9 thực phẩm ăn nhiều không sợ béo
Bạn có thể ăn thoải mái những loại thực phẩm sau đây mà không phải lo ngại về hàm lượng chất béo cũng như tác động xấu của chúng đến trọng lượng cơ thể.

1. Nho
Nho, nước ép nho và rượu vang đều chứa resveratraol, có thể làm giảm cholesterol một cách tự nhiên.
Những thí nghiệm trên động vật cũng chứng minh rằng nho và các sản phẩm từ nó có thể làm giảm cholesterol, ức chế sự tích tụ tiểu cầu. Do đó, nho là một trong những thực phẩm tốt nhất cho những bệnh nhân có hàm lượng lipid trong máu cao
Những thí nghiệm trên động vật cũng chứng minh rằng nho và các sản phẩm từ nó có thể làm giảm cholesterol, ức chế sự tích tụ tiểu cầu. Do đó, nho là một trong những thực phẩm tốt nhất cho những bệnh nhân có hàm lượng lipid trong máu cao
Chất bổ từ quả nho
Tăng cường sức đề kháng, chống lão hóa, tốt cho tim mạch, có tác dụng thải độc tố... từ lâu nho đã được chứng minh là một loại quả chứa nhiều chất bổ có lợi cho sức khỏe.
Tăng cường sức đề kháng
Cứ 100g thịt quả nho sẽ cho 71 calo, 10 - 12g đường dễ hấp thụ, 11mg vitamin C (18% nhu cầu hàng ngày). Nếu chỉ nhằm cung cấp sinh tố C từ nho thì mỗi ngày phải ăn khoảng 500g.
Thịt quả nho ăn dễ tiêu, giải khát, thông tiểu và lợi mật. Trong quả nho có chứa polyphenol có tác dụng chống oxy hóa, bảo vệ các tế bào và các nguyên sinh chất trong cơ thể, chống lại sự hình thành các gốc tự do.
Vì vậy ăn nho giúp con người trẻ lâu, làm giảm nếp nhăn, tăng sức đề kháng, chống lại sự xâm nhập của các loại virus. Ngoài ra trong quả nho còn chứa nhiều đường gluco và fructose dễ hấp thụ, các vitamin và khoáng chất có tác dụng tăng sức đề kháng cho cơ thể.
Hạt nho - xin chớ bỏ!
Trong lớp vỏ mỏng của hạt nho, người ta tìm thấy các chất resveratrol có cấu trúc hóa học tương đồng với hormone estrogen ở người. Chúng có tác dụng làm giảm cholesterol, bảo vệ thành mạch máu trong cơ thể.
Điều này giải thích tại sao uống rượu vang đỏ lại có tác dụng tốt cho tim mạch. Trong cao làm từ hạt nho có chứa chất proantho-cyanidin, là chất chống oxy hóa có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của nhiều bệnh nan y, chống xơ vữa động mạch và quá trình lão hóa sớm.
Khả năng loại trừ các gốc tự do của chất này lớn hơn nhiều so với vitamin C và E. Tác dụng của chất proantho-cynidin đã được thử trên tế bào ung thư vú, dạ dày, phổi và bạch cầu ở người, cho kết quả tốt. Các dòng ung thư đều bị ức chế và hoạt động của các tế bào khỏe mạnh được đẩy mạnh. Mức độ tác dụng tùy thuộc vào nồng độ sử dụng và thời gian ủ cao hạt nho. Chất này còn phòng được bệnh do virus gây ra, kháng virus herpes, bại liệt.
Hạt nho còn được ép lấy dầu, chứa nhiều axít linoleic, có tác dụng giảm chứng bất lực ở nam giới và hạn chế nguy cơ về bệnh tim mạch nếu dùng hàng ngày. Dầu này còn có khả năng giảm kết vón tiểu cầu (gây máu đông cục, làm tắc nghẽn thành mạch).
Ngoài ra, nó còn có tác dụng phòng chống chứng tăng huyết áp (do ăn nhiều muối), hàn gắn vết thương do tiểu đường và béo phì gây ra.
Vỏ không phải là bã
Trong vỏ quả nho chứa nhiều chất có khả năng kháng khuẩn. Qua phương pháp đồng vị phóng xạ, người ta thấy chất này không bị phá hủy bởi dịch tiêu hóa nên có thể tuần hoàn khắp cơ thể và cho tác dụng toàn thân rất tốt.
Vỏ nho chứa nhiều resveratrol hơn trong thịt quả nho. Chất này có khả năng chống oxy hóa mạnh gấp 7 lần vitamin E. Vì vậy khi ăn nho ta nên ăn cả vỏ. Tất nhiên trước khi ăn, nho cần được ngâm rửa kỹ.
Nước ép từ nho
Uống 1 ly nước ép nguyên chất từ quả nho đỏ hay tím sẫm rất tốt cho chức năng tim. Nước ép nho đỏ có ảnh hưởng trực tiếp lên phản ứng đông máu, vừa làm tăng nồng độ các chất kháng oxy hóa và giảm các gốc tự do trong hệ tim mạch.
So với nước ép bưởi, cam, cà chua và táo, nước ép nho đỏ có hoạt tính kháng oxy hóa mạnh gấp 3 lần. Người ta phân tích các chất có trong thành phần nước ép này và thấy nó cũng chứa những hoạt chất được tìm thấy trong trái tắc (quất), có hiệu quả phòng tránh các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu.
Tác dụng thải độc
Đặc biệt, nho còn có tác dụng đào thải chất độc trong cơ thể. Nho giúp gan quét đi lượng độc tố có hại trong cơ thể, đồng thời có ích cho quá trình tái tạo máu. Lượng nước, kali cao (có tác dụng lợi tiểu), giàu chất xơ (thúc đẩy quá trình tiêu hóa) làm tăng khả năng thải độc của loại quả giàu dinh dưỡng này.
Vì vậy, nếu có điều kiện, mỗi tuần bạn nên ăn nho một lần để làm sạch cơ thể. Nho là loại quả giàu năng lượng nên rất tốt cho trẻ em, thanh thiếu niên, người chơi thể thao - những người cần nhiều năng lượng.
Theo Yên ChiThời Trang Trẻ
| |||
Những phát hiện mới về quả nho đỏ
Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh nho đỏ có thể giảm nguy cơ tai biến tim mạch, giảm tác hại của thuốc lá đối với phổi. Thậm chí loại quả này còn ngăn ngừa ung thư và giúp cơ thể chống đỡ tốt hơn những tác dụng phụ mà việc điều trị ung thư gây ra.
Nho đã được trồng để lấy quả từ 5.000 năm trước Công nguyên. Nó vốn là cây ăn quả của vùng ôn đới, các nước nhiệt đới cũng trồng được nhưng cho sản lượng ít. Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã có những phát hiện mới về tác dụng phòng ngừa bệnh tật của loại nho có vỏ màu đỏ hay tím sẫm.
Gần đây, nhiều nghiên cứu đã công bố những lợi ích của rượu vang đỏ (sản xuất từ nho đỏ). Người ta cho rằng việc dùng điều độ 1 ly nhỏ vang đỏ trong mỗi bữa ăn sẽ giúp động mạch dễ giãn nở, không bị tắc nghẽn nên rất tốt cho huyết áp, phòng tránh được các tai biến tim mạch, làm giảm 40% nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch.
Trước đây, một số nhà khoa học cho rằng sở dĩ rượu vang đỏ có lợi cho sức khỏe là do tính chống oxy hóa của flavonoid. Cũng có ý kiến cho rằng rượu vang đỏ chứa những chất polyphenol nên có ích với tim mạch... Nhưng hiện nay, người ta đã biết chính xác rằng chính hợp chất resveratrol trong lớp vỏ của nho đỏ (nho xanh không có chất này) đã đem lại những lợi ích nói trên. Resveratrol có tác dụng ngăn hồng cầu kết dính vào nhau, làm giảm nguy cơ hình thành các cục máu đông, tăng cholesterol tốt (HDL) và giảm cholesterol xấu (LDL).
Gần đây, nhiều nghiên cứu đã công bố những lợi ích của rượu vang đỏ (sản xuất từ nho đỏ). Người ta cho rằng việc dùng điều độ 1 ly nhỏ vang đỏ trong mỗi bữa ăn sẽ giúp động mạch dễ giãn nở, không bị tắc nghẽn nên rất tốt cho huyết áp, phòng tránh được các tai biến tim mạch, làm giảm 40% nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch.
Trước đây, một số nhà khoa học cho rằng sở dĩ rượu vang đỏ có lợi cho sức khỏe là do tính chống oxy hóa của flavonoid. Cũng có ý kiến cho rằng rượu vang đỏ chứa những chất polyphenol nên có ích với tim mạch... Nhưng hiện nay, người ta đã biết chính xác rằng chính hợp chất resveratrol trong lớp vỏ của nho đỏ (nho xanh không có chất này) đã đem lại những lợi ích nói trên. Resveratrol có tác dụng ngăn hồng cầu kết dính vào nhau, làm giảm nguy cơ hình thành các cục máu đông, tăng cholesterol tốt (HDL) và giảm cholesterol xấu (LDL).
Mới đây, các nhà khoa học Anh lại phát hiện thêm một tác dụng tốt của resveratrol. Họ đã tiến hành thử nghiệm đối với 15 người hút quá nhiều thuốc lá và 15 bệnh nhân mắc chứng phổi tắc nghẽn mạn tính. Sau khi dùng resveratrol, việc sinh sản interleukin 8 - một chất gây ra tình trạng viêm phổi - đã giảm 94% ở người hút thuốc lá và 88% ở người mắc chứng phổi tắc nghẽn mạn tính.
Các nhà nghiên cứu thuộc khoa Y Đại học Havard và phòng nghiên cứu Biomol ở Philadelphia (Mỹ) phát hiện thấy phân tử resveratrol có thể điều tiết hoạt động của các gene liên quan đến việc kéo dài sự sống của tế bào men thêm 70%. Họ đang thử nghiệm trên chuột với hy vọng tìm ra cách giúp kéo dài tuổi thọ.
Theo dược điển Mỹ, nho có công dụng chữa chứng ăn khó tiêu, sốt, trĩ, táo bón, các bệnh gan, thận. Nước ép nho đỏ vừa ảnh hưởng trực tiếp lên phản ứng đông máu, vừa làm tăng nồng độ các chất chống oxy hóa và làm giảm các gốc tự do. Resveratrol có khả năng chống oxy hóa mạnh gấp 7 lần vitamin E. Một nghiên cứu khác cho thấy, nước ép nho đỏ có hoạt tính chống oxy hóa mạnh gấp 3 lần so với nước ép cà chua, cam, bưởi.
Do những đặc tính nói trên, các nhà dinh dưỡng Mỹ cho rằng nước ép từ quả nho đỏ có khả năng ngăn ngừa ung thư và tăng cường sức chống đỡ của cơ thể trước những tác hại của hóa trị và xạ trị. Còn David Kessler, một tác giả về thức ăn chữa bệnh thì cho rằng nho đỏ chứa acid ellagic, là chất có khả năng chống ung thư.
Các nhà nghiên cứu thuộc khoa Y Đại học Havard và phòng nghiên cứu Biomol ở Philadelphia (Mỹ) phát hiện thấy phân tử resveratrol có thể điều tiết hoạt động của các gene liên quan đến việc kéo dài sự sống của tế bào men thêm 70%. Họ đang thử nghiệm trên chuột với hy vọng tìm ra cách giúp kéo dài tuổi thọ.
Theo dược điển Mỹ, nho có công dụng chữa chứng ăn khó tiêu, sốt, trĩ, táo bón, các bệnh gan, thận. Nước ép nho đỏ vừa ảnh hưởng trực tiếp lên phản ứng đông máu, vừa làm tăng nồng độ các chất chống oxy hóa và làm giảm các gốc tự do. Resveratrol có khả năng chống oxy hóa mạnh gấp 7 lần vitamin E. Một nghiên cứu khác cho thấy, nước ép nho đỏ có hoạt tính chống oxy hóa mạnh gấp 3 lần so với nước ép cà chua, cam, bưởi.
Do những đặc tính nói trên, các nhà dinh dưỡng Mỹ cho rằng nước ép từ quả nho đỏ có khả năng ngăn ngừa ung thư và tăng cường sức chống đỡ của cơ thể trước những tác hại của hóa trị và xạ trị. Còn David Kessler, một tác giả về thức ăn chữa bệnh thì cho rằng nho đỏ chứa acid ellagic, là chất có khả năng chống ung thư.
Ngoài ra, trong quả nho còn có boron, một chất làm chậm lại hoặc ngăn chặn chứng loãng xương ở phụ nữ mãn kinh, người cao tuổi.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng khuyến cáo không nên lạm dụng rượu vang đỏ vì dù sao nó cũng là rượu, chứa cồn etylic. Không nên uống quá 30 g cồn etylic/ngày (khoảng 250-300 ml rượu vang 10-14 độ).
Những người không thích uống rượu vang thì nên uống nước ép nguyên chất từ quả nho đỏ; hoặc đơn giản là ăn nho đỏ cả vỏ (đã rửa sạch), không hạn chế liều lượng.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng khuyến cáo không nên lạm dụng rượu vang đỏ vì dù sao nó cũng là rượu, chứa cồn etylic. Không nên uống quá 30 g cồn etylic/ngày (khoảng 250-300 ml rượu vang 10-14 độ).
Những người không thích uống rượu vang thì nên uống nước ép nguyên chất từ quả nho đỏ; hoặc đơn giản là ăn nho đỏ cả vỏ (đã rửa sạch), không hạn chế liều lượng.
Chú ý khi mua nho, nên chọn loại có vỏ đỏ hoặc tím sẫm, quả mọng, màu tươi, chắc, còn dính vào cuống. Để nguyên không rửa, bọc vào khăn giấy và dự trữ trong tủ lạnh. Trước khi ăn, rửa nho bằng cách xả nước cho thật sạch, ăn cả vỏ và hạt.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
2. Táo
Táo có lượng pectin và vitamin C phong phú, có tác dụng hạ lipid máu rất tốt. Học viện Quốc gia về cây ăn quả Nhật đã công bố một công trình nghiên cứu, theo đó ăn mỗi ngày 1-2 quả táo (400gr táo) có thể giúp hạ thấp lượng chất béo trung tính trong máu (chất này gây xơ cứng động mạch làm tăng nguy cơ đột quỵ và gây tăng huyết áp).
Chất béo là thủ phạm gây ra các xơ cứng động mạch vì vậy ăn táo thường xuyên sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh hơn.
Nghiên cứu mới nhất cho biết, nữ giới mỗi ngày ăn 75gr táo, có thể khiến cholesterol xấu giảm 25%, đồng thời tăng cholesterol tốt.
Ăn táo sẽ giúp chúng ta có cảm giác no, vì vậy ăn một quả táo trước bữa ăn sẽ giúp bạn tránh ăn quá nhiều cơm và thức ăn. Ngoài ra ăn táo còn làm tăng lượng vitamin C - gia tăng sức bền thành mạch máu và sức đề kháng của cơ thể.
Táo có lượng pectin và vitamin C phong phú, có tác dụng hạ lipid máu rất tốt. Học viện Quốc gia về cây ăn quả Nhật đã công bố một công trình nghiên cứu, theo đó ăn mỗi ngày 1-2 quả táo (400gr táo) có thể giúp hạ thấp lượng chất béo trung tính trong máu (chất này gây xơ cứng động mạch làm tăng nguy cơ đột quỵ và gây tăng huyết áp).
Chất béo là thủ phạm gây ra các xơ cứng động mạch vì vậy ăn táo thường xuyên sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh hơn.
Nghiên cứu mới nhất cho biết, nữ giới mỗi ngày ăn 75gr táo, có thể khiến cholesterol xấu giảm 25%, đồng thời tăng cholesterol tốt.
Ăn táo sẽ giúp chúng ta có cảm giác no, vì vậy ăn một quả táo trước bữa ăn sẽ giúp bạn tránh ăn quá nhiều cơm và thức ăn. Ngoài ra ăn táo còn làm tăng lượng vitamin C - gia tăng sức bền thành mạch máu và sức đề kháng của cơ thể.
Sự kỳ diệu của quả táo
Thứ Bảy, 06 Tháng hai 2010, 17:02 GMT+7
Táo từ lâu được coi là loại quả rất có lợi cho sức khỏe. Ở Trung Quốc, từ xa xưa đã lưu truyền câu ngạn ngữ: “Một ngày một quả táo, thầy thuốc không đến nhà”. Ăn táo được coi là cách để giữ gìn sức khỏe và nâng cao tuổi thọ.
![]() |
Táo có thành phần dinh dưỡng rất phong phú, đặc biệt là các loại vi chất, sinh tố và axít hoa quả. Trong quả táo có chừng 30mg ketone, 15% là các chất hydro các-bon và chất keo táo; các loại vitamine A, C và E. Ngoài ra, kali và các chất chống oxy hóa cũng rất phong phú. Lượng canxi trong táo cũng cao hơn trong các loại hoa quả, giúp trung hòa lượng muối dư thừa trong cơ thể.
Axít trong táo có tác dụng ngăn ngừa béo phì nửa thân dưới. Chất xơ trong táo có tác dụng chống táo bón. Chất keo trong táo có tác dụng thải loại chất chì, thủy ngân, măng-gan tồn đọng trong đường ruột, điều hòa lượng đồng trong máu, ngăn ngừa hiện tượng tỷ lệ đường huyết tăng vọt hoặc giảm mạnh đột ngột. Với lượng iốt nhiều gấp tám lần trong chuối tiêu và gấp 13 lần trong quýt, táocó thể chống bệnh bướu cổ.
Các thí nghiệm đã cho thấy, người bị bệnh tiểu đường ăn táo chua sẽ có tác dụng giảm thấp triệu chứng bệnh; người bị bệnh tim mạch và béo phì thì nên ăn táo ngọt; để trị chứng táo bón có thể ăn táo nấu chín; ăn táo trước khi đi ngủ sẽ làm cho khoang miệng sạch sẽ, cải thiện công năng thận; nước ép táo tươi có thể trị ho và khản tiếng.
Táo tươi xay nhỏ nấu chín là món ăn tốt trị chứng khó tiêu cho trẻ em và người già. Mỗi ngày ăn một quả táo cả vỏ, sẽ rất có ích trong việc chống các chứng viêm khớp và thiếu máu. Trẻ em hay ăn táo có thể tăng cường trí lực, vì táo được người Trung Quốc mệnh danh là “quả trí nhớ”.
Nếu ăn một quả táo bằng cách nhai kỹ nuốt chậm trong 15 phút thì không chỉ có lợi cho tiêu hóa, mà còn có thể diệt được tới 99% các vi sinh vật có hại trong miệng thực quản và dạ dày.
Người ta đã đúc kết một số cách dùng táo để chữa trị các chứng bệnh khác nhau như:
- Thiếu máu: ăn táo tươi hàng ngày.
- Táo bón: ăn táo tươi xay nhỏ nấu chín.
- Viêm ruột kết cấp tính: ăn táo tươi mài thành sợi nhỏ.
- Tiểu đường: ăn nhiều táo chua hàng ngày.
- Bệnh tim mạch: ăn nhiều táo ngọt hàng ngày.
- Bệnh béo phì giai đoạn đầu: mỗi tuần dành một ngày ăn táo; ăn 1,5kg táo chia làm sáu lần trong ngày.
- Bướu cổ: thường xuyên ăn táo.
- Bỏng: đắp miếng táo tươi.
- Tiêu chảy nhẹ: táo gọt vỏ, bỏ hạt, xay nhỏ nấu chín; ngày ăn bốn lần, mỗi lần 100g. Trẻ dưới một tuổi thì uống nước táo ép, mỗi ngày ba lần, mỗi lần nửa muỗng canh.
- Buồn nôn khi mang thai: 60g vỏ táo tươi; 30g gạo rang vàng, nấu làm trà uống hàng ngày.
- Trẻ ăn không tiêu: một quả táo gọt vỏ cắt lát mỏng, cho vào bát đậy nắp, cho vào nồi hấp cách thủy, nghiền nát cho trẻ ăn.
- Huyết áp cao: mỗi ngày ăn ba lần, mỗi lần 250g táo tươi.
Theo Phụ Nữ
3. Ngô
Ngô có chứa lượng canxi, phốt pho, selen và lecithin, vitamin E phong phú, có tác dụng làm giảm cholesterol huyết thanh. Quốc gia Ấn Độ hầu như không có nhiều bệnh nhân bị huyết áp cao và bệnh tim mạch vành bởi người dân nước này có thói quen sử dụng ngô trong thực đơn hàng ngày của họ.
Lợi ích tuyệt vời của bắp ngô
HỒNG MINH -Thứ Hai, 16/01/2012, 10:47 (GMT+7)
Chúng ta thường xuyên ăn ngô dù là ngô luộc và ngô nổ, nhưng ít người biết tác dụng của loại thực phẩm phổ biến này.

Chống ung thư hiệu quả
Trong hạt ngô có chứa rất nhiều chất beta-cryptoxanthin, một loại carotenoid có tác dụng chống oxi hóa, giúp ngăn ung thư phổi hiệu quả. Một nghiên cứu kéo dài nhiều năm ở 63.000 người trưởng thành tại Trung Quốc cho thấy, những người có chế độ ăn nhiều beta-cryptoxanthin giảm được 27% nguy cơ ung thư phổi. Một nghiên cứu khác, ở 35.000 người tham gia cho biết, những người ăn thực phẩm nguyên hạt như ngô giảm được đáng kể nguy cơ ung thư vú. Lý do là trong bắp ngô có chứa hàm lượng cao chất xơ cũng như chất chống oxi hóa, giúp bảo vệ tế bào khỏi bị ung thư.
Tăng cường sức khỏe hệ tiêu hóa
Một trong những lợi ích của ăn ngô là giúp cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh. Lý do là bắp ngô giàu chất xơ không hòa tan- chất khiến dễ tiểu tiện. Chất xơ này cũng hỗ trợ sự phát triển của vi khuẩn có lợi cho ruột già và đổi lại vi khuẩn giúp biến chất xơ thành chuỗi axit béo ngắn (SCFA). SCFA có thể cung cấp năng lượng cho các tế bào ruột, từ đó làm giảm nguy cơ mắc các vấn đề ở ruột, bao gồm cả ung thư ruột kết.
Tốt cho người tiểu đường
Nhiều nghiên cứu cho thấy, thường xuyên ăn bắp ngô sẽ giảm được nguy cơ tiểu đường tuýp 2. Trong một cuộc thử nghiệm ở 40.000 người cho thấy, những phụ nữ thường xuyên ăn ngô giảm được nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 hơn 30% so với những người không ăn hoặc ít khi ăn. Chỉ số đường huyết của ngô thấp giúp giảm lượng đường huyết trong máu. Chất xơ cũng giúp làm chậm quá trình chuyển hóa thức ăn thành đường, từ đó giúp hạ thấp nồng độ đường trong máu.
Tốt cho não
Bắp cũng giàu vitamin B1 giúp acetylcholine-một chất truyền tín hiệu thần kinh cho bộ nhớ. Nếu cơ thể thiếu vitamin B1 sẽ gây ra tình trạng đầu óc mệt mỏi và giảm trí nhớ. Một bát ngô có thể đáp ứng được khoảng 24% lượng thiamin mà cơ thể cần mỗi ngày.
Tốt cho mắt
Bắp ngô cũng giàu beta-carotenoid và folate, cả hai chất này giúp làm chậm quá trình suy thoái điểm vàng liên quan đến tuổi tác. Các nhà khoa học phát hiện thấy, beta-carotenoid trong bắp khi đi vào cơ thể sẽ chuyển thành vitamin A với tỷ lệ cao hơn so với những loại rau củ khác. Mà chúng ta biết rằng, Vitamin A rất cần thiết cho “cửa sổ tâm hồn” vì nó giúp sáng mắt.
Tốt cho da
Lâu nay nhiều hãng được phẩm trên thế giới đã dùng ngô để chiết xuất nhiều thành phần dinh dưỡng để chế tạo dược phẩm. Tuy nhiên, cách đơn giản là bạn có thể ăn bắp thường xuyên sẽ giúp da sáng đẹp hơn. Nếu bạn bị dị ứng, bạn cũng có thể lấy hạt ngô non tươi giã ra và xoa lên chỗ bị dị ứng. Một lúc là vết ngứa sẽ dịu đi.
Tốt cho phụ nữ mang thai
Lâu nay bác sĩ thường khuyên phụ nữ mang thai tăng cường bổ sung chất folate nếu cơ thể bị thiếu. Folate là chất giúp ngăn chặn nguy cơ sảy thai và thai nhi bị khuyết tật. Trong khi đó, bắp lại rất giàu folate. Nếu bạn thường xuyên ăn ngô sẽ không cần phải bổ sung các viên folate, nó sẽ giúp cơ thể thai nhi tổng hợp tế bào mới và khỏe mạnh.
Bảo vệ tim
Bắp là thực phẩm cũng có chứa nhiều cả chất xơ hòa tan và không hòa tan. Các chất xơ hòa tan liên kết với cholesterol trong mật, được bài tiết từ gan, sau đó lan truyền đi khắp nơi trong cơ thể để hấp thụ tiếp cholesterol có hại. Ngoài ra, lượng vitamin B trong bắp cũng giúp làm giảm homocysteine. Chúng ta biết rằng, nếu homocysteine tăng cao có thể phá hủy các mao mạch, từ đó mà dẫn đến nhồi máu cơ tim, đột quỵ. Ăn một bắp ngô cũng có thể cung cấp được 19% lượng vitamin B mỗi ngày.
Ngô - "thực phẩm vàng" chống ung thư (07/02/2012)
Một nghiên cứu của Hội dinh dưỡng Đức cho thấy rằng trong tất cả các thực phẩm chủ yếu thì ngô có giá trị dinh dưỡng và hiệu ứng sức khỏe cao nhất.
Hãy đến với chuyên mục Sức khỏe của Eva để tìm hiểu những bí quyết ăn ngon, ăn chuẩn, tham khảo những bệnh thường gặp trong cuộc sống,bệnh 'vùng kín' của chị em và những bài thuốc hay rất hữu hiệu cho mẹ và bé.
Một nghiên cứu của Hội dinh dưỡng Đức cho thấy rằng trong tất cả các thực phẩm chủ yếu thì ngô có giá trị dinh dưỡng và hiệu ứng sức khỏe cao nhất. Đặc biệt là nguồn vitamin trong nó gấp 5-10 lần gạo và lúa mì. Ngô chứa bảy loại "chống": canxi, glutathione, Victoria A, magiê, selen, vitamin E và axit béo.
Có thể ngăn ngừa bệnh tim và ung thư
Vitamin A và vitamin E và vitamin A ngô có chứa vitamin E và axit glutamic. Thí nghiệm động vật cho thấy rằng những thành phần này có tác dụng chống lão hóa.
Ngô rất giàu chất xơ, cellulose, không chỉ có thể kích thích nhu động ruột, ngăn ngừa táo bón, mà còn thúc đẩy quá trình chuyển hóa cholesterol, đẩy nhanh việc thải các độc tố trong ruột.
Có thể ngăn ngừa bệnh tim và ung thư
Vitamin A và vitamin E và vitamin A ngô có chứa vitamin E và axit glutamic. Thí nghiệm động vật cho thấy rằng những thành phần này có tác dụng chống lão hóa.
Ngô rất giàu chất xơ, cellulose, không chỉ có thể kích thích nhu động ruột, ngăn ngừa táo bón, mà còn thúc đẩy quá trình chuyển hóa cholesterol, đẩy nhanh việc thải các độc tố trong ruột.
Các axit béo không bão hòa trong mầm ngô có chứa một lượng lớn ngô ép axit béo không bão hòa, bao gồm 60% axit linoleic tốt cho máu, ngăn ngừa xơ vữa động mạch. Mầm ngô chứa chất dinh dưỡng có thể tăng cường trao đổi chất của cơ thể, điều chỉnh chức năng hệ thống thần kinh.
Theo kết quả điều tra thì những người phụ nữ châu Phi làm việc trong nông trường và sử dụng ngô là thực phẩm chủ yếu có nguy cơ ung thư ruột là rất thấp. Điều đó cho thấy ngô có tác dụng chống ung thư. Ngoài ra, ngô có chứa lượng carotene cao gấp năm lần so với đậu nành là một chất giúp ức chế ung thư.
Ngoài ra ngô còn chứa Lysine, yếu tố vi lượng selen cũng có tác dụng phòng ngừa ung thư.
Ngô cũng giàu vitamin B, niacin… bảo vệ sự dẫn truyền thần kinh và chức năng tiêu hóa, phòng chống các bệnh beriberi, viêm cơ tim.
Ngô khác phải có chức năng lợi tiểu mạnh, điều trị phù nề, nhiễm trùng đường tiết niệu, …
Theo kết quả điều tra thì những người phụ nữ châu Phi làm việc trong nông trường và sử dụng ngô là thực phẩm chủ yếu có nguy cơ ung thư ruột là rất thấp. Điều đó cho thấy ngô có tác dụng chống ung thư. Ngoài ra, ngô có chứa lượng carotene cao gấp năm lần so với đậu nành là một chất giúp ức chế ung thư.
Ngoài ra ngô còn chứa Lysine, yếu tố vi lượng selen cũng có tác dụng phòng ngừa ung thư.
Ngô cũng giàu vitamin B, niacin… bảo vệ sự dẫn truyền thần kinh và chức năng tiêu hóa, phòng chống các bệnh beriberi, viêm cơ tim.
Ngô khác phải có chức năng lợi tiểu mạnh, điều trị phù nề, nhiễm trùng đường tiết niệu, …
Có bảy loại "tác nhân chống"
Các nghiên cứu cho thấy mỗi 100 gram ngô có thể cung cấp gần 300 mg canxi, gần tương tự như lượng canxi chứa trong sữa. Giàu canxi có thể giúp hạ huyết áp. Hàng ngày nếu bổ sung khoảng 1 g canxi, có thể làm giảm huyết áp 9% sau 6 tuần.
Ngoài ra, ngô có chứa carotene, có thể được hấp thụ bởi cơ thể thành vitamin A, nó có tác dụng chống ung thư; cellulose thực vật có thể tăng tốc chất gây ung thư và lượng khí thải độc hại khác; vitamin E tự nhiên có thể thúc đẩy phân chia tế bào, trì hoãn lão hóa, giảm cholesterol huyết thanh, phòng ngừa các tổn thương da, mà còn làm giảm xơ vữa động mạch và suy giảm chức năng não.
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng ngô có chứa lutein, zeaxanthin có thể chống lại sự lão hóa mắt. Ngoài ra, ăn ngô còn có thể ngăn chặn các tác dụng phụ của thuốc chống ung thư trên cơ thể và kích thích các tế bào thần kinh, tăng cường bộ não con người và bộ nhớ.
Các màu khác nhau của ngô, ảnh hưởng sức khỏe khác nhau
Màu sắc khác nhau của ngô có ảnh hưởng sức khỏe khác nhau chủ yếu vì chúng có chứa sắc tố không cùng loài.
So với bắp trắng, bắp tím và có chất chống oxy hóa anthocyanin, chống lão hóa có hiệu lực hơn.
Hương vị khác nhau của ngô, giá trị dinh dưỡng cũng khác nhau. Ngô ngọt ngọt và ngon cùng có thể được ăn sống như trái cây. Protein trong ngô ngọt, chất béo và vitamin cao hơn ngô bình thường 1-2 lần, selenium nhiều hơn 8-10 lần và chứa 17 acid amin. Tuy nhiên, hàm lượng đường cao của ngô ngọt, chủ yếu là đường sucrose, glucose, có thể dẫn đến tăng đường huyết.
Ngoài ra, ngô có chứa carotene, có thể được hấp thụ bởi cơ thể thành vitamin A, nó có tác dụng chống ung thư; cellulose thực vật có thể tăng tốc chất gây ung thư và lượng khí thải độc hại khác; vitamin E tự nhiên có thể thúc đẩy phân chia tế bào, trì hoãn lão hóa, giảm cholesterol huyết thanh, phòng ngừa các tổn thương da, mà còn làm giảm xơ vữa động mạch và suy giảm chức năng não.
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng ngô có chứa lutein, zeaxanthin có thể chống lại sự lão hóa mắt. Ngoài ra, ăn ngô còn có thể ngăn chặn các tác dụng phụ của thuốc chống ung thư trên cơ thể và kích thích các tế bào thần kinh, tăng cường bộ não con người và bộ nhớ.
Các màu khác nhau của ngô, ảnh hưởng sức khỏe khác nhau
Màu sắc khác nhau của ngô có ảnh hưởng sức khỏe khác nhau chủ yếu vì chúng có chứa sắc tố không cùng loài.
So với bắp trắng, bắp tím và có chất chống oxy hóa anthocyanin, chống lão hóa có hiệu lực hơn.
Hương vị khác nhau của ngô, giá trị dinh dưỡng cũng khác nhau. Ngô ngọt ngọt và ngon cùng có thể được ăn sống như trái cây. Protein trong ngô ngọt, chất béo và vitamin cao hơn ngô bình thường 1-2 lần, selenium nhiều hơn 8-10 lần và chứa 17 acid amin. Tuy nhiên, hàm lượng đường cao của ngô ngọt, chủ yếu là đường sucrose, glucose, có thể dẫn đến tăng đường huyết.
Protein cao, giàu vitamin A, vitamin B1,amylopectin rất cao nên ngô không phù hợp cho người bị tiểu đường.
Theo Eva.vn
4. Sữa
Sữa giàu axit whey và canxi, có thể ức chế sự lắng đọng cholesterol trong thành động mạch. Sữa đồng thời cũng có tác dụng giảm lượng cholesterol sản sinh ra bởi nó ức chế hoạt động của các enzyme tổng hợp cholesterol.
Đọc thêm
http://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%AFa
http://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%AFa_m%E1%BA%B9
5. Tỏi
Tỏi là một hỗn hợp của các hợp chất có chứa lưu huỳnh, có thể làm giảm cholesterol trong máu và ngăn ngừa huyết khối, giúp tăng lipoprotein mật độ cao.
Tỏi, một số hiệu quả kỳ diệu và những điều cần lưu ý
Lương y VÕ HÀ
Trong những thập niên gần đây, khi tỷ lệ bệnh tim mạch gia tăng nhiều ở các nước phát triển, tỏi đã được xem là một loại thực phẩm chức năng có gía trị hàng đầu trong việc chống oxy hoá, bảo vệ màng tế bào, giảm cholesterol, giảm huyết áp dể phòng chống các loại bệnh tim mạch.
Tỏi là một gia vị thông dụng của mọi gia đình. Từ thời cổ đại ở Ai Cập, người ta đã biết dùng tỏi để làm thuốc sát trùng trong các loại bệnh hen suyển, viêm phổi, nhiễm trùng đường ruột. Kinh nghiệm dân gian nhiều nơi cũng biết dùng tỏi để sát trùng ngoài da, chữa bò cạp, rết cắn, chữa mụn cóc, hạt cơm mọc trên da. Trong những thập niên gần đây, cùng với sự phát triển của 2 loại bệnh tim mạch và ung thư, các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến tác dụng chống oxy hoá, chống đột biến tế bào, hạ độ mỡ trong máu và làm giảm nguy cơ máu đông của một số hoạt chất trong tỏi.
Thành phần, dược tính.
Tỏi có 3 hoạt chất chính allicin và liallyl sulfide và ajoene. Allicin là hoạt chất mạnh nhất và quan trọng nhất của tỏi. Allicin không hiện diện trong tỏi. Tuy nhiên, khi được cắt mỏng hoặc đập dập và dưới sự xúc tác của phân hoá tố anilaza, chất aliin có sẳn trong tỏi biến thành allicin. Do đó, càng cắt nhỏ hoặc càng đập nát, hoạt tính càng cao. Một ký tỏi có thể cho ra từ 1 đến 2 gam allicin. Allicin dễ biến chất sau khi được sản xuất ra. Càng để lâu, càng mất bớt hoạt tính. Đun nấu sẽ đẩy nhanh quá trình mất chất nầy. Đun qua lò vi sóng sẽ phá huỷ hoàn toàn chất allicin. Allicin là một chất kháng sinh tự nhiên rất mạnh, mạnh hơn cả penicillin. Nước tỏi pha loãng 125.000 lần vẫn có dấu hiệu ức chế nhiều loại vi trùng gram âm và gram dương[i] như saphylococcus, streptococcus, samonella, V. cholerae, B. dysenteriae, mycobacterium tuberculosis. Tỏi cũng ức chế sự phát triển của nhiều loại siêu vi như siêu vi trái ra, bại liệt, cúm và một số loại nấm gây bệnh ở da hoặc bộ phận sinh dục nữ như candida.
Liallyl sulfide không mạnh bằng allicin[ii]. Tuy nhiên, sulfide không hư hoại nhanh như allicin và vẫn giữ được dược tính khi nấu. Giống như allicin, càng giã nhỏ càng sinh ra nhiều sulfide, nếu nấu nguyên củ tỏi sẽ không có hiệu lực. Tỏi không chỉ có tác dụng kháng sinh, tác dụng trên hệ tim mạch mà còn có hiệu lực trên tế bào ung thư. Những nghiên cứu của Trung Quốc và Ý được phổ biến trong tạp chí British Journal of Cancer số tháng 3/1993 cũng cho biết tỏi có nhiều hoạt chất có thể ngăn chận sự phát triển của nhiều loại khối u ung thư. Theo các nhà khoa học trường Đại học Pensylvania khả năng ngăn chận khối u ung thư của tỏi liên quan đến các hợp chất S-allyl cysteine, diallyl disulfide và diallyl trisulfide. Một hoạt chất khác ít được nhắc đến là ajoene. Ajoene cũng có tác dụng làm giảm độ dính của máu. Ngoài ra, tỏi còn có hàm lượng khoàng chất selenium, một chất chống oxy hoá mạnh làm tăng khả năng bảo vệ màng tế bào, phòng chống ung thư và bệnh tim mạch của tỏi.
Theo Đông y, tỏi vị cay, tính ấm, hơi có độc, vào 2 kinh Can, Vị. Tỏi có tác dụng thông khiếu, giải phong, sát trùng, giải độc, tiêu nhọt, hạch.
Tỏi và bệnh tim mạch.
Một công trình nghiên cứu về tỏi đã từng được phổ biến trên tạp chí Praxis ở châu Âu. Bác sĩ Piotrowski thuộc trường Đại học Geniva qua nghiên cứu[iii] trên 100 bệnh nhân cao huyết áp đã cho biết huyết áp trên các đối tượng nầy bắt đầu hạ sau 1 tuần được điều trị với dầu tỏi.Liều dùng giảm dần xuống trong 2 tuần kế tiếp, theo sau là liều duy trì.
Một bài viết khác trên tạp chí Lancet (31.5.1975) của Tiến sĩ R.C. Jain, M.D. thuộc trường Đại học Benghzi, Lybya cũng đề cập đến một nghiên cứu về tác dụng hạ mỡ máu của tỏi được kiểm chứng trên những con thỏ thí nghiệm. Một nhóm thỏ được nuối bằng chế độ ăn nhiều mỡ để mức cholesterol toàn phần tăng vọt đến 2.100. Một nhóm thỏ khác ăn cùng loại thức ăn trên nhưng được bổ sung thêm chất trích xuất từ tỏi thì mức cholesterol trung bình chỉ khoảng 419. Những nhà khoa học cho rằng độ cholesterol nầy vẫn còn cao so với bình thường. Tuy nhiên hiệu quả cải thiện mỡ trong máu của tỏi là rất rõ ràng. Bác sĩ Jain cũng cho biết những mãng xơ vữa trong những con thỏ được dùng tỏi không nghiêm trọng như ở những con thỏ không dùng tỏi.
Một nghiên cứu của một nhóm nhà khoa học Ấn độ trên những đối tượng khoẻ mạnh được cho dùng khoảng 2 ounce (khoảng 57g) tỏi hoặc lượng chất chiết xuất tỏi tương đương thì độ cholesterol giảm trung bình từ 229 xuống còn 213 trong vòng 3 giờ đồng hồ. Ở một nghiên cứu khác, một số đàn ông bị áp huyết cao trung bình được dùng những viên tỏi. Kết quả cho thấy những người nầy không chỉ hạ được độ cholesterol mà còn hạ được áp huyết trong vòng từ 10 đến 40 ngày. Một báo cáo của các nhà khoa học trường Đại học Newyork cũng cho biết những người ăn hàng ngày từ ½ đến 1 củ tỏi trong vòng từ 8 đến 24 tuần có thể hạ độ cholesterol xuống khoảng 9%.
Cơ chế tác dụng của tỏi trên hệ tim mạch. Tỏi làm hạ cholesterol bằng cách gia tăng sự đào thải cholesterol và làm giảm sự hấp thụ cholesterol xấu qua màng ruột qua đó làm giảm độ lipid trong máu. Hoạt chất của tỏi có tính chất gần giống như nội tiết tố prostaglandin PGI2 vừa nở mạch vừa ngăn chận quá trình kết tập tiểu cầu nên có tác dụng hạ cao huyết áp. Chất ajoene trong tỏi cũng làm giảm nồng độ fibrinogen trong máu giúp giảm nguy cơ nghẽn mạch. Trong các loại bệnh xơ vữa động mạch, các gốc tự do làm gia tăng sự oxy hoá những tế bào LDL ở thành mạch máu tạo thành mãng bám gây cứng động mạch và làm hẹp lòng mạch. Tỏi là một loại gia vị có những chất chống oxy hoá mạnh nhất trong số các gia vị thông thường, có thể ngăn chận quá trình nầy.
Rượu tỏi giảm mỡ máu, hạ cao huyết áp. Tỏi là một vị thuốc có tính nóng. Có một số trường hợp dùng rượu tỏi chữa cao huyết áp sau khi giảm một thời gian huyết áp đã lại cao trở lại. Do đó, việc dùng lâu dài cần phải phải linh động gia giảm tuỳ theo cơ địa hàn nhiệt và điều kiện của mỗi người. Sau khoảng 2 hay 3 tuần, người bệnh phải giảm dần liều dùng và lưu ý dùng liều thấp hơn đủ để duy trì hiệu quả điều trị. Ngoài ra, việc điều trị cao huyết áp và phòng ngừa bệnh tim mạch cần được phối hợp với chế độ ăn nhiều chất xơ, ít chất béo bão hoà trong các loại thịt động vật và tăng cường vận động chớ không nên chỉ dựa vào tỏi. Sau đây là một công thức ngâm rượu tỏi để chữa cao huyết áp hoặc làm hạ độ cholesterol trong máu. Dùng 300g tỏi. Sau khi bóc võ và xắt lát mỏng, ngâm tỏi trong 600g rượu trắng khoảng 40o. Sau 2 tuần chắt rượu ra để dùng. Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần từ 15 đến 20 giọt. Sau khi dùng khoảng 2 hoặc 3 tuần nên theo dõi huyết áp để giảm dần liều dùng xuống liều duy trì.
Sau đây là một vài cách sử dụng tỏi thông thường.
Phòng và trị cúm. Giã nát 3 tép tỏi, hãm trong 50g nước sôi khoảng nửa giờ. Chắt lấy nước, nhỏ vào mũi mỗi bên khoảng 2 hay 3 giọt, ngày 2 hoặc 3 lần.
Rửa vết thương, chỗ lở loét.. Pha loãng 1 phần dịch tỏi và 10 phần nước cất, thêm 2% cồn để bảo quản. Kinh nghiệm của bác sĩ Taghiep (Nga) cho biết dùng nước tỏi chữa nhiễm trùng do bỏng sau 12,5 ngày thì lành trong khi điều trị với penicillin và sulfamid phải mất 14,5 ngày.
Chữa đau răng. Giã nát 2 tép tỏi trộn với một chút nước ấm. Đợi khoảng 10 phút sau, dùng một que tăm tẩm dịch tỏi thấm đều chung quanh chỗ đau.
Chữa mụn cóc, chai chân. Giã nát 2 tép tỏi, dán gọn vào chỗ bị chai và để qua đêm.
Chữa viêm họng. Giã nát 2 tép tỏi, trộn 1 phần tỏi và 3 phần hành lá, buộc vào huyệt Hợp cốc ở bàn tay. Để qua đêm. Dịch tỏi sẽ thấm qua da và kích thích mạnh vào huyệt có tác dụng “tả”để chữa viêm họng. Hành lá có tác dụng làm giảm độ nóng để tránh phồng da. (Úp bàn tay xuống, xoè rộng 2 ngón tay trỏ và ngón tay cái, huyệt hợp cốc nằm trên mặt lưng của bàn tay, ở chỗ lõm giữa 2 xương ngón tay cái và ngón tay trỏ.)
Kiện Tỳ, bổ khí, sinh tinh, chữa áp huyết thấp. Gà hấp cách thuỷ với tỏi. Dùng 1 con gà khoảng nửa ký, 40g tỏi thái mỏng, nửa chén rượu vang, gia vị vừa đủ. Gà làm sạch, bỏ lông và nội tạng. Hấp cách thuỷ, ăn trong ngày. Không dùng cho người thể tạng nhiệt, nóng sốt hoặc đang bị các chứng viêm nhiễm đang phát triển.
Lưu ý. Do có tính nóng và tác dụng hành khí mạnh, cẩn thận khi dùng tỏi cho người đang có thai, đang nóng sốt, nhiễm trùng chân răng, viêm xoang. Tỏi cũng có thể gây dị ứng làm ngứa ngáy, nổi mẩn ở một số người. Ngoài ra, người sắp được phẫu thuật không nên dùng tỏi vì tỏi có khả năng làm thay đổi ảnh hưởng của các thuốc chống đông máu được dùng trong giải phẫu. Một nghiên cứu còn cho biết dùng tỏi có thể gây phản ứng phụ nguy hiểm đối với những người đang điều trị HIV/AIDS[iv].
6. Tỏi tây
Ngoài canxi, phốt pho, sắt, đường, protein, vitamin A, C, tỏi tây còn chứa carotene và chất xơ, có thể tăng cường nhu động dạ dày giúp loại bỏ các chất dư thừa trong đường ruột, bao gồm chất béo không cần thiết.
7. Hành tây
Trong thành phần dinh dưỡng của hành tây không những không chứa chất béo mà còn có khả năng duy trì huyết áp, ổn định của quá trình bài tiết muối trong cơ thể tránh tích nhiều muối dẫn đến tăng cân.
Chính vì vậy, hành tây có tác dụng giảm huyết áp hiệu quả và an toàn hơn các loại thuốc hạ huyết áp.
Hành tây rất giàu chất dinh dưỡng tự nhiên. Không chỉ giàu kali, vitamin C, axit folic, kẽm, selenium, chất xơ và chất dinh dưỡng khác, mà còn chứa hai chất dinh dưỡng đặc biệt - quercetin và A. prostaglandin. Nhờ đó, hành tây có nhiều lợi ích sức khỏe mà các thực phẩm khác không thể thay thế.
8. Nấm
Nấm ăn là loại thực phẩm giàu giá trị dinh dưỡng, vitamin (B, C, D) và giàu các nguyên tố vi lượng (sắt, selen,
natri, kali, magiê và phốt pho). Ngoài ra, hàm lượng protein trong nấm cao nhưng lại ít chất béo nên nó là lựa chọn an toàn cho những người thừa cân hay muốn giảm cân.

(Suc khoe) - Nếu bạn không thích món nấm hay còn do dự lựa chọn loại thực phẩm này để bổ sung vào chế độ ăn của mình, hãy tìm hiểu 5 tác dụng của nấm đối với sức khỏe của con người chúng ta như sau.

Nấm là món ăn được khá nhiều người ưa chuộng và có thể được dùng
để chế biến nhiều món ăn "khoái khẩu".
9
Công dụng của tỏi tây
7. Hành tây
Trong thành phần dinh dưỡng của hành tây không những không chứa chất béo mà còn có khả năng duy trì huyết áp, ổn định của quá trình bài tiết muối trong cơ thể tránh tích nhiều muối dẫn đến tăng cân.
Chính vì vậy, hành tây có tác dụng giảm huyết áp hiệu quả và an toàn hơn các loại thuốc hạ huyết áp.
Chớ bỏ qua hành tây - "nữ hoàng" của các loại rau
(Sức khỏe) - Từ thời kỳ Ai Cập cổ đại, hành tây đã được coi như một phần của chế độ ăn uống lành mạnh và có vai trò như một loại thuốc tự nhiên. Đến nay, giá trị dinh dưỡng của hành tây và giá trị chữa bệnh của hành tây vẫn chưa dừng lại. Ở nhiều nước châu Âu và châu Mỹ hành tây được coi là “nữ hoàng của các loại rau”. Tại sao lại như vậy? Những lý do dưới đây sẽ buộc bạn “phải thích” thực phẩm dinh dưỡng này.
Hành tây rất giàu chất dinh dưỡng tự nhiên. Không chỉ giàu kali, vitamin C, axit folic, kẽm, selenium, chất xơ và chất dinh dưỡng khác, mà còn chứa hai chất dinh dưỡng đặc biệt - quercetin và A. prostaglandin. Nhờ đó, hành tây có nhiều lợi ích sức khỏe mà các thực phẩm khác không thể thay thế.
![]() |
| Hành tây có nhiều lợi ích sức khỏe mà các thực phẩm khác không thể thay thế. |
Một vài tác dụng sức khỏe của hành tây
- Giảm lượng đường trong máu: Bằng chứng thực nghiệm và lâm sàng cho thấy rằng disulfua allyl propyl có trong hành tây chịu trách nhiệm cho hiệu ứng giảm lượng đường trong máu bằng cách tăng lượng insulin miễn phí có sẵn.
- Phòng ngừa ung thư: Các nhà nghiên cứu cho thấy hành tây và các thực phẩm họ nhà hành khác có thể giúp ngăn ngừa và kiểm soát các bệnh ung thư khác nhau.
Tác dụng chống ung thư của hành là nhờ nó có chứa các thành phần giàu selen và quercetin. Selenium là một chất chống oxy hóa, có thể kích thích phản ứng miễn dịch của cơ thể, do đó ức chế tế bào ung thư phân chia và tăng trưởng, giảm độc tính của chất gây ung thư.
- Giảm lượng đường trong máu: Bằng chứng thực nghiệm và lâm sàng cho thấy rằng disulfua allyl propyl có trong hành tây chịu trách nhiệm cho hiệu ứng giảm lượng đường trong máu bằng cách tăng lượng insulin miễn phí có sẵn.
- Phòng ngừa ung thư: Các nhà nghiên cứu cho thấy hành tây và các thực phẩm họ nhà hành khác có thể giúp ngăn ngừa và kiểm soát các bệnh ung thư khác nhau.
Tác dụng chống ung thư của hành là nhờ nó có chứa các thành phần giàu selen và quercetin. Selenium là một chất chống oxy hóa, có thể kích thích phản ứng miễn dịch của cơ thể, do đó ức chế tế bào ung thư phân chia và tăng trưởng, giảm độc tính của chất gây ung thư.
Quercetin có khả năng ức chế hoạt động của tế bào ung thư, ngăn chặn sự tăng trưởng của chúng. Một cuộc khảo sát cho thấy rằng những người ăn hành tây ít gặp rủi ro vì ung thư dạ dày hơn 25%, tử vong do ung thư ít hơn 30%.
- Tốt cho sức khỏe tim mạch: Trong hành tây có prostaglandin A. Prostaglandin A có thể làm giãn mạch máu, làm giảm độ nhớt máu, và do đó sẽ giúp làm giảm huyết áp, tăng lưu lượng máu mạch vành và phòng ngừa khối huyết.
- Tốt cho sức khỏe tim mạch: Trong hành tây có prostaglandin A. Prostaglandin A có thể làm giãn mạch máu, làm giảm độ nhớt máu, và do đó sẽ giúp làm giảm huyết áp, tăng lưu lượng máu mạch vành và phòng ngừa khối huyết.
Tính sinh học của quercetin dồi dào trong củ hành rất cao, mà theo các nhà khoa học thì quercetin có thể giúp ngăn ngừa giảm lipoprotein (LDL) trong quá trình oxy hóa, xơ vữa động mạch và cung cấp các bảo vệ quan trọng khác cho cơ thể.
![]() |
| Các nhà nghiên cứu cho thấy hành tây và các thực phẩm họ nhà hành khác có thể giúp ngăn ngừa và kiểm soát các bệnh ung thư khác nhau. |
- Kích thích sự thèm ăn, trợ giúp tiêu hóa: Hành tây và tỏi có chứa capsaicin, một mùi thơm, cay nồng thường khiến cho người tiếp xúc chảy nước mắt. Đó là mùi đặc biệt có thể kích thích tiết axit dạ dày, tăng sự thèm ăn.
Thí nghiệm trên động vật đã chỉ ra rằng hành có thể làm tăng sự căng thẳng của đường tiêu hóa, thúc đẩy nhu động dạ dày, sự thèm ăn và do đó đóng vai trò quan trọng trong điều trị viêm teo dạ dày, thiếu hụt nhu động dạ dày, khó tiêu, chán ăn.
- Chống viêm, chống lạnh: Hành tây có chứa allicin phytoncide có khả năng diệt khuẩn mạnh, có thể chống lại virus cúm hiệu quả, phòng chống cảm lạnh. Phytoncide qua đường hô hấp, đường tiểu, tuyến mồ hôi có thể kích thích sự tiết thành ống, do đó lợi tiểu, tiêu đờm, làm toát mồ hôi và có tác dụng kháng khuẩn.
- Tăng cường tình dục: Hành tây được cho là có thể làm tăng nhu cầu tình dục lành mạnh. Một thìa nước ép hành tây cùng với một thìa nước gừng, trộn lẫn để uống sẽ rất hiệu quả. Thực hiện ba lần một ngày có thể làm tăng ham muốn tình dục lên đáng kể.
- Chống viêm, chống lạnh: Hành tây có chứa allicin phytoncide có khả năng diệt khuẩn mạnh, có thể chống lại virus cúm hiệu quả, phòng chống cảm lạnh. Phytoncide qua đường hô hấp, đường tiểu, tuyến mồ hôi có thể kích thích sự tiết thành ống, do đó lợi tiểu, tiêu đờm, làm toát mồ hôi và có tác dụng kháng khuẩn.
- Tăng cường tình dục: Hành tây được cho là có thể làm tăng nhu cầu tình dục lành mạnh. Một thìa nước ép hành tây cùng với một thìa nước gừng, trộn lẫn để uống sẽ rất hiệu quả. Thực hiện ba lần một ngày có thể làm tăng ham muốn tình dục lên đáng kể.
| Hành tây được cho là có thể làm tăng nhu cầu tình dục lành mạnh. |
Một vài mẹo nhỏ chữa bệnh từ hành tây
- Tiêu chảy: Vỏ lụa hành tây 1 nắm, đun nước uống trong ngày.
- Điều trị rối loạn tiết niệu: Bệnh nhân bị rối loạn tiết niệu thường có cảm giác nóng rát khi đi tiểu. Hành tây có thể hỗ trợ giảm các triệu chứng này. Chỉ cần uống nước đun sôi với hành tây mỗi ngày.
- Giải cảm: Hành tây cắt nhỏ cho vào nấu chín, uống lúc còn nóng, hoặc cho vào cháo ăn nóng, giúp mồ hôi và giải nhiệt nhanh.
- Đuổi muỗi, chữa khó ngủ: Đặt một vài lát hành thái nhỏ bên cạnh khi ngủ.
- Tiêu chảy: Vỏ lụa hành tây 1 nắm, đun nước uống trong ngày.
- Điều trị rối loạn tiết niệu: Bệnh nhân bị rối loạn tiết niệu thường có cảm giác nóng rát khi đi tiểu. Hành tây có thể hỗ trợ giảm các triệu chứng này. Chỉ cần uống nước đun sôi với hành tây mỗi ngày.
- Giải cảm: Hành tây cắt nhỏ cho vào nấu chín, uống lúc còn nóng, hoặc cho vào cháo ăn nóng, giúp mồ hôi và giải nhiệt nhanh.
- Đuổi muỗi, chữa khó ngủ: Đặt một vài lát hành thái nhỏ bên cạnh khi ngủ.
![]() |
| Cách làm sạch hành tốt nhất là tách thành các lớp, rửa rồi mới cắt. |
Cách chế biến hành tây mà không làm mất dinh dưỡng
Hành tây có thể dùng để chế biến rất nhiều món ngon như súp, salad, món ăn chiên, bánh mỳ, làm nước sốt hoặc sử dụng trực tiếp như món ăn phụ và nhiều hơn nữa. Nhưng việc rửa sạch và cắt hành tây sẽ làm mất mát các chất dinh dưỡng, do đó cách làm sạch hành tốt nhất là tách thành các lớp, rửa rồi mới cắt.
Với các loại hành khác nhau của họ, nên chọn phương pháp nấu ăn khác nhau, để phản ánh tốt hơn khẩu vị và lợi ích dinh dưỡng của chúng
- Củ hành đỏ, tím, hương vị cay, thích hợp cho chiên đốt giúp tăng sức đề kháng.
- Củ hành trắng mềm, có vị ngọt và độ ẩm cao, sau khi nấu có màu vàng và vị ngọt phong phú, phù hợp cho các món trộn, nướng hoặc hầm.
- Củ hành màu vàng mềm và dẻo, ngọt, cay cay, thường được dùng làm nguyên liệu cho món nước sốt.
Hành tây có thể dùng để chế biến rất nhiều món ngon như súp, salad, món ăn chiên, bánh mỳ, làm nước sốt hoặc sử dụng trực tiếp như món ăn phụ và nhiều hơn nữa. Nhưng việc rửa sạch và cắt hành tây sẽ làm mất mát các chất dinh dưỡng, do đó cách làm sạch hành tốt nhất là tách thành các lớp, rửa rồi mới cắt.
Với các loại hành khác nhau của họ, nên chọn phương pháp nấu ăn khác nhau, để phản ánh tốt hơn khẩu vị và lợi ích dinh dưỡng của chúng
- Củ hành đỏ, tím, hương vị cay, thích hợp cho chiên đốt giúp tăng sức đề kháng.
- Củ hành trắng mềm, có vị ngọt và độ ẩm cao, sau khi nấu có màu vàng và vị ngọt phong phú, phù hợp cho các món trộn, nướng hoặc hầm.
- Củ hành màu vàng mềm và dẻo, ngọt, cay cay, thường được dùng làm nguyên liệu cho món nước sốt.
- Phương Linh
8. Nấm
Nấm ăn là loại thực phẩm giàu giá trị dinh dưỡng, vitamin (B, C, D) và giàu các nguyên tố vi lượng (sắt, selen,
natri, kali, magiê và phốt pho). Ngoài ra, hàm lượng protein trong nấm cao nhưng lại ít chất béo nên nó là lựa chọn an toàn cho những người thừa cân hay muốn giảm cân.

Nấm có nhiều công dụng với sức khỏe. (Ảnh minh họa)
Đôi điều chưa biết về nấm ăn
Nấm là món ăn được khá nhiều người ưa chuộng và có thể được dùng để chế biến nhiều món ăn "khoái khẩu" theo nhiều cách như xào, nấu súp, làm bánh pizza...
Người ta chọn nấm làm thức ăn và chế biến món ăn hàng ngày không phải chỉ bởi vì nó ngon miệng mà nó còn có khá nhiều công dụng về mặt sức khỏe.
Người ta chọn nấm làm thức ăn và chế biến món ăn hàng ngày không phải chỉ bởi vì nó ngon miệng mà nó còn có khá nhiều công dụng về mặt sức khỏe.
Nếu bạn không thích món nấm hay còn do dự lựa chọn loại thực phẩm này để bổ sung vào chế độ ăn của mình, hãy tìm hiểu 5 tác dụng của nấm đối với sức khỏe của con người chúng ta như sau:
1. Giống như nhiều loại thực phẩm khác, trong nấm cũng có chứa chất chống oxy hóa, là chất có thể giúp cơ thể chống lại các gốc tự do và giảm nguy cơ ung thư. Các nấm Portobella chứa lượng chất chống oxy hóa cao nhất, tiếp theo là nấm trắng.
2. Một trăm gam của nấm chứa 45% hoặc nhiều hơn lượng selenium (selen) cần thiết hàng ngày. Lượng selen cao sẽ giúp bảo vệ bạn chống lại bệnh ung thư bàng quang.
3. Nấm Crimini chứa rất nhiều dinh dưỡng thực vật, giúp giữ cho hệ thống miễn dịch của con người khỏe mạnh và mạnh mẽ.
4. Nấm còn có tác dụng giúp tăng cường sức khỏe tim vì chúng có chứa vitamin B1 và B6.
1. Giống như nhiều loại thực phẩm khác, trong nấm cũng có chứa chất chống oxy hóa, là chất có thể giúp cơ thể chống lại các gốc tự do và giảm nguy cơ ung thư. Các nấm Portobella chứa lượng chất chống oxy hóa cao nhất, tiếp theo là nấm trắng.
2. Một trăm gam của nấm chứa 45% hoặc nhiều hơn lượng selenium (selen) cần thiết hàng ngày. Lượng selen cao sẽ giúp bảo vệ bạn chống lại bệnh ung thư bàng quang.
3. Nấm Crimini chứa rất nhiều dinh dưỡng thực vật, giúp giữ cho hệ thống miễn dịch của con người khỏe mạnh và mạnh mẽ.
4. Nấm còn có tác dụng giúp tăng cường sức khỏe tim vì chúng có chứa vitamin B1 và B6.
5. Ngoài ra, nấm có chứa axit linoleic tổng hợp và các chất được các bác sĩ cho là có thể làm giảm mức độ lưu hành estrogen ở phụ nữ sau mãn kinh. Điều này rất tốt cho chị em và rất quan trọng bởi theo. Hiệp hội ung thư Canada, nồng độ estrogen cao có liên quan với nguy cơ ung thư vú cao hơn.

Nấm là món ăn được khá nhiều người ưa chuộng và có thể được dùng
để chế biến nhiều món ăn "khoái khẩu".
Một số loại nấm ăn điển hình
Nấm hương: Nấm hương có tác dụng điều tiết chuyển hóa, tăng cường năng lực miễn dịch của cơ thể, ức chế tế bào ung thư, hạ huyết áp, giảm cholesterol máu, phòng ngừa sỏi mật và sỏi tiết niệu, trợ giúp tiêu hóa...
Nấm rơm: Là một trong những loại nấm ăn được sử dụng rất rộng rãi, có giá trị dinh dưỡng khá cao. Nấm rơm là thức ăn rất tốt cho những người bị cao huyết áp, rối loạn lipid máu, vữa xơ động mạch, tiểu đường, ung thư và các bệnh lý mạch vành tim.
Nấm mỡ: Nấm mỡ có tác dụng làm giảm đường và cholesterol máu, phòng chống ung thư và cải thiện chức năng gan... rất thích hợp cho những người bị ung thư, tiểu đường, tăng cholesterol máu, cao huyết áp, giảm bạch cầu và viêm gan.
Mộc nhĩ trắng: Đây cũng là một loại nấm. Loại nấm này có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, nâng cao năng lực tạo máu của tủy xương, cải thiện chức năng của gan và thận, thúc đẩy quá trình tổng hợp protid trong gan, làm giảm cholesterol máu, chống phù và chống phóng xạ. Những người bị suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, bị các bệnh lý đường hô hấp, cao huyết áp, thiểu năng tuần hoàn não... nên bổ sung loại nấm này.
Mộc nhĩ đen: Mộc nhĩ đen chứa nhiều protid, chất khoáng và vitamin. Mộc nhĩ đen có khả năng ức chế quá trình ngưng tập tiểu cầu, phòng chống tình trạng đông máu do nghẽn mạch, ngăn cản sự hình thành các mảng vữa xơ trong lòng huyết quản và chống lão hóa, chống ung thư và phóng xạ. Những người bị cao huyết áp, vữa xơ động mạch, thiểu năng tuần hoàn não, thiểu năng động mạch vành và ung thư... nên ăn nhiều loại nấm này.
Một vài điều cần biết về nấm
• Nấm có nhiều kali như chuối
• Có những loại nấm ăn được nhưng cũng có một vài loại nấm không nên ăn
• Người Ai Cập cho rằng ăn nấm sẽ làm cho họ bất tử
• Nấm có thể được sử dụng để nhuộm len và các loại sợi khác
• Trung Quốc là nơi cung cấp nấm nhiều nhất thế giới
• Nấm không cần ánh sáng mặt trời để phát triển
Nấm hương: Nấm hương có tác dụng điều tiết chuyển hóa, tăng cường năng lực miễn dịch của cơ thể, ức chế tế bào ung thư, hạ huyết áp, giảm cholesterol máu, phòng ngừa sỏi mật và sỏi tiết niệu, trợ giúp tiêu hóa...
Nấm rơm: Là một trong những loại nấm ăn được sử dụng rất rộng rãi, có giá trị dinh dưỡng khá cao. Nấm rơm là thức ăn rất tốt cho những người bị cao huyết áp, rối loạn lipid máu, vữa xơ động mạch, tiểu đường, ung thư và các bệnh lý mạch vành tim.
Nấm mỡ: Nấm mỡ có tác dụng làm giảm đường và cholesterol máu, phòng chống ung thư và cải thiện chức năng gan... rất thích hợp cho những người bị ung thư, tiểu đường, tăng cholesterol máu, cao huyết áp, giảm bạch cầu và viêm gan.
Mộc nhĩ trắng: Đây cũng là một loại nấm. Loại nấm này có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, nâng cao năng lực tạo máu của tủy xương, cải thiện chức năng của gan và thận, thúc đẩy quá trình tổng hợp protid trong gan, làm giảm cholesterol máu, chống phù và chống phóng xạ. Những người bị suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, bị các bệnh lý đường hô hấp, cao huyết áp, thiểu năng tuần hoàn não... nên bổ sung loại nấm này.
Mộc nhĩ đen: Mộc nhĩ đen chứa nhiều protid, chất khoáng và vitamin. Mộc nhĩ đen có khả năng ức chế quá trình ngưng tập tiểu cầu, phòng chống tình trạng đông máu do nghẽn mạch, ngăn cản sự hình thành các mảng vữa xơ trong lòng huyết quản và chống lão hóa, chống ung thư và phóng xạ. Những người bị cao huyết áp, vữa xơ động mạch, thiểu năng tuần hoàn não, thiểu năng động mạch vành và ung thư... nên ăn nhiều loại nấm này.
Một vài điều cần biết về nấm
• Nấm có nhiều kali như chuối
• Có những loại nấm ăn được nhưng cũng có một vài loại nấm không nên ăn
• Người Ai Cập cho rằng ăn nấm sẽ làm cho họ bất tử
• Nấm có thể được sử dụng để nhuộm len và các loại sợi khác
• Trung Quốc là nơi cung cấp nấm nhiều nhất thế giới
• Nấm không cần ánh sáng mặt trời để phát triển
. Tảo bẹ
Tảo bẹ giàu taurine, axit alginic, chất xơ có thể làm giảm mỡ máu và cholesterol trong mật.
Tảo bẹ rất giàu chất dinh dưỡng
Rong biển (còn gọi là tảo bẹ) là thức ăn rất giàu dưỡng chất. Trong các phương pháp dưỡng sinh của nhiều dân tộc trên thế giới, rong biển được coi là thức ăn tạo sự dẻo dai, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần cho con người. Rong biển khô rất giàu chất bột đường, chất xơ, đạm, sinh tố và chất khoáng.
Phân tích gí trị thành phần dinh dưỡng của rong biển người ta thấy, hàm lượng sinh tố A trong rong biển cao gấp 2-3 lần so với cà rốt, hàm lượng can xi cao gấp 3 lần so với sữa bò, vitamin B2 cao gấp 4 lần trong trứng… Nghiên cứu của y học hiện đại cho thấy rong biển còn chứa các dưỡng chất sau:

- Vitamin C trong rong biển là chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sự trao đổi chất của tế bào, thúc đẩy sự hình thành collagen trong cơ thể, làm vết thương mau lành và có tác dụng phòng chảy máu chân răng.
- Iốt là khoáng chất cần thiết cho tuyến giáp, có nhiều trong rong biển. Thiếu Iốt sẽ mắc bệnh bứu cổ.
- Vitamin B2 trong rong biển có tác dụng tham gia truyền dẫn trong quá trình ôxy hóa của cơ thể. Nếu cơ thể thiếu vitamin B2 kéo dài sẽ gây rối loạn trao đổi chất của các tế bào.
- Axit béo trong rong biển có tác dụng thúc đẩy cơ thể thải loại cholesterol, khống chế lượng cholesterol trong m áu, từ đó ngăn ngừa bệnh cao huyết áp và bệnh tim mạch. Ngoài ra, rong biển còn chứa DHA, canxi và một số dưỡng chất khác cần thiết cho sức khỏe.
Qua nghiên cứu và thực nghiệm lâm sàng, các chuyên gia y học thấy rằng, rong biển có tác dụng bổ máu, tốt cho tim, thận, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết và các cơ quan sinh dục. Rong biển làm dẻo dai các mạch máu và các mô tế bào, giúp điều hòa hoạt động giữa các hệ thống trong cơ thể. Thành phần quan trọng trong rong biển là chất fertile clement – có tác dụng điều tiết máu lưu thông, tiêu độc, loại bỏ các cặn bã trong cơ thể. Trong rong biển có chứa polysaccharide, có tác dụng hấp thu cholesterol thải ra ngoài cơ thể, khiến hàm lượng cholesterol trong huyết dịch duy trì ở mức cân bằng.
Nhiều nghiên cứu khoa học trong thời gian gần đây cũng đã xác nhận, rong biển có tác dụng phòng chống vi rút và ung thư. Các chuyên gia y học đã phát hiện ra huyết dịch của những bệnh nhân ung thư mang tính axit, trong khi đó rong biển lại là thức ăn mang tính kiềm chứa nhiều canxi, vì thế có tác dụng điều tiết và cân bằng độ axit và kiềm trong máu. Chất cellulose có nhiều trong rong biển kích thích sự co bóp của ruột, đẩy nhanh quá trình bài tiết, hạ thấp nồng độ những chất có nguy cơ gây ung thư trong đường ruột, từ đó làm giảm mắc ung thư kết tràng và ung thư trực tràng.
Dưới góc nhìn của y học hiện đại, rong biển là loại thức ăn thường được dùng phối hợp trong thực đơn cho những người béo phì, người mắc bệnh tiểu đường, người cao huyết áp và người bị suy tuyến giáp trạng.
Theo - Thế giới phụ nữ
Vĩnh Bảo sưu tầm 18/9/2012
9










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét