BS. Hoàng Tuấn Long
Chọn thời điểm uống thuốc cho thích hợp để có thể nâng cao được hiệu quả trị liệu, song lại làm giảm thiểu các phản ứng của thuốc và tác dụng không mong là việc không dễ dàng.
Cụ thể là thuốc ngủ cần uống vào tối, trước khi ngủ, thuốc giảm đau, hạ nhiệt phải uống khi có sốt, đau. Mặt khác, cần dựa vào yếu tố dược lý ảnh hưởng về nhịp sinh học đối với tác dụng của thuốc như thuốc làm giảm tiết dịch vị nên uống buổi tối trước khi đi ngủ, bởi thời điểm này acid clohydric được tiết ra. Song còn phải lưu ý đến sự tương tác của thuốc với thực phẩm, thức uống mà quyết định có uống thuốc trong bữa ăn hay uống xa bữa ăn trước hoặc sau. Bên cạnh đó, cần chú ý đến các loại thuốc giữa chúng có tương tác với nhau để quyết định uống chung hay phải tách các loại thuốc có thể tương tác uống cách xa nhau… Điều cuối cùng là thuốc có gây phản ứng với cơ địa người dùng không để quyết định dùng hay không.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực dược học người ta vẫn có những nguyên tắc chung trong cách chọn thời điểm để uống thuốc. Dưới đây xin nêu một vài điểm:
![]() |
Các loại thuốc có thể uống tùy ý, tức không liên quan đến bữa ăn hoặc thời gian sinh học như augmentin, digoxin…
Thuốc nên uống vào buổi sáng và ban ngày như là các loại thuốc corticoid nên uống 1 liều vào buổi sáng khoảng 6 - 8 giờ để duy trì nồng độ thuốc trong máu luôn được ổn định. Đồng thời khiến cho tác dụng phụ nếu xuất hiện sẽ giảm đi rất nhiều, bởi trong thời điểm này là khi nồng độ hydrocortison cao nhất trong ngày; mặt khác, thuốc không làm phá vỡ hoạt động sinh lý của tuyến thượng thận.
Thuốc chống tăng huyết áp cũng nên uống vào buổi sáng, vì hiện tượng tăng huyết áp thường xảy ra vào trưa và chiều, do vậy, thời điểm này sẽ giúp khống chế huyết áp tăng nhờ sự có mặt của thuốc.
Thuốc kích thích thần kinh trung ương như caffein hay thuốc lợi tiểu cần uống ban ngày để tránh ảnh hưởng tới giấc ngủ.
Thuốc cần uống tối hay trước khi ngủ: Tất cả các loại thuốc an thần vì uống vào thời điểm này giúp thuốc phát huy được tác dụng. Kể cả các thuốc kháng acid (đã nói trên) cũng cần uống vào trước ngủ.
Thuốc chống hen suyễn nên uống vào tối vì giúp nồng độ thuốc thường trực trong máu sẽ khống chế, ngăn cản hiệu quả thời điểm bệnh hen thường xuất hiện từ 12 giờ đêm đến 2 giờ sáng, là thời gian cơ thể dễ mẫn cảm nhất tới acethylcholin và histamin dẫn đến co thắt phế quản gây hen.
Để phát huy hiệu quả trong việc sử dụng thuốc, cần tuân theo sự hướng dẫn của thầy thuốc về thời điểm uống thuốc, liều lượng trong ngày, khoảng cách giữa các lần uống, tổng liều điều trị mới đạt kết quả cao.
Uống thuốc thế nào để đạt hiệu quả cao?
Việc lựa chọn thời điểm uống thuốc hợp lý là một yếu tố quan trọng giúp thuốc đạt được nồng độ cao trong máu, nâng cao hiệu quả điều trị cũng như giảm đi các tác dụng không mong muốn.

Để chọn được một thời điểm uống thuốc hợp lý phải căn cứ vào rất nhiều yếu tố. Thứ nhất phải căn cứ vào mục đích dùng thuốc, chẳng hạn như thuốc ngủ thì phải uống vào buổi tối trước khi đi ngủ, thuốc hạ sốt, giảm đau uống khi có sốt hoặc đau. Thứ hai là yếu tố dược lý thời khắc, tức là ảnh hưởng của nhịp sinh học đối với tác dụng của thuốc. Ví dụ, thuốc giảm tiết dịch vị nên uống vào buổi tối trước khi đi ngủ vì HCl tiết nhiều vào ban đêm. Thứ ba, phải xem xét đến tương tác giữa thuốc với đồ ăn và nước uống để quyết định uống thuốc trong bữa ăn hay xa bữa ăn. Cuối cùng là phải căn cứ vào tương tác giữa các thuốc với nhau để xem có thể dùng thuốc cùng nhau hay phải dùng cách xa.
Mặc dù vậy vẫn có một số nguyên tắc chung trong chọn thời điểm uống thuốc:
Thuốc nên uống vào bữa ăn
Đó là các loại thuốc kích thích tiêu hóa (như rượu khai vị kích thích bài tiết dịch vị, hay các enzym tiêu hóa pepsin, pancreatin) nên uống trước bữa ăn 10 - 15 phút. Thuốc điều trị đái tháo đường loại ức chế men gluconidase cũng nên uống vào thời điểm này để ngăn chặn việc hấp thu glucose từ bữa ăn.
Những thuốc kích ứng mạnh đường tiêu hóa như doxycyclin, kháng sinh quinolon, muối kali... nên uống vào lúc ăn để giảm kích ứng mà không ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc vì thức ăn không làm giảm hấp thu các thuốc này. Còn với thuốc kích ứng tiêu hóa mạnh nhưng lại bị thức ăn làm giảm hấp thu thì cần phải có những biện pháp khắc phục nhất định. Ví dụ như với trường hợp aspirin, kích ứng niêm mạc tiêu hóa mạnh nhưng sự hấp thu thuốc lại giảm khi ăn no, thì cần phải sử dụng cùng thuốc bao che niêm mạc dạ dày để có thể uống thuốc trước khi ăn; còn nếu muốn uống sau khi ăn thì phải dùng dạng lỏng hoặc dạng sủi bọt (vì dạng bào chế này không bị thức ăn cản trở hấp thu, trong khi aspirin dạng viên nén uống khi ăn bị thức ăn làm giảm sinh khả dụng 50%).
Những thuốc được thức ăn làm tăng hấp thu cũng nên uống cùng bữa ăn. Chẳng hạn như thức ăn giàu chất béo kích thích sự tiết mật nên tạo điều kiện cho việc hấp thu các chất tan nhiều trong mỡ như các vitamin, griseofulvin... Hay các muối khoáng cũng được hấp thu nhiều trong bữa ăn do thức ăn hoạt hóa hệ thống enzym vận chuyển các chất qua thành ruột.
Ngoài ra, các thuốc hấp thu quá nhanh lúc đói dễ gây tác dụng phụ do tăng nồng độ đột ngột trong máu như levodopa, diazepam... nên uống vào lúc no.
Thuốc nên uống xa bữa ăn (30 phút - 1 giờ trước khi ăn, 1 - 2 giờ sau khi ăn).
Thứ nhất là những thuốc bị giảm hấp thu do thức ăn như isoniazid, atenolol, sắt sulfat...
Thứ hai là những thuốc cần giảm thời gian lưu trong dạ dày vì nếu uống lúc đói, thuốc chỉ lưu lại dạ dày từ 10 - 30 phút, nhưng uống vào bữa ăn, thuốc có thể lưu lại dạ dày từ 1 - 4 giờ. Trường hợp này là những thuốc kém bền trong môi trường acid (ampicilin, erythromycin...) hay viên bao tan trong ruột, viên bao kiểm soát giải phóng khi bị lưu giữ lâu ở dạ dày màng bao có thể bị vỡ, gây ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc.
Bên cạnh đó, có một số thuốc do cơ chế tác dụng cũng cần uống xa bữa ăn. Như thuốc "bọc" dạ dày sulcrafat nên uống trước bữa ăn 1 giờ để kịp thời tạo màng bảo vệ dạ dày trước khi thức ăn có mặt. Hay antacid phải uống sau ăn 1 giờ để trung hòa acid thừa sau khi đã tiêu hóa, nếu uống trước khi ăn sẽ gây hiện tượng giảm toan trong bữa ăn, cản trở sự tiêu hóa thức ăn.
Thuốc có thể uống vào thời điểm tùy ý: augmentin, digoxin...
Thuốc nên uống vào buổi sáng, ban ngày: Các thuốc corticoid nên uống 1 liều vào buổi sáng khoảng 6 - 8 giờ để duy trì nồng độ thuốc ổn định trong máu, đồng thời khiến cho tác dụng phụ (nếu có) sẽ nhẹ đi rất nhiều. Vì đây là thời điểm nồng độ hydrocortison cao nhất trong ngày, uống thuốc lúc này sẽ không phá vỡ nhịp sinh lý hoạt động của tuyến thượng thận.
Thuốc chống tăng huyết áp nên uống vào buổi sáng vì hiện tượng tăng huyết áp hay xảy ra vào buổi trưa và buổi chiều.
Thuốc kích thích thần kinh trung ương (caffein...), thuốc lợi tiểu nên uống vào ban ngày để tránh ảnh hưởng đến giấc ngủ.
Thuốc nên uống vào buổi tối, trước khi đi ngủ
Các loại thuốc ngủ, thuốc an thần cần uống vào thời điểm này để phát huy tác dụng của chúng.
Thuốc kháng acid, điều trị loét dạ dày nên uống trước khi đi ngủ với nguyên nhân đã nói ở trên.
Thuốc chống hen nên uống vào buổi tối vì từ 12 giờ đêm đến 2 giờ sáng là thời gian người bệnh mẫn cảm nhất với achetyl cholin và histamin dẫn đến co thắt phế quản. Uống thuốc vào thời điểm đó sẽ giúp đề phòng và giảm nhẹ cơn hen xảy ra.
Như vậy có được sự hợp tác của người bệnh trong việc dùng đúng loại thuốc, đủ liều và dùng thuốc vào thời điểm hợp lý trong ngày theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ, dược sĩ là nhân tố vô cùng quan trọng giúp điều trị thành công.
Theo sk&đs
Uống thuốc đúng cách
Dược phẩm sau khi nuốt sẽ đi “ngao du” từ dạ dày hoặc ruột non rồi đi vào hệ tuần hoàn máu sau đó sẽ được máu “áp tải” tới các cơ quan, bộ phận của cơ thể. Quá trình này gọi là sự hấp thu thuốc. Sự hấp thu thuốc phụ thuốc vào rất nhiều yếu tố, chẳng hạn như dạng thuốc mà bệnh nhân sử dụng (viên nén, viên trần hay viên bao film, thuốc nước…), uống thuốc trước khi ăn, sau ăn, hoặc bụng đói, sự phản ứng hóa học giữa dược phẩm và dịch acid trong hệ tiêu hóa, sự tương tác giữa dược phẩm này khi uống chung với các loại dược phẩm khác…
|
Cần phải tuân thủ hướng dẫn khi dùng thuốc. Ảnh minh họa
|
Dạng viên nén và viên nang
Một cách dùng rất phổ thông là uống chung với nước đun sôi để nguội. Không uống chung với những loại nước khác như nước ép trái cây. Ví dụ như uống chung thuốc hạ cholesterol statins và thuốc Viagra sẽ gây ra những tác dụng phụ rất nguy hiểm. Còn sữa sẽ “phế vỏ công” của các loại kháng sinh, chẳng hạn như Ciprofloxacin.
Khi sử dụng dược phẩm đường uống, cần hỏi thầy thuốc uống lúc đói hay lúc no, sau hay trong khi ăn… Đây là khâu quan trọng vì thực phẩm trong dạ dày hoặc ruột non có thể can thiệp vào quá trình hòa tan của thuốc và làm ảnh hưởng đến hấp thu thuốc.
Cũng cần lưu ý là không nên bẻ, nghiền hay nhai trước khi nuốt. Có rất nhiều loại viên nén được “thiết kế” để cho tác động kéo dài bằng cách được bao film và đòi hỏi phải được nuốt nguyên viên.
Dạng thuốc lỏng
Thuốc dạng lỏng thì rất thích hợp cho trẻ em và người già vì những đối tượng này rất thường hay gặp tình trạng khó nuốt thuốc. Có rất nhiều thuốc dạng lỏng dành cho trẻ em được cho thêm mùi vị nhằm che dấu mùi vị khó chịu của thuốc.
Đối với những loại thuốc dạng lỏng thì trước khi uống cần phải lắc chai. Trước đây, để đong liều thuốc nước người ta thường dùng muỗng cà phê tương đương với 5ml. Tuy nhiên do sau này có nhiều loại muỗng dung tích khác nhau nên thuốc dạng lỏng phải được đo lường bằng một dụng cụ chính xác như ly có chia vạch thể tích…
Khi thuốc dạng lỏng được bác sĩ kê cho một trẻ sơ sinh thì các bà mẹ cần phải kiểm tra liều dùng, cách dùng với một bác sĩ nhi khoa.
Thuốc ngậm dưới lưỡi
Rất nhiều dạng thuốc đường miệng được sử dụng bằng cách đặt dưới lưỡi (sublingual) hoặc ở khoang giữa răng dưới và môi dưới. Những loại dược phẩm này được hấp thu một cách rất nhanh chóng vào tuần hoàn máu nhằm mang lại tác động cấp thời. Những dược phẩm loại này thường là những chế phẩm nitroglycerin được dùng trong các bệnh đau thắt ngực hoặc những loại dược phẩm dùng cai nghiện heroin hoặc cai nghiện các loại thuốc giảm đau loại narcotic.
Những loại dược phẩm dùng đường miệng khác
Một số loại dược phẩm dùng đường miệng được sử dụng bằng cách nhai hoặc đặt trên lưỡi cho tan từ từ. Những loại dược phẩm này thường không cần bác sĩ kê toa. Những loại thuốc nhai thì cần phải nhai cho đến khi chúng tan hoàn toàn chứ không được nuốt nguyên viên.
Ngoài ra, một số dược phẩm sẽ được bào chế ở dạng kẹo cao su. Những loại này cần nhai khoảng thời gian lâu thường là 30 phút nhằm giúp dược chất được phóng thích hoàn toàn. Dạng này dùng cho dược phẩm giúp cai nghiện thuốc lá hoặc thuốc giảm đau.
Cuối cùng là dược phẩm chế dưới dạng kẹo ngậm (lozenges) và phải ngậm như kẹo cho đến khi tan hoàn toàn chứ không được nuốt nguyên viên.
Theo DS. NGUYỄN BÁ HUY CƯỜNG (ĐH. Dược Murdoch – Úc) suckhoedoisong.vn
Dùng thuốc theo nhịp sinh học
Thứ Ba, 08/11/2011 08:22
Hoạt động của mọi cơ thể sống không phải lúc nào cũng giống nhau mà có khi mạnh khi yếu, khi nhanh khi chậm. Những thay đổi này nhiều khi xảy ra rất đều đặn và liên tiếp theo từng chu kỳ, vì thế được gọi là nhịp sinh học. Từ nhịp sinh học làm nảy sinh ngành dược lý thời khắc nghiên cứu dùng thuốc theo đặc điểm sinh học.
Trong cơ thể có nhiều đồng hồ sinh học
Nhiều hoạt động của cơ thể như thân nhiệt, huyết áp, lượng hồng cầu, thành phần khí trong máu, lượng lipid và glucid trong cơ thể, cường độ hoạt động của các tuyến nội tiết, tim, thận, phổi… đều thay đổi giống như có những chiếc đồng hồ đâu đó trong cơ thể giúp xác định giờ giấc hoạt động chính xác cho tất cả các tạng và tế bào.
Mỗi tế bào, mỗi tạng cơ thể đều có “đồng hồ nhỏ” riêng, còn trong não thì có “đồng hồ lớn”. Các “đồng hồ” hoạt động theo chu kỳ riêng theo một quy luật nhất định. Do đó cần nghiên cứu các loại hoạt động của từng “đồng hồ” - nghĩa là của từng bộ phận, cơ quan của cơ thể để phòng tránh bệnh tật, điều trị và cho dùng thuốc có kết quả tối ưu.
Những chu kỳ hoạt động sinh lý của con người (thức ngủ, tổng hợp protein, phân chia tế bào…) đều được chính các “đồng hồ” của cơ thể quy định, chứ không phải do môi trường xung quanh. Tuy nhiên, các đồng hồ sinh học phải được điều hòa phù hợp để luôn “chạy” đúng tính chu kỳ không bị rối loạn.
Trong thập niên 80 của thế kỷ vừa qua, kết quả nghiên cứu ở Hoa Kỳ trên hàng nghìn trường hợp bệnh đã xác nhận các triệu chứng và bệnh không biểu hiện ngẫu nhiên trong ngày cũng như trong năm, mà thường xuất hiện nhiều hơn trong một số giờ và mùa nhất định.
Nghiên cứu nhịp ngày đêm, người ta thấy vào khoảng 1 giờ đêm giấc ngủ thường không sâu, dễ nhạy cảm với những cơn đau, 2 giờ đêm các bộ phận cơ thể đều hoạt động ở mức thấp nhất… Và 9 - 10 giờ sáng tinh thần hưng phấn, sự nhạy cảm với những cơn đau giảm.
![]()
Chọn thời điểm dùng thuốc phù hợp để đạt hiệu quả điều trị.
|
Chọn thời điểm dùng thuốc
Khi hiểu biết về nhịp sinh học sẽ có cơ sở khoa học để tính toán và lựa chọn thời điểm dùng thuốc sao cho các thuốc có thể phát huy tác dụng tối ưu mà lại hạn chế được tác dụng phụ. Do ở mỗi thời điểm, sự đáp ứng của cơ thể đối với thuốc là khác nhau, bao gồm cả khả năng thích ứng của cơ thể (dung nạp thuốc) và khả năng chuyển hóa thuốc.
Các loại thuốc khi hấp thu vào cơ thể sẽ phát huy tác dụng tùy thuộc vào nhiều yếu tố nhưng quyết định nhất là sự chuyển hóa. Thuốc chuyển hóa nhanh, tác dụng dược lý sẽ mạnh nhưng ngắn. Nếu có chất chuyển hóa là chất độc, có thể thuốc sẽ gây độc. Chuyển hóa quá chậm tác dụng sẽ yếu và kéo dài, thuốc tích lũy trong cơ thể và chậm bài tiết ra ngoài. Nếu thuốc ít nhiều có tính độc sẽ có hại cho cơ thể.
Qua nhiều nghiên cứu cấu trúc sinh học theo thời gian, người ta thấy sự chuyển hóa trong cơ thể không phải lúc nào cũng như nhau. Các enzym hoạt động theo nhịp 24 giờ, lúc mạnh lúc yếu, vì thế khả năng chuyển hóa thuốc của cơ thể cũng biến đổi tương ứng. Sức chịu đựng các yếu tố độc hại của cơ thể thay đổi theo một chu kỳ có thể biết trước. Bởi vậy, việc nghiên cứu thời điểm dùng thuốc để đạt hiệu quả tối ưu cho từng loại thuốc tự nhiên được đặt ra và đã có nhiều công trình khoa học làm sáng tỏ vấn đề này. Một môn khoa học mới được hình thành đó là môn “Dược lý thời khắc” (chronopharmacologie) - một ngành chuyên khoa của “Thời sinh học” (chronobiologie).
Từ lâu, người ta đã phát hiện thấy trên lâm sàng, tiêm strophantin vào chiều tối có hiệu lực hơn ban ngày. Các thuốc ngủ, thuốc lợi niệu hay strycnin cũng có tác dụng mạnh hơn vào buổi chiều. Penicillin tiêm vào chiều tối bao giờ cũng cho nồng độ cao hơn và giữ được lâu hơn là tiêm buổi sáng hay ban ngày. Nhưng ngược lại, các thuốc giải phóng adrenalin tác dụng đến hệ cơ phế quản mạnh hơn vào buổi sáng.
Trong nha khoa, người ta thấy cùng một liều thuốc gây tê nhưng thời gian tê ở người bệnh có thể xê dịch trong một phạm vi rộng từ 30 - 80 phút tùy theo giờ sử dụng. Buổi sáng, thời gian gây tê ngắn nhất và buổi chiều vào khoảng 15 giờ thì lại dài nhất.
Với morphin thì có tác dụng ổn định trong cả năm, nhưng các loại thuốc nội tiết thì tác dụng theo mùa. Sự biến đổi tác dụng thể hiện cả về lượng và chất. Như cortisol tăng tính thấm của thành mạch về mùa xuân, nhưng ACTH lại tác dụng mạnh vào mùa hè. Vào các mùa khác, hai thứ thuốc làm giảm tính thấm của thành mạch.
Tác dụng kích thích thần kinh trung ương của nhân sâm mạnh nhất vào mùa thu và đông, còn về mùa hè và mùa xuân tác dụng thấp nhất…
Qua những dẫn liệu trên cho thấy, hiệu quả và độc tính của thuốc không chỉ phụ thuộc vào phương pháp dùng, mà nó còn phụ thuộc cả vào thời điểm dùng trong chu kỳ sinh học. Khi hiểu biết đầy đủ về dược lý thời khắc, thầy thuốc sẽ biết rõ nên sử dụng loại thuốc nào cũng như vào thời điểm nào là tốt nhất để điều trị cho bệnh nhân. Đó chính là nội dung hữu ích lựa chọn thời điểm dùng thuốc làm tăng hiệu quả của dược phẩm khi sử dụng vào thời điểm hợp lý hoặc làm giảm độc tính, hay kết hợp cả hai. Từ đó sẽ có những phương thức điều trị thuận tiện và hữu hiệu hơn. Ngày nay, người ta đã biết hơn một trăm nhịp sinh học ngày đêm ở người, đó là cơ sở để tính toán giờ cho thuốc tối ưu.
BS. Vũ Hướng Văn
Vĩnh Bảo sưu tầm 2/9/2012



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét