell Res 1959 Feb; 16(2):384-93. (chú ý: bản luận văn này không có chế bản điện tử)
*Colditz GA, et al. Increased green and yellow vegetables intake and lowered cancer death in an elderly population. Am J Clin Nutr 1985;41: 32-36. (http://www.ajcn.org/cgi/reprint/41/1/32.pdf)
Cho đến đầu năm thập niên 80, các nhà nghiên cứu bắt đầu cho rằng tác dụng chống oxy hóa của lycopene có thể giúp giảm sự đột biến của DNA, từ đó dẫn đến giảm nguy cơ mắc bệnh khối u, đồng thời cũng giảm chứng do rối loạn mỡ máu mà dẫn đến bệnh tim mạch. Thế là bắt đầu có rất nhiều nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ giữa lượng hấp thụ những loại trái cây, rau quả có màu xanh và màu vàng và tỷ lệ mắc khối u. Năm 1985, một hạng mục nghiên cứu bệnh học tại người cao tuổi của Mỹ cho thấy, ăn lượng cà chua nhiều làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư.
Rất nhiều bệnh dịch học và nghiên cứu lâm sàn chứng minh cho thấy ăn những chế phẩm từ cà chua có thể giảm nguy cơ mắc ung thư, nhất là ung thư đường ruột và tuyến tiền liệt, mà lycopene là loại carotin chủ yếu trong chế phẩm cà chua. Cho nên, từ nhiều nghiên cứu mọi người có thể lý giải được mối quan hệ giữa lycopene và khối u, đồng thời ngày càng được coi trọng.
*Năm 1989, nhóm Morris bắt đầu thu thập các loại chỉ số dinh dưỡng sinh hóa trong huyết thanh của những người mắc khối u, lycopene được tìm kiếm và kết quả phát hiện trong huyết thanh của người mắc khối u có xu hướng tương đối thấp.
*Kathy J, et al. Selenium, lycopene, a-tocopherol, β-carotene, retinol, and subsequent bladder cancer. Cancer Res 1989; 49: 6144-6148. (http://cancerres.aacrjournals.org/cgi/reprint/49/21/6144)
*Năm 1991, Campbell phát hiện hàm lượng carotin trong huyết thanh của người mắc bệnh ung thư vú hơn thấp so với người bình thường. Potischman N, et al. Breast cancer and dietary and plasma concentrations of carotenoids and vitamin A. Am J Clin Nutr 52:909–915, 1990. (http://www.ajcn.org/cgi/reprint/52/5/909)
Năm 1992, nhóm nghiên cứu VanEenwyk phát hiện, hàm lượng lycopene trong huyết thanh và tỷ lệ nguy cơ mắc bệnh ung thư tử cung, ung thư bàng quang là có liên quan mật thiết với nhau. VanEenwyk J, et al. Folate, Vitamin C, and cervical intraepithelial neoplasia. Cancer Epidem Biomar 1992;1:119-124.(http://cebp.aacrjournals.org/cgi/reprint/1/2/119)
Năm 1994, một nghiên cứu từ năm 1985 của nhóm nhân viên nghiên cứ Italy đã báo cáo tỷ lệ xảy ra ung thư đường tiêu hóa và liều lượng sử dụng tương cà chua có liên quan mật thiết. Franceschi S, et al. Tomatoes and risk of digestive-tract cancers. Int J Cancer 1994; 59: l8l- l84. (http://www3.interscience.wiley.com/journal/112706964/abstract)
Nghiên cứu tiến triển quan trọng xuất hiện vào năm 1995.
*Giovannucci E, et al. Intake of carotenoids and retinol in relation to risk of prostate cancer. J. Natl. Cancer Inst. 1995; 87: 1767-1776. (http://jnci.oxfordjournals.org/cgi/content/abstract/87/23/1767)
*Giovannucci E, et al. Intake of carotenoids and retinol in relation to risk of prostate cancer. J. Natl. Cancer Inst. 1995; 87: 1767-1776. (http://jnci.oxfordjournals.org/cgi/content/abstract/87/23/1767)
Tác dụng điều tiết hệ thống miễn dịch của Lycopene
Lycopene có thể bảo vệ thực bào miễn tránh tổn thương oxy hóa bản thân, thúc đẩy tế bào limpho T, B tăng trưởng, kích thích hiệu ứng chức năng của tế bào T; làm tăng trưởng đại thực bào (macrophage), tế bào độc tính tế bào T và khả năng tự giết chết tế bào khối u, giảm sự tổn thương oxy hóa của tế bào bạch huyết DNA và thúc đẩy sản sinh interleukin nào đó, cho nên lycopene chức năng điều tiết hệ thống miễn dịch. Hiểu biết về tác dụng điều tiết đối với hệ miễn dịch của Lycopene tương đối muộn, nhưng gần đây xu hướng phát triển rất mạnh.
*Watzl B, et al. Modulation of human T-lymphocyte functions by the consumption of carotenoid-rich vegetables. British J Nut 1999; 82: 383–389. (http://journals.cambridge.org/download.php?file=%2FBJN%2FBJN82_05%2FS0007114599001634a.pdf&code=cf14a71f880384cd5d1724b76fbc7feb)
*Hughes DA. Effects of carotenoids on human immune function. Proceedings of the Nutrition Society 1999; 58: 713-718. (http://journals.cambridge.org/action/displayAbstract?fromPage=online&aid=800112)
*Porrini1 M & Riso P. Lymphocyte Lycopene Concentration and DNA Protection from Oxidative Damage Is Increased in Women after a Short Period of Tomato Consumption. J Nutr 2000; 130:189–192. (http://jn.nutrition.org/cgi/content/full/130/2/189) .
*Nahum A, et al. Lycopene inhibition of cell cycle progression in breast and endometrial cancer cells is associated with reduction in cyclin D levels and retention of p27Kip1 in the cyclin E-cdk2 complexes. Oncogene 2001; 20: 3428-3436. (http://www.nature.com/onc/journal/v20/n26/pdf/1204452a.pdf)
*Watzl B,et a1.Supplementation of a low-carotenoid diet with tomato or carrot juice modulates immune functions in healthy men.Ann Nutr Metab2003,47(6):255-261. (http://content.karger.com/ProdukteDB/produkte.asp?Aktion=ShowAbstract&ArtikelNr=72397&Ausgabe=229462&ProduktNr=223977)
*Briviba K, et al. Effects of supplementing a low-carotenoid diet with a tomato extract for 2 weeks on endogenous levels of DNA single strand breaks and immune functions in healthy non-smokers and smokers. Carcinogenesis 2004; 25: 2373-2378. (http://carcin.oxfordjournals.org/cgi/reprint/25/12/2373)
*Chew BP & Park JS. Carotenoid Action on the Immune Response. J Nutr 2004; 134: 257S-261S. (http://jn.nutrition.org/cgi/content/abstract/134/1/257S)
*Waltz B, et al. A 4-wk intervention with high intake of carotenoid-rich vegetables and fruit reduces plasma C-reactive protein in healthy, nonsmoking men. Am J Clin Nutr 2005; 82:1052-1058. (http://www.ajcn.org/cgi/reprint/82/5/1052)
*Hozawa A, et al. Relationships of circulating carotenoid concentrations with several markers of inflammation, oxidative stress, and endothelial dysfunction: The coronary artery risk development in young adults (CARDIA)/young adult longitudinal trends in antioxidants (YALTA) study. Clinical Chem 2007;53: 447-455. (http://www.clinchem.org/cgi/reprint/53/3/447)
*Watzl B, et al. Modulation of human T-lymphocyte functions by the consumption of carotenoid-rich vegetables. British J Nut 1999; 82: 383–389. (http://journals.cambridge.org/download.php?file=%2FBJN%2FBJN82_05%2FS0007114599001634a.pdf&code=cf14a71f880384cd5d1724b76fbc7feb)
*Hughes DA. Effects of carotenoids on human immune function. Proceedings of the Nutrition Society 1999; 58: 713-718. (http://journals.cambridge.org/action/displayAbstract?fromPage=online&aid=800112)
*Porrini1 M & Riso P. Lymphocyte Lycopene Concentration and DNA Protection from Oxidative Damage Is Increased in Women after a Short Period of Tomato Consumption. J Nutr 2000; 130:189–192. (http://jn.nutrition.org/cgi/content/full/130/2/189) .
*Nahum A, et al. Lycopene inhibition of cell cycle progression in breast and endometrial cancer cells is associated with reduction in cyclin D levels and retention of p27Kip1 in the cyclin E-cdk2 complexes. Oncogene 2001; 20: 3428-3436. (http://www.nature.com/onc/journal/v20/n26/pdf/1204452a.pdf)
*Watzl B,et a1.Supplementation of a low-carotenoid diet with tomato or carrot juice modulates immune functions in healthy men.Ann Nutr Metab2003,47(6):255-261. (http://content.karger.com/ProdukteDB/produkte.asp?Aktion=ShowAbstract&ArtikelNr=72397&Ausgabe=229462&ProduktNr=223977)
*Briviba K, et al. Effects of supplementing a low-carotenoid diet with a tomato extract for 2 weeks on endogenous levels of DNA single strand breaks and immune functions in healthy non-smokers and smokers. Carcinogenesis 2004; 25: 2373-2378. (http://carcin.oxfordjournals.org/cgi/reprint/25/12/2373)
*Chew BP & Park JS. Carotenoid Action on the Immune Response. J Nutr 2004; 134: 257S-261S. (http://jn.nutrition.org/cgi/content/abstract/134/1/257S)
*Waltz B, et al. A 4-wk intervention with high intake of carotenoid-rich vegetables and fruit reduces plasma C-reactive protein in healthy, nonsmoking men. Am J Clin Nutr 2005; 82:1052-1058. (http://www.ajcn.org/cgi/reprint/82/5/1052)
*Hozawa A, et al. Relationships of circulating carotenoid concentrations with several markers of inflammation, oxidative stress, and endothelial dysfunction: The coronary artery risk development in young adults (CARDIA)/young adult longitudinal trends in antioxidants (YALTA) study. Clinical Chem 2007;53: 447-455. (http://www.clinchem.org/cgi/reprint/53/3/447)
Nếu lycopene có thể điều tiết hệ miễn dịch của con người, có khả năng tiết ra interleukin -2 (IL-2) và interleukin-4 (IL-4), nâng cao sức miễn dịch của người già, mà cà rốt và cải bó xôi không có tác dụng này.
Tác dụng bảo vệ tuyến tiền liệt của Lycopene
*Giovannucci E, et al. Intake of carotenoids and Retinol in Relation to Risk of Prostate Cancer. J Natl Cancer Inst 1995; 87: 1767-1776. (http://jnci.oxfordjournals.org/cgi/content/abstract/87/23/1767)
*Gann PH, et al. Lower prostate cancer risk in men with elevated plasma lycopene levels. Cancer Res 1999; 59: 1225-1230. (http://cancerres.aacrjournals.org/cgi/reprint/59/6/1225) *Kotake-Nara K, et al. Carotenoids affect proliferation of human prostate cancer cells. J Nutr 2001; 131:3303-3306. (http://jn.nutrition.org/cgi/content/abstract/131/12/3303)
*Giovannucci E. A review of epidemiologic studies of tomatoes, Lycopene, and prostate cancer. Exp Biol Med 2002; 227: 852-859. (http://www.ebmonline.org/cgi/reprint/227/10/852)
Tuyến tiền liệt là cơ quan quan trọng đặc biệt của nam giới. Trong những chất carotin tích lũy tại tuyến tiền liệt, tỷ lệ lycopene cao nhất, cho nên nghiên cứu khả năng bảo vệ tuyến tiền liệt của Lycopene được triển khai rộng rãi trên thế giới. Chức năng chống oxy hóa của lycopene có thể giảm gây bệnh tuyến tiền liệt nam giới một cách hiệu quả. Những nghiên cứu lâm sàng và thống kê cho thấy, nam giới Italy và các nước thường xuyên ăn lượng cà chua nhiều, tỷ lệ mắc ung thư tuyến tiền liệt thấp hơn so với các nước khác. Vào năm 1995, chuyên gia nghiên cứu của viên y học Harvard đã phát hiện ra tỷ lệ trái ngược giữa lượng carotin và nguy cơ mắc bệnh. Nhân tố thực chất trong carotin là lycopene, mà không phải là các sắc tố khác.
*Obermuller-Jevic UC, et al. Lycopene inhibits the growth of normal human prostate epithelial cells in vitro. J Nutr 2003; 133: 3356 – 3360. (http://jn.nutrition.org/cgi/reprint/133/11/3356)
*Liu XX, et al. Lycopene inhibits IGF-I signal transduction and growth in normal prostate epithelial cells by decreasing DHT-modulated IGF-I production in co-cultured reactive stromal cells. Carcinogenesis 2008; 29: 816-823. (http://carcin.oxfordjournals.org/cgi/reprint/29/4/816)
Sự tăng trưởng khác thường của tế bào biểu bì tuyến tiền liệt, là nguyên nhân chính dẫn đến phì đại tuyến tiền liệt. Có báo cáo chỉ ra rằng lycopene có thể kiềm chế sự tăng trưởng của tế bào biểu bì tuyến tiền liệt, từ đó giảm bớt việc đi tiểu khó khăn do tuyến tiền liệt phình to gây ra.
*Schwarz S, et al. Lycopene inhibits disease progression in patients with benign prostate hyperplasia. J Nutr 2008; 138: 49–53. (http://jn.nutrition.org/cgi/reprint/138/1/49)
Gần đây đã có những căn cứu lâm sàng trực tiếp chứng minh rằng lycopene có thể giúp người mắc bệnh phì đại tuyến tiền liệt bị nặng thêm.
*Gann PH, et al. Lower prostate cancer risk in men with elevated plasma lycopene levels. Cancer Res 1999; 59: 1225-1230. (http://cancerres.aacrjournals.org/cgi/reprint/59/6/1225) *Kotake-Nara K, et al. Carotenoids affect proliferation of human prostate cancer cells. J Nutr 2001; 131:3303-3306. (http://jn.nutrition.org/cgi/content/abstract/131/12/3303)
*Giovannucci E. A review of epidemiologic studies of tomatoes, Lycopene, and prostate cancer. Exp Biol Med 2002; 227: 852-859. (http://www.ebmonline.org/cgi/reprint/227/10/852)
Tuyến tiền liệt là cơ quan quan trọng đặc biệt của nam giới. Trong những chất carotin tích lũy tại tuyến tiền liệt, tỷ lệ lycopene cao nhất, cho nên nghiên cứu khả năng bảo vệ tuyến tiền liệt của Lycopene được triển khai rộng rãi trên thế giới. Chức năng chống oxy hóa của lycopene có thể giảm gây bệnh tuyến tiền liệt nam giới một cách hiệu quả. Những nghiên cứu lâm sàng và thống kê cho thấy, nam giới Italy và các nước thường xuyên ăn lượng cà chua nhiều, tỷ lệ mắc ung thư tuyến tiền liệt thấp hơn so với các nước khác. Vào năm 1995, chuyên gia nghiên cứu của viên y học Harvard đã phát hiện ra tỷ lệ trái ngược giữa lượng carotin và nguy cơ mắc bệnh. Nhân tố thực chất trong carotin là lycopene, mà không phải là các sắc tố khác.
*Obermuller-Jevic UC, et al. Lycopene inhibits the growth of normal human prostate epithelial cells in vitro. J Nutr 2003; 133: 3356 – 3360. (http://jn.nutrition.org/cgi/reprint/133/11/3356)
*Liu XX, et al. Lycopene inhibits IGF-I signal transduction and growth in normal prostate epithelial cells by decreasing DHT-modulated IGF-I production in co-cultured reactive stromal cells. Carcinogenesis 2008; 29: 816-823. (http://carcin.oxfordjournals.org/cgi/reprint/29/4/816)
Sự tăng trưởng khác thường của tế bào biểu bì tuyến tiền liệt, là nguyên nhân chính dẫn đến phì đại tuyến tiền liệt. Có báo cáo chỉ ra rằng lycopene có thể kiềm chế sự tăng trưởng của tế bào biểu bì tuyến tiền liệt, từ đó giảm bớt việc đi tiểu khó khăn do tuyến tiền liệt phình to gây ra.
*Schwarz S, et al. Lycopene inhibits disease progression in patients with benign prostate hyperplasia. J Nutr 2008; 138: 49–53. (http://jn.nutrition.org/cgi/reprint/138/1/49)
Gần đây đã có những căn cứu lâm sàng trực tiếp chứng minh rằng lycopene có thể giúp người mắc bệnh phì đại tuyến tiền liệt bị nặng thêm.
Tác dụng đề phòng đối với căn bệnh tim mạch của Lycopene
*Kardinaal AF, et al. Antioxidants in adipose tissue and risk of myocardial infarction: the EURAMIC Study. Lancet 1993;342:1379–1384.
(http://www.sciencedirect.com/science?_ob=ArticleURL&_udi=B6T1B-49KC76B-GT&_user=10&_rdoc=1&_fmt=&_orig=search&_sort=d&_docanchor=&view=c&_acct=C000050221&_version=1&_urlVersion=0&_userid=10&md5=66914f490b732d19f2331ca89b148427)
*Gaziano JM, et al. A prospective study of consumption of carotenoids in fruits and vegetables and decreased cardiovascular mortality in the elderly. Ann Epidemiol 1995;5:255–260.(http://www.annalsofepidemiology.org/article/1047-2797(94)00090-G/abstract)
*Price JE, Fowkes FG. Antioxidant vitamins in the prevention of cardiovascular disease. The epidemiological evidence. Eur Heart J 1997;18:719–727. (http://eurheartj.oxfordjournals.org/cgi/reprint/18/5/719?maxtoshow=&HITS=10&hits=10&RESULTFORMAT=1&andorexacttitle=and&andorexacttitleabs=and&andorexactfulltext=and&searchid=1&FIRSTINDEX=0&sortspec=relevance&volume=18&firstpage=719&resourcetype=HWCIT)
*Kristenson M, et al. Antioxidant state and mortality from coronary heart disease in Lithuanian and Swedish men: concomitant cross sectional study of men aged 50. Br Med J 1997;314:629–633. (http://www.pubmedcentral.nih.gov/picrender.fcgi?artid=2126116&blobtype=pdf)
Chứng bệnh tim mạch - nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong của nhân loại, chiếm khoảng 35% tổng nguyên nhân tử vong. Từ rất sớm con người đã biết ăn nhiều rau quả trái cây có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và khối u, nhưng vẫn chưa biết rõ nguyên nhân. Vào khoảng 20 năm trước giới y học đã biết đến nguyên nhân chính của bệnh tim mạch là mỡ trong máu bị oxy hóa, từ đó nghĩ đến khả năng chống oxy hóa của lycopene có thể đề phòng có ích cho bệnh tim mạch. Thế là các nhà bệnh dịch học bắt đầu điều tra phương diện này. Báo cáo xuất hiện sớm nhất là vào năm 1993, trong vòng mấy năm đã cho ra hàng loạt báo cáo nghiên cứu mang tính liên quan giữa carotin và bệnh tim mạch.
*Hennekens CH, et al. Lack of effect of long-term supplementation with beta carotene on the incidence of malignant neoplasms and cardiovascular disease. N Engl J Med 1996; 334: 1145-1149. (http://content.nejm.org/cgi/content/abstract/334/18/1145)
*Omenn GS, et al. Effects of a combination of beta carotene and vitamin A on lung cancer and cardiovascular disease. N Engl J Med 1996; 334: 150-1155.(http://content.nejm.org/cgi/content/abstract/334/18/1150)
Trước đây cho rằng do tác dụng của carotin-β trong thức ăn. Nhưng khi đi sâu vào nghiên cứu sau đó năm 1996 trên tạp chí y học uy tín quốc tế (New England Journal of Medicine) đồng thời đăng hai bài luận văn xác định thường xuyên sử dụng carotin-β không có lợi ích gì đối với việc đề phòng khối u, bệnh tim mạch…thậm chí có thể gây phản ứng tác dụng phụ. Kết quả này khiến nhiều người thất vọng quay sang carotin.
*Kohlmeier L, et al. Lycopene and myocardial infarction risk in the EURAMIC Study. Am J Epidemiol 1997;146:618–626.(http://aje.oxfordjournals.org/cgi/reprint/146/8/618) *Rissanen T, et al. Low plasma lycopene concentration is associated with increased intimamedia thickness of the carotid artery wall. Arterioscler Thromb Vasc Biol 2000; 20:2677–2681. (http://atvb.ahajournals.org/cgi/reprint/20/12/2677.pdf)
*Klipstein-Grobusch K., et al. Serum carotenoids and atherosclerosis. The Rotterdam Study. Atherosclerosis 2000; 148: 49-56. (http://www.atherosclerosis-journal.com/article/S0021-9150(99)00221-X/abstract)
*Rissanen T, et al. Low serum lycopene concentration is associated with an excess incidence of acute coronary events and stroke: the Kuopio Ischaemic Heart Disease Risk Factor Study. Br J Nutr 2001; 85:743–754. (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/11430780)
Thế là, đến năm 1997 có nghiên cứu báo cáo carotin mới thật sự giúp chúng ta giảm nguy cơ bệnh tim mạch. Đồng thời Kohlmeier triển khai một hạng mục nghiên cứu đối với 1379 nam giới Châu Âu trên 10 quốc gia tiến hành nghiên cứu tình trạng sức khoẻ. Phát hiện hàm lượng lycopene cao trong cơ thể có liên quan với nguy cơ mắc bệnh tim mạch thấp.
*Fuhrman B, et al. Hypocholesterolemic effect of lycopene and beta-carotene is related to suppression of cholesterol synthesis and augmentation of LDL receptor activity in macrophages. Biochem Biophys Res Commun 1997; 233:658-62.(http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/9168909)
Báo cáo của Fuhrman cho rằng lycopene còn có chức năng điều tiết cholesterol, cho chất lycopene vào trong dung môi có thể ức chế sự hợp thành của đại thực bào cholesterol; trong nghiên cứu lâm sàng quy mô nhỏ phát hiện, liên tục trong 3 tháng mỗi ngày dùng 60 mg lycopene có thể giảm 14% cholesterol trong huyết tương.
*Arab L & Steck S. Lycopene and cardiovascular disease. Am J Clin Nutr 2000; 71(suppl): 1691S–1695S. (http://www.lycoredindia.com/linked_files/TI_2.pdf)
*Rao AV. Lycopene, tomatoes, and the prevention of coronary heart disease. Exp Biol Med 2002; 227: 908-913. (http://www.ebmonline.org/cgi/reprint/227/10/908)
*Rissanen T, et al. Lycopene, atherosclerosis, and coronary heart disease. Exp Biol Med 2002; 277: 900-907. (http://www.ebmonline.org/cgi/reprint/227/10/900)
*Howard D, et al. Dietary lycopene, tomato-based food products and cardiovascular disease in women. J Nutr 2003; 133: 2336-2341. (http://jn.nutrition.org/cgi/reprint/133/7/2336)
Nhiều nghiên cứu từ xưa đến nay đã chứng minh rõ ràng, lycopene mới có thể giúp đề phòng chứng xơ cứng động mạch, carotin-β thì kông có chức năng này.
(http://www.sciencedirect.com/science?_ob=ArticleURL&_udi=B6T1B-49KC76B-GT&_user=10&_rdoc=1&_fmt=&_orig=search&_sort=d&_docanchor=&view=c&_acct=C000050221&_version=1&_urlVersion=0&_userid=10&md5=66914f490b732d19f2331ca89b148427)
*Gaziano JM, et al. A prospective study of consumption of carotenoids in fruits and vegetables and decreased cardiovascular mortality in the elderly. Ann Epidemiol 1995;5:255–260.(http://www.annalsofepidemiology.org/article/1047-2797(94)00090-G/abstract)
*Price JE, Fowkes FG. Antioxidant vitamins in the prevention of cardiovascular disease. The epidemiological evidence. Eur Heart J 1997;18:719–727. (http://eurheartj.oxfordjournals.org/cgi/reprint/18/5/719?maxtoshow=&HITS=10&hits=10&RESULTFORMAT=1&andorexacttitle=and&andorexacttitleabs=and&andorexactfulltext=and&searchid=1&FIRSTINDEX=0&sortspec=relevance&volume=18&firstpage=719&resourcetype=HWCIT)
*Kristenson M, et al. Antioxidant state and mortality from coronary heart disease in Lithuanian and Swedish men: concomitant cross sectional study of men aged 50. Br Med J 1997;314:629–633. (http://www.pubmedcentral.nih.gov/picrender.fcgi?artid=2126116&blobtype=pdf)
Chứng bệnh tim mạch - nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong của nhân loại, chiếm khoảng 35% tổng nguyên nhân tử vong. Từ rất sớm con người đã biết ăn nhiều rau quả trái cây có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và khối u, nhưng vẫn chưa biết rõ nguyên nhân. Vào khoảng 20 năm trước giới y học đã biết đến nguyên nhân chính của bệnh tim mạch là mỡ trong máu bị oxy hóa, từ đó nghĩ đến khả năng chống oxy hóa của lycopene có thể đề phòng có ích cho bệnh tim mạch. Thế là các nhà bệnh dịch học bắt đầu điều tra phương diện này. Báo cáo xuất hiện sớm nhất là vào năm 1993, trong vòng mấy năm đã cho ra hàng loạt báo cáo nghiên cứu mang tính liên quan giữa carotin và bệnh tim mạch.
*Hennekens CH, et al. Lack of effect of long-term supplementation with beta carotene on the incidence of malignant neoplasms and cardiovascular disease. N Engl J Med 1996; 334: 1145-1149. (http://content.nejm.org/cgi/content/abstract/334/18/1145)
*Omenn GS, et al. Effects of a combination of beta carotene and vitamin A on lung cancer and cardiovascular disease. N Engl J Med 1996; 334: 150-1155.(http://content.nejm.org/cgi/content/abstract/334/18/1150)
Trước đây cho rằng do tác dụng của carotin-β trong thức ăn. Nhưng khi đi sâu vào nghiên cứu sau đó năm 1996 trên tạp chí y học uy tín quốc tế (New England Journal of Medicine) đồng thời đăng hai bài luận văn xác định thường xuyên sử dụng carotin-β không có lợi ích gì đối với việc đề phòng khối u, bệnh tim mạch…thậm chí có thể gây phản ứng tác dụng phụ. Kết quả này khiến nhiều người thất vọng quay sang carotin.
*Kohlmeier L, et al. Lycopene and myocardial infarction risk in the EURAMIC Study. Am J Epidemiol 1997;146:618–626.(http://aje.oxfordjournals.org/cgi/reprint/146/8/618) *Rissanen T, et al. Low plasma lycopene concentration is associated with increased intimamedia thickness of the carotid artery wall. Arterioscler Thromb Vasc Biol 2000; 20:2677–2681. (http://atvb.ahajournals.org/cgi/reprint/20/12/2677.pdf)
*Klipstein-Grobusch K., et al. Serum carotenoids and atherosclerosis. The Rotterdam Study. Atherosclerosis 2000; 148: 49-56. (http://www.atherosclerosis-journal.com/article/S0021-9150(99)00221-X/abstract)
*Rissanen T, et al. Low serum lycopene concentration is associated with an excess incidence of acute coronary events and stroke: the Kuopio Ischaemic Heart Disease Risk Factor Study. Br J Nutr 2001; 85:743–754. (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/11430780)
Thế là, đến năm 1997 có nghiên cứu báo cáo carotin mới thật sự giúp chúng ta giảm nguy cơ bệnh tim mạch. Đồng thời Kohlmeier triển khai một hạng mục nghiên cứu đối với 1379 nam giới Châu Âu trên 10 quốc gia tiến hành nghiên cứu tình trạng sức khoẻ. Phát hiện hàm lượng lycopene cao trong cơ thể có liên quan với nguy cơ mắc bệnh tim mạch thấp.
*Fuhrman B, et al. Hypocholesterolemic effect of lycopene and beta-carotene is related to suppression of cholesterol synthesis and augmentation of LDL receptor activity in macrophages. Biochem Biophys Res Commun 1997; 233:658-62.(http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/9168909)
Báo cáo của Fuhrman cho rằng lycopene còn có chức năng điều tiết cholesterol, cho chất lycopene vào trong dung môi có thể ức chế sự hợp thành của đại thực bào cholesterol; trong nghiên cứu lâm sàng quy mô nhỏ phát hiện, liên tục trong 3 tháng mỗi ngày dùng 60 mg lycopene có thể giảm 14% cholesterol trong huyết tương.
*Arab L & Steck S. Lycopene and cardiovascular disease. Am J Clin Nutr 2000; 71(suppl): 1691S–1695S. (http://www.lycoredindia.com/linked_files/TI_2.pdf)
*Rao AV. Lycopene, tomatoes, and the prevention of coronary heart disease. Exp Biol Med 2002; 227: 908-913. (http://www.ebmonline.org/cgi/reprint/227/10/908)
*Rissanen T, et al. Lycopene, atherosclerosis, and coronary heart disease. Exp Biol Med 2002; 277: 900-907. (http://www.ebmonline.org/cgi/reprint/227/10/900)
*Howard D, et al. Dietary lycopene, tomato-based food products and cardiovascular disease in women. J Nutr 2003; 133: 2336-2341. (http://jn.nutrition.org/cgi/reprint/133/7/2336)
Nhiều nghiên cứu từ xưa đến nay đã chứng minh rõ ràng, lycopene mới có thể giúp đề phòng chứng xơ cứng động mạch, carotin-β thì kông có chức năng này.
Tác dụng chống lão hóa của Lycopene
Tại sao chúng ta bị lão hóa? Hiện nay giới khoa học đang nghiên cứu hiện tượng bí mật ngàn năm này, và đã đưa ra mười mấy loại giả thuyết và lý luận, vào năm 1956 ông Herman là người đầu tiên đưa ra lý luận gốc tự do và nhận được sự đồng tình. Lý luận này cho rằng, suy yếu rất có thể là do các gốc tự do. Các gốc tự do này sẽ gây nên những rối loại các phản ứng và chuỗi phản ứng hóa học trong cơ thể, phá hủy màng tế bào, dẫn đến tổn thương. Việc duy trì tiêu chuẩn chất loại bỏ các gốc tự do đủ lượng trong cơ thể thì có thể hữ hiệu ngăn chặn tổn thương, đề phòng suy yếu, thậm chí kéo dài tuổi thọ.
*Harman, D. Aging: a theory based on free radical and radiation chemistry. Gerontology 1956; 11: 298–300.
Qua kiểm nghiệm xác định lycopene là chất kháng oxy hóa cực mạnh (antioxidant)trên thế giới.
*Di Mascio P., Kaiser S., Sies H. Lycopene as the most efficient biological carotenoid singlet oxygen quencher. Arch Biochem Biophys 1989; 274: 532-538. (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/2802626)
Khi thử nghiệm trên động vật, trong thức ăn có trộn lẫn chất kháng oxy hóa có nguồn gốc từ thực vật có thể kéo dài tuổi thọ của động vật thử nghiệm, vào thập niên 70 của thế kỷ trước đã có thực nghiệm chứng minh, vô số thử nghiệm sau này cũng chứng minh như thế, cho nên có thể chứng minh rằng “lycopene có tác dụng chống lão hóa tốt nhất”.
*Kohn RR. Effect of Antioxidants on Life-Span of C57BL Mice. J. Gerontology 1971; 26: 378-380. (http://geronj.oxfordjournals.org/cgi/reprint/26/3/378)
*Cutler RG. Antioxidants and aging. Am J Clin Nutr 1991; 53: 373S-379S. (http://www.ajcn.org/cgi/reprint/53/1/373S)
*Harman, D. Aging: a theory based on free radical and radiation chemistry. Gerontology 1956; 11: 298–300.
Qua kiểm nghiệm xác định lycopene là chất kháng oxy hóa cực mạnh (antioxidant)trên thế giới.
*Di Mascio P., Kaiser S., Sies H. Lycopene as the most efficient biological carotenoid singlet oxygen quencher. Arch Biochem Biophys 1989; 274: 532-538. (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/2802626)
Khi thử nghiệm trên động vật, trong thức ăn có trộn lẫn chất kháng oxy hóa có nguồn gốc từ thực vật có thể kéo dài tuổi thọ của động vật thử nghiệm, vào thập niên 70 của thế kỷ trước đã có thực nghiệm chứng minh, vô số thử nghiệm sau này cũng chứng minh như thế, cho nên có thể chứng minh rằng “lycopene có tác dụng chống lão hóa tốt nhất”.
*Kohn RR. Effect of Antioxidants on Life-Span of C57BL Mice. J. Gerontology 1971; 26: 378-380. (http://geronj.oxfordjournals.org/cgi/reprint/26/3/378)
*Cutler RG. Antioxidants and aging. Am J Clin Nutr 1991; 53: 373S-379S. (http://www.ajcn.org/cgi/reprint/53/1/373S)
Lycopene chuyển hóa và phân bố trong cơ thể con người
Lycopene là một loại sắc tố không tan trong nước. Sau khi đi và đường ruột trong cơ thể, sẽ bị mật hòa tan, tạo thành vi nang (micelle) sau đó mới được hấp thụ. Trạng thái thiên nhiên của lycopene tồn tại dưới dạng toàn nghịch (all-trans), sau khi đi vào dạ dày gặp dịch vị, sẽ chuyển hóa kết cấu, chuyển thành những dạng kết cấu thuận (cis-lycopene), rất nhiều học giả cho rằng chuyển hóa kết cấu này sẽ nâng cao hiệu suất sử dụng sinh vật của lycopene(bioavaibility). Cuối cùng người ta đã tìm thấy trong tổ chức cơ thể con người từ 15~18 loại kết cấu dị thể lycopene kiểu thuận, suy đoán chức năng sinh lý đa sắc của lycopene chính là đến từ những kết cấu dị thể kiểu thuận.
*Clinton SK, et al. Cis-trans lycopene isomers, carotenoids, and retinol in the human prostate. Cancer Epidemiol Biomarkers & Prev 1996; 5:823–833. ( http://cebp.aacrjournals.org/cgi/reprint/5/10/823)
*Boileaul TW, et al. Bioavailability of all-trans and cis-isomers of lycopene. Exp Biol Med 2002; 227:914–919. (http://www.ebmonline.org/cgi/reprint/227/10/914)
*Liu A, et al. Absorption and subcellular localization of lycopene in human prostate cancer cells. Mol Cancer Ther 2006; 5: 2879-85. (http://mct.aacrjournals.org/content/5/11/2879.full.pdf+html)
Lycopene sau khi được hấp thụ sẽ thông qua máu chuyển đến các tổ chức, chủ yếu tích tụ tại máu, gan, ruột, não và cơ quan sinh dục... Những bộ phận này cũng là tổ chức quan trọng của con người, cho nên tác dụng bảo vệ nội tạng con người trở nên rất nổi bật.
*Stahl W & Sies H. Uptake of lycopene and its geometrical isomers is greater from heat-processed than from unprocessed tomato juice in humans. J. Nutr. 1992; 122: 2161-2166. (http://jn.nutrition.org/cgi/reprint/122/11/2161.pdf)
Lycopene sau khi đi vào cơ thể con người trong khoảng 24~48 giờ mới đạt đến trữ lượng cao nhất trong máu, thời gian suy giảm khoảng 2~3 ngày. Cho nên, lycopene có thể tồn tại trong cơ thể người khoảng một tuần.
*uhl R, et al. Carotenoids and their metabolites are naturally occurring activators of gene expression via the pregnane X receptor. Eur J Nutr 2004; 43: 336–343. (http://www.springerlink.com/content/uudqbwlb7h0tu80e/)
Có rất nhiều tin cho rằng, lycopene sau khi ñi vào trong cơ thể bị sinh vật chuyển hóa thành phân tử càng nhỏ thì càng phát huy tác dụng, những nghiên cứu về lĩnh vực này trên đà phát triển cả chiều sâu và chiều rộng.
*Clinton SK, et al. Cis-trans lycopene isomers, carotenoids, and retinol in the human prostate. Cancer Epidemiol Biomarkers & Prev 1996; 5:823–833. ( http://cebp.aacrjournals.org/cgi/reprint/5/10/823)
*Boileaul TW, et al. Bioavailability of all-trans and cis-isomers of lycopene. Exp Biol Med 2002; 227:914–919. (http://www.ebmonline.org/cgi/reprint/227/10/914)
*Liu A, et al. Absorption and subcellular localization of lycopene in human prostate cancer cells. Mol Cancer Ther 2006; 5: 2879-85. (http://mct.aacrjournals.org/content/5/11/2879.full.pdf+html)
Lycopene sau khi được hấp thụ sẽ thông qua máu chuyển đến các tổ chức, chủ yếu tích tụ tại máu, gan, ruột, não và cơ quan sinh dục... Những bộ phận này cũng là tổ chức quan trọng của con người, cho nên tác dụng bảo vệ nội tạng con người trở nên rất nổi bật.
*Stahl W & Sies H. Uptake of lycopene and its geometrical isomers is greater from heat-processed than from unprocessed tomato juice in humans. J. Nutr. 1992; 122: 2161-2166. (http://jn.nutrition.org/cgi/reprint/122/11/2161.pdf)
Lycopene sau khi đi vào cơ thể con người trong khoảng 24~48 giờ mới đạt đến trữ lượng cao nhất trong máu, thời gian suy giảm khoảng 2~3 ngày. Cho nên, lycopene có thể tồn tại trong cơ thể người khoảng một tuần.
*uhl R, et al. Carotenoids and their metabolites are naturally occurring activators of gene expression via the pregnane X receptor. Eur J Nutr 2004; 43: 336–343. (http://www.springerlink.com/content/uudqbwlb7h0tu80e/)
Có rất nhiều tin cho rằng, lycopene sau khi ñi vào trong cơ thể bị sinh vật chuyển hóa thành phân tử càng nhỏ thì càng phát huy tác dụng, những nghiên cứu về lĩnh vực này trên đà phát triển cả chiều sâu và chiều rộng.
Liều lượng an toàn của Lycopene
Về liều lượng an toàn của lycopene là một đề tài có nhiều tranh luận, thực tế cũng chưa chưa từng có người tìm thấy độc tố tác dụng phụ gì của nó, cho nên tổ chức FDA Mỹ không có xác định liều lượng an toàn của lycopene.
Cũng chính vì vậy, các nước trên thế giới đều sử dụng lycopene như là thực phẩm dinh dưỡng mang tính an toàn, thực hiện lại nhiều thí nghiệm tương ứng.
(http://www.sciencedirect.com/science?_ob=ArticleURL&_udi=B6WPT-48GVTCH-1&_user=10&_rdoc=1&_fmt=&_orig=search&_sort=d&view=c&_acct=C000050221&_version=1&_urlVersion=0&_userid=10&md5=d7cb2052334cf2cfd3a8bf5a4227b7ec)
*Từ năm 2003 các nhà khoa học New Zealand và Tây Ban Nha cùng hợp tác với nhau thí nghiệm trên chuột tiến hành thử nghiệm độc tính Subchronic lần đầu tiên, liều lượng dùng cao nhất là 616 mg/ kg /ngày kéo dài trong 3 tháng, quan sát không có bất kỳ độc tính nào. Luận văn nghiên cứu độc tính đăng trên tạp chí y học chuyên nghiệp. Jonker, D. et al. Ninety-day oral toxicity study of lycopene from Blakeslea trispora in rats. Regul Toxicol Pharmacol 2003 Jun; 37(3):396-406. (http://www.sciencedirect.com/science?_ob=ArticleURL&_udi=B6WPT-4T9VPBC-1&_user=10&_rdoc=1&_fmt=&_orig=search&_sort=d&_docanchor=&view=c&_searchStrId=940683934&_rerunOrigin=scholar.google&_acct=C000050221&_version=1&_urlVersion=0&_userid=10&md5=947ab559146fe179fa776326a12b8d1e
Thử nghiệm tính an toàn của lycopene gần đây nhất là do công ty khoa học kỹ thuật sinh vật xanh bốn mùa – Đài Bắc(Green Seasons Biotech)hoàn thành vào năm 2008. Hạng mục nghiên cứu độc tính Subchronic này chứng minh, thử nghiệm cho chuột ăn lượng lycopene cao 2000 mg/kg/ngày, không tìm thất bất kỳ độc tính xuất hiện trên con chuột thử nghiệm. Nghiên cứu này đăng trên tạp chí chuyền đề nghiên cứu độc tính. Jian WQ,et al. Twenty-eight-day oral toxicity study of lycopene from recombinant Escherichia coli in rats. Regul Toxicol Pharmacol 2008; 52:163-168.
Tính an toàn của Lycopene, hiện còn đang thử nghiệm đối với động vật mang thai không có ảnh hưởng đến sinh đẻ, không quan sát được dị dạng đối với đời sau. Cho nên lycopene đối với thai phụ cũng có tính an toàn cao.
★Zbinden, G. & Studer, A. Tierexperimentelle untersuchungen uber die chronische vertraglichkeit von _-carotin, lycopin, 7,7_-dihydro-_-carotin und bixin. Zeitsch. Lebensmittelunters. Forsch. 1958;108: 114–134.
★McClain, R. M. & Bausch, J. (2003) Summary of safety studies conducted with synthetic lycopene. Regul. Toxicol. Pharmacol. 2003; 37: 274–285. (http://www.sciencedirect.com/science?_ob=ArticleURL&_udi=B6WPT-487KK3J-2&_user=10&_rdoc=1&_fmt=&_orig=search&_sort=d&_docanchor=&view=c&_searchStrId=940684338&_rerunOrigin=scholar.google&_acct=C000050221&_version=1&_urlVersion=0&_userid=10&md5=dcd438ce9f0626a2de2b16b878886ca1)
*Cho chuột có thai dùng lycopene liều cao đến 1000 mg/kg/ngày tổng cộng 200 ngày, trong khoảng thời gian đó không quan sát được bất kỳ ảnh hưởng của lycopene đối với con chuột bị sảy thai, số lượng dị dạng…(http://www.sciencedirect.com/science?_ob=ArticleURL&_udi=B6T6P-48BKMT3-2&_user=10&_rdoc=1&_fmt=&_orig=search&_sort=d&_docanchor=&view=c&_searchStrId=940682534&_rerunOrigin=scholar.google&_acct=C000050221&_version=1&_urlVersion=0&_userid=10&md5=177e66a1d34317a6a924249c81530dbe)
*Cho chuột và thỏ mang thai dùng liều lượng lycopene cao đến 3000 mg/kg/ngày, không phát hiện bất kỳ ảnh hưởng đối với cân nặng, phôi thai trưởng thành, hình dạng xương cốt đời sau…Cho nên, dự tính đơn giản một người cân nặng 70 kg có thể mỗi ngày sử dụng 210 g lycopene. Christian, M. S., et al. Developmental (embryo-fetal toxicity/teratogenicity) toxicity studies of synthetic crystalline lycopene in rats and rabbits. Food Chem. Toxicol. 2003; 41: 773–783.
Trên cơ thể con người, cũng có nhiều dữ liệu thử nghiệm, vẫn không thấy liều lượng giới hạn cao nhất. Duy nhất chỉ có 1 báo cáo tác dụng phụ là “một phụ nữ người Ý 60 tuổi mỗi ngày uống 2 lít nước cà chua sau vài năm, trên da xuất hiện sắc tố màu cam trầm lắng, nhưng sau khi ngưng uống 3 tuần màu da trở lại bình thường”. Phân tích kỹ lưỡng kết quả, trong ca này sắc tố trầm lắng của da không phải là lycopene, mà là các sắc tố khác hàm chứa trong cà chua.
Dựa trên dữ liệu của các thử nghiệm trên động vật và con người, viện nghiên cứu y học IOM (Institute of Medicine) thuộc Viện khoa học quốc gia Mỹ(National Academy of Sciences)quyết định không giới hạn lượng lượng lycopene .
(Tham khảo Dietary Reference Intakes: The Essential Guide to Nutrient Requirements,Jennifer J. Otten, Jennifer Pitzi Hellwig, Linda D. Meyers, Editors,http://www.nap.edu/catalog/11537.html】
Cũng chính vì vậy, các nước trên thế giới đều sử dụng lycopene như là thực phẩm dinh dưỡng mang tính an toàn, thực hiện lại nhiều thí nghiệm tương ứng.
(http://www.sciencedirect.com/science?_ob=ArticleURL&_udi=B6WPT-48GVTCH-1&_user=10&_rdoc=1&_fmt=&_orig=search&_sort=d&view=c&_acct=C000050221&_version=1&_urlVersion=0&_userid=10&md5=d7cb2052334cf2cfd3a8bf5a4227b7ec)
*Từ năm 2003 các nhà khoa học New Zealand và Tây Ban Nha cùng hợp tác với nhau thí nghiệm trên chuột tiến hành thử nghiệm độc tính Subchronic lần đầu tiên, liều lượng dùng cao nhất là 616 mg/ kg /ngày kéo dài trong 3 tháng, quan sát không có bất kỳ độc tính nào. Luận văn nghiên cứu độc tính đăng trên tạp chí y học chuyên nghiệp. Jonker, D. et al. Ninety-day oral toxicity study of lycopene from Blakeslea trispora in rats. Regul Toxicol Pharmacol 2003 Jun; 37(3):396-406. (http://www.sciencedirect.com/science?_ob=ArticleURL&_udi=B6WPT-4T9VPBC-1&_user=10&_rdoc=1&_fmt=&_orig=search&_sort=d&_docanchor=&view=c&_searchStrId=940683934&_rerunOrigin=scholar.google&_acct=C000050221&_version=1&_urlVersion=0&_userid=10&md5=947ab559146fe179fa776326a12b8d1e
Thử nghiệm tính an toàn của lycopene gần đây nhất là do công ty khoa học kỹ thuật sinh vật xanh bốn mùa – Đài Bắc(Green Seasons Biotech)hoàn thành vào năm 2008. Hạng mục nghiên cứu độc tính Subchronic này chứng minh, thử nghiệm cho chuột ăn lượng lycopene cao 2000 mg/kg/ngày, không tìm thất bất kỳ độc tính xuất hiện trên con chuột thử nghiệm. Nghiên cứu này đăng trên tạp chí chuyền đề nghiên cứu độc tính. Jian WQ,et al. Twenty-eight-day oral toxicity study of lycopene from recombinant Escherichia coli in rats. Regul Toxicol Pharmacol 2008; 52:163-168.
Tính an toàn của Lycopene, hiện còn đang thử nghiệm đối với động vật mang thai không có ảnh hưởng đến sinh đẻ, không quan sát được dị dạng đối với đời sau. Cho nên lycopene đối với thai phụ cũng có tính an toàn cao.
★Zbinden, G. & Studer, A. Tierexperimentelle untersuchungen uber die chronische vertraglichkeit von _-carotin, lycopin, 7,7_-dihydro-_-carotin und bixin. Zeitsch. Lebensmittelunters. Forsch. 1958;108: 114–134.
★McClain, R. M. & Bausch, J. (2003) Summary of safety studies conducted with synthetic lycopene. Regul. Toxicol. Pharmacol. 2003; 37: 274–285. (http://www.sciencedirect.com/science?_ob=ArticleURL&_udi=B6WPT-487KK3J-2&_user=10&_rdoc=1&_fmt=&_orig=search&_sort=d&_docanchor=&view=c&_searchStrId=940684338&_rerunOrigin=scholar.google&_acct=C000050221&_version=1&_urlVersion=0&_userid=10&md5=dcd438ce9f0626a2de2b16b878886ca1)
*Cho chuột có thai dùng lycopene liều cao đến 1000 mg/kg/ngày tổng cộng 200 ngày, trong khoảng thời gian đó không quan sát được bất kỳ ảnh hưởng của lycopene đối với con chuột bị sảy thai, số lượng dị dạng…(http://www.sciencedirect.com/science?_ob=ArticleURL&_udi=B6T6P-48BKMT3-2&_user=10&_rdoc=1&_fmt=&_orig=search&_sort=d&_docanchor=&view=c&_searchStrId=940682534&_rerunOrigin=scholar.google&_acct=C000050221&_version=1&_urlVersion=0&_userid=10&md5=177e66a1d34317a6a924249c81530dbe)
*Cho chuột và thỏ mang thai dùng liều lượng lycopene cao đến 3000 mg/kg/ngày, không phát hiện bất kỳ ảnh hưởng đối với cân nặng, phôi thai trưởng thành, hình dạng xương cốt đời sau…Cho nên, dự tính đơn giản một người cân nặng 70 kg có thể mỗi ngày sử dụng 210 g lycopene. Christian, M. S., et al. Developmental (embryo-fetal toxicity/teratogenicity) toxicity studies of synthetic crystalline lycopene in rats and rabbits. Food Chem. Toxicol. 2003; 41: 773–783.
Trên cơ thể con người, cũng có nhiều dữ liệu thử nghiệm, vẫn không thấy liều lượng giới hạn cao nhất. Duy nhất chỉ có 1 báo cáo tác dụng phụ là “một phụ nữ người Ý 60 tuổi mỗi ngày uống 2 lít nước cà chua sau vài năm, trên da xuất hiện sắc tố màu cam trầm lắng, nhưng sau khi ngưng uống 3 tuần màu da trở lại bình thường”. Phân tích kỹ lưỡng kết quả, trong ca này sắc tố trầm lắng của da không phải là lycopene, mà là các sắc tố khác hàm chứa trong cà chua.
Dựa trên dữ liệu của các thử nghiệm trên động vật và con người, viện nghiên cứu y học IOM (Institute of Medicine) thuộc Viện khoa học quốc gia Mỹ(National Academy of Sciences)quyết định không giới hạn lượng lượng lycopene .
(Tham khảo Dietary Reference Intakes: The Essential Guide to Nutrient Requirements,Jennifer J. Otten, Jennifer Pitzi Hellwig, Linda D. Meyers, Editors,http://www.nap.edu/catalog/11537.html】
Vĩnh Bảo sưu tầm 8/9/2012
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét