Những điều nên biết về Cholesterol
(bài do bạn KimAnh giới thiệu)
Chuyên đề 1: Cholesterol máu tăng
BS. Dương Công Minh
1. Cholesterol là gì?
Hầu như ai cũng đã nghe nói đến cholesterol và biết rằng sự dư thừa của nó trong cơ thể có hại cho sức khỏe, cụ thể là nguy cơ bị các bệnh tim mạch như xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim… Cholesterol được Poulletier phân lập lần đầu tiên từ sỏi mật vào năm 1789, Năm 1815, Chevreul đề nghị đặt tên là cholesterol. Hơn 200 năm trôi qua và có đến 13 giải Nobel cho những khoa học gia cống hiến đời mình tìm hiểu về phân tử này.
- Cholesterol thuộc loại lipid đơn giản.
- Có mặt với một số lượng lớn ở động vật ă cỏ, ăn thịt nhưng hoàn toàn không có trong các loại thực vật.
2. Cholesterol trong cơ thể chúng ta từ đâu đến?
Từ hai nguồn:
2.1. Ngoại sinh (chiếm 40%): từ thức ăn.
2.2. Nội sinh (chiếm 60%): cơ thể có thể sản xuất trực tiếp
Tất cả các tế bào cơ thể đều có thể sản xuất cholesterol.
Gan là nhà máy chính.
Chuyển biến từ tiền chất của cholesterol: acid mevalonique.
- Cholesterol kết hợp với một acid béo để tạo thành 1 ester, được gọi al2 cholesterol ester hóa. Trong cơ thể, cholesterol ester hóa lớn gấp 2 lần cholesterol không ester hóa.
- Cholesterol được đào thải tự nhiên một phần qua gan (dưới dạng sản xuất mật), một phân qua phân.
3. Cholesterol “xấu” và cholesterol “tốt”

3.1. Cholesterol tỷ trong thấp (LDL-C) – cholesterol “xấu”:
Các tiểu thể LDL-C dễ dàng bị oxy hóa. Các gốc tự do được sinh ra trong quá trình oxy hóa này sẽ:
- Tăng ngưng tự tiểu cầu
- Kích thích tăng sinh cơ trơn thành mạch
- Các LDL-C bị oxy hóa bị các đại thực bào bắt giữ, tạo nên các tế bào bọt, tích tụ thành mảng đeo bám vào thành động mạch… góp phần gây chíp hẹp lòng mạch.
→ Việc sử dụng thức ăn có nhiều chất chống oxy hóa như vitamin E, vitamin C, beta caroren, selen… cũng là một biện pháp ngăn ngừa quá trình xơ vữa động mạch (XVĐM).
3.2. Cholesterol tỷ trong cao (HDL-C) – cholesterol “tốt”: được tổng hợp ở gan và ruột non, nhiệm vụ vận chuyển cholesterol từ các mô về gan. Chính vì thế khi tỷ lệ LDL/HDL lớn → nguy cơ tích tụ cholesterol nhiều ở thành mạch gâ XVĐM do thiếu HDL không vận chuyển được cholesterol về gan.
Nếu LDL càng lớn → nguy cơ bị XVĐM càng lớn. Ngược lại nếu HDL càng lớn thì XVĐM càng thấp. Khi tỷ lệ LDL/HDL > 5 thì nguy cơ bệnh mạch vành càng tăng.
Trong cơ thể, hầu hết cholesterol huyết thanh là LDL-C, do đó khi cholesterol hoàn phần tăng thì cũng là biểu hiện nguy cơ của bệnh mạch vành.
4. Giới hạn chuẩn và giới hạn được cho là tốt của cholesterol máu:
Giới hạn chuẩn (mmol/I)
|
Giới hạn tốt (mmol/I)
| |
Cholesterol toàn phần
|
3,5 – 7,8
|
< 5,2
|
LDL – cholesterol
|
2,3 – 6,1
|
< 4,0
|
HDL – cholesterol
|
0,8 – 1,7
|
> 1,15
|
Hoặc:
Xếp loại cholesterol toàn phần, HDL-C, LDL-C (mg/dl):
LDL-cholesterol (mg/dl)
|
Xếp loại
|
< 100
|
Thích hợp
|
100 – 129
|
Vừa phải
|
130 – 159
|
Hơi cao
|
160 – 189
|
Cao
|
≥ 190
|
Rất cao
|
Cholesterol toàn phần (mg/dI)
| |
< 200
|
Thích hợp
|
200 – 239
|
Hơi cao
|
≥ 240
|
Cao
|
HDL-cholesterol (mg/dI)
| |
< 40
|
Thấp
|
40 – 60
|
Thích hợp
|
≥ 60
|
Cao
|
5. Chức năng của cholesterol trong cơ thể:
Mặc dù mang tiếng xấu nhưng là phân tử rất cần thiết cho sự sống:
- Xây dựng bộ khung tế bào.
- Tham gia vào dây chuyền sản xuất một số nội tiết (cortisone, hormone buồng trứng nữ, hormone nam testosterones…).
- Can thiệp vào sự sản xuất mật.
- Tiền dẫn xuất của vitamin D.
6. Các yếu tố ảnh hưởng đến lượng cholesterol máu:
- Chế độ ăn uống
- Trọng lượng cơ thể: thừa cân có khuynh hướng làm tăng cholesterol máu, là một yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim mạch.
- Hoạt động thể lực: hoạt động thể lực đều đặn 30 phút/ngày giúp làm giảm LDL và tăng HDL.
- Tuổi tác - giới tính (những yếu tố không thể tác động được): tuổi càng tăng, cholesterol càng tăng. Cholesterol của nữ (trước thời kỳ mãn kinh) thường thấp hơn nam ở cùng độ tuổi. Sau tuổi mãn kinh, LDL ở phụ nữ xó xu hướng gia tăng.
- Di truyền.
7. Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn trong tăng cholesterol máu:
7.1. Chế độ ăn trong tăng LDL-cholesterol máu:
- Chế độ ăn đóng vai trò trung tâm trong điều trị hạ LDL-C → ngăn ngừa XVĐM và bệnh mạch vành.
- Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn hạ LDL-cholesterol:
1. Giảm tổng năng lượng ăn vào trong ngày để giảm cân
2. Giảm lượng chất béo (lipid):
Giảm lượng cholesterol ăn vào < 250mg/ngày
Dùng dầu đậu phụng, dâu ôliu, dầu đỗ tương thay cho mỡ nà nên bổ sung dầu cá vì chứa nhiều acid béo không no.
Loại bỏ các thức ăn chứa nhiều acid béo no như mỡ, bơ, nước luộc thịt và các thực phẩm nhiều cholesterol như óc, lòng, phủ tạng động vật, trứng, đồ hộp béo.
Chú ý đến chất lượng lipid chứ không phải số lượng. Có tỷ lệ cân đối giữa acid béo no (mỡ), acid béo chưa no nhiều nối kép (dầu thực vật) và acid béo chưa no họ n-3 (cá và hải sản).
3. Tăng lượng đạm (protein) ít béo: thịt bò nạc, thịt gà nạc bỏ da, thịt lợn chăn, cá, đậu đỗ.
Bớt lượng đạm giàu mỡ như thịt nữa nạc nữa mỡ.
Lượng protein nên chiếm khoảng 12 – 20% tổng năng lượng, bao gồm cả đạm động vật, đạm thực vật.
4. Chất bột (glucid): 60 – 70% tổng năng lượng
Hạn chế đường mật, tối đa 10 – 20g/ngày.
Sử dụng ngũ cốc, kết hợp khoai củ.
5. Giàu vitamin, khoáng, vi lượng, chất xơ chủ yếu trong rau quả gạo mì.
6. Tăng các loại thức ăn có nhiều chất chống oxy hóa (rau xanh, trái cây…).
8. Một số biện pháp phối hợp điều trị trong tăng cholesterol máu:
Góp phần rõ rệt hạ LDL-C và tăng HDL-C:
8.1. Kiểm soát cân nặng
8.2. Hoạt động thể lực
8.3. Bỏ thuốc lá
8.4. Điều trị thuốc
Phụ lục: các thực phẩm thông dụng và thành phần cholesterol
Nhóm thịt, trứng, sữa
Thực phẩm (100g)
|
Béo
bảo hòa (g)
|
Cholesterol (mg)
|
Béo tổng cộng (g)
|
Năng lượng từ béo (%)
|
Năng lượng tổng cộng (kcal)
|
1. Thịt bò
| |||||
Thận hầm
|
1.1
|
387
|
3.4
|
21
|
144
|
Gan rim
|
1.9
|
389
|
4.9
|
27
|
161
|
Thịt lưng
|
3.6
|
76
|
8.9
|
40
|
203
|
Thịt thăn
|
3.6
|
89
|
8.7
|
38
|
208
|
Thịt bả vai
|
3.8
|
89
|
8.7
|
38
|
208
|
Thịt ức
|
4.6
|
93
|
12.8
|
48
|
241
|
Thịt sườn
|
4.9
|
80
|
11.6
|
47
|
225
|
Xúc xích bò
|
9
|
65
|
20.7
|
71
|
262
|
2. Thịt cừu
| |||||
Chân giò
|
3
|
89
|
8.2
|
39
|
191
|
Thịt lưng
|
4.1
|
94
|
9.4
|
39
|
215
|
Sườn không mỡ
|
5.7
|
88
|
12.3
|
48
|
232
|
Sườn có mỡ
|
14.2
|
90
|
30.6
|
75
|
369
|
3. Thịt heo
| |||||
Gan rim
|
1.4
|
355
|
4.4
|
24
|
165
|
Thận rim
|
1.5
|
480
|
4.7
|
28
|
151
|
Thịt lưng, nạc
|
1.7
|
93
|
4.8
|
26
|
166
|
Thịt vai nạc
|
2.4
|
48
|
7
|
37
|
170
|
Giò heo rút xương, nướng
|
3.1
|
59
|
9
|
46
|
178
|
Giò heo, nạc
|
3.6
|
92
|
10.5
|
44
|
215
|
4. Gà, vịt, nạc không da
| |||||
Mông đùi
|
128
|
2.2
|
13
|
156
| |
Lưng
|
90
|
6.7
|
29
|
207
| |
Cánh
|
90
|
5.3
|
24
|
200
| |
5. Sữa (240ml)
| |||||
Skim milk
|
0.3
|
4
|
0.4
|
5
|
86
|
Butter milk
|
1.3
|
9
|
2.2
|
20
|
99
|
Sữa 1% fat
|
1.6
|
10
|
2.6
|
23
|
102
|
Sữa 2% fat
|
2.9
|
18
|
4.7
|
35
|
121
|
Sữa nguyên kem 3.3% fat
|
5.1
|
33
|
8.2
|
49
|
150
|
6. Trứng gà (cái)
| |||||
Lòng trắng
|
0
|
0
|
0
|
16
| |
Nguyên trứng
|
1.7
|
274
|
5.6
|
64
|
79
|
Lòng đỏ
|
1.7
|
272
|
5.6
|
80
|
63
|
Nhóm dầu mỡ
Thực phẩm
(1 tbsp = 115 – 120kcal)
|
Béo bảo hòa (g)
|
Cholesterol (mg)
|
Polyusaturated fatty acid (g)
|
Monounsaturated fatty acid (g)
|
Dầu hướng dương
|
1.4
|
0
|
5.5
|
6.2
|
Bơ đậu phộng
|
1.5
|
0
|
2.3
|
3.7
|
Dầu bắp
|
1.7
|
0
|
8
|
3.3
|
Dầu olive
|
1.8
|
0
|
1,1
|
9.9
|
Margarine
|
1.8
|
0
|
5.1
|
3.9
|
Dầu mè
|
1.9
|
0
|
5.7
|
5.4
|
Dầu nành
|
2
|
0
|
7.9
|
3.2
|
Dầu phộng
|
2.3
|
0
|
4.3
|
6.2
|
Mỡ heo
|
5
|
12
|
1.4
|
5.8
|
Dầu cọ
|
6.7
|
0
|
1.3
|
5
|
Bơ
|
7.1
|
31
|
0.4
|
3.3
|
Dầu dừa
|
11.8
|
0
|
0.2
|
0.8
|
Nhóm cá, hải sản
Thực phẩm (100g)
|
Béo bảo hòa (g)
|
Cholesterol (mg)
|
Omega-3 fatty acid (g)
|
Béo tổng cộng (g)
|
Năng lượng từ béo (%)
|
Năng lượng tổng cộng (kcal)
|
1. Cá
| ||||||
Cá lưỡi kiếm
|
1..4
|
50
|
1.1
|
5.1
|
30
|
155
|
Cá ngừ
|
1.6
|
49
|
6.3
|
31
|
184
| |
Lươn
|
3
|
161
|
0.7
|
15
|
57
|
236
|
2. Hải sản
| ||||||
Mực
|
0.1
|
72
|
0.1
|
0.6
|
6
|
98
|
Cua
|
0.2
|
100
|
0.5
|
1.8
|
16
|
102
|
Tôm
|
0.3
|
195
|
0.3
|
1.1
|
10
|
99
|
Hào
|
1.3
|
109
|
1
|
5
|
33
|
137
|
Chuyên đề 2: Cholesterol Tốt, Cholesterol Xấu và Năm Loại Thức Ăn Làm Giảm Cholesterol
BS Vũ Quý Đài
Hồi mấy chục năm trước, dân Mỹ (kể cả giới bác sĩ), ăn uống bừa phứa, hút thuốc lá thả dàn. Tới thập niên 60, mới thấy cái hại của thuốc lá, và một hai chục năm sau mới dần dần biết ăn uống nhiều chất béo làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch. Cholesterol nổi bật lên như là thủ phạm chính. Nhưng rồi lại nói đến 2 thứ Cholesterol, thứ tốt, thứ xấu. Vấn đề biến dưỡng Cholesterol trong cơ thể rất phức tạp và có ảnh hưởng sâu rộng, vì thế đã có tới 2 kỳ giải thưởng Nobel về Y Khoa được trao tặng cho các nhà khảo cứu về Cholesterol, một lần vào năm 1964, và một lần năm 1985.
Cholesterol là gì
Hơn 200 năm trước, người ta tìm ra công thức hoá học của sạn mật, và đặt tên là Cholesterol. Cái tên Cholesterol, nếu phân tích kiểu chiết tự ra, gồm 3 phần gốc chữ Hy Lạp: chole nghĩa là mật, stereos có nghĩa là chất đặc, hình khối (âm thanh nổi stereo cũng là ở gốc chữ nầy) và cái đuôi ol đặc thù do công thức hoá học.
Cholesterol thấy nhiều ở màng các tế bào trong cơ thể, giúp cho màng các tế bào được mềm mại, ổn định. Cholesterol là một thành phần của mật tiết ra từ các tế bào gan, giúp tiêu hoá các chất mỡ béo trong ruột, và cũng giúp cho việc hấp thụ các sinh tố như A, D, E, K. Cholesterol là tiền thân của sinh tố D, của nhiều chất nội tiết quan trọng, kể cả các chất nội tiết nam nữ như testosterone, estrogen, progesterone.
Phần lớn Cholesterol được tổng hợp mỗi ngày từ trong cơ thể, phần nhỏ hơn là hấp thụ từ thực phẩm ăn vào.
Phần lớn Cholesterol được tổng hợp mỗi ngày từ trong cơ thể, phần nhỏ hơn là hấp thụ từ thực phẩm ăn vào.
Cholesterol xấu
Cholesterol không vận chuyển qua hệ thống tuần hoàn trần trụi được, mà là dưới dạng "chất đạm béo" (lipoprotein : lipo là chất béo, protein là chất đạm): cái bao protein ở ngoài, bên trong là cholesterol và một thứ chất béo nữa gọi là triglyceride.
Chất béo ta ăn vô, đi từ ruột non lên gan, gan biến dưỡng thành Cholesterol và triglyceride, từ đó qua hệ tuần hoàn đưa đến các tế bào dưới dạng chất đạm béo.
Những hạt chất đạm béo nầy nhẹ, có tỷ trọng thấp, tiếng Anh gọi là "Low Density Lipoprotein" và hay gọi tắt là LDL. Người khỏe mạnh bình thường, có ít LDL trong máu. Người có nhiều LDL hay bị Cholesterol cùng với tiểu cầu (là một thứ huyết cầu) đóng thành mảng bên trong động mạch, có thể làm nghẹt mạch máu, thí dụ nghẹt động mạch vành nuôi tim sinh đứng tim, nghẹt mạch máu nuôi của một phần của óc, sinh tai biến mạch máu não.

Vì lẽ đó, cho nên người ta gọi LDL là "Cholesterol xấu". LDL trong máu tăng lên là do ăn uống và ít tập luyện thể lực. Cũng có phần nào là do huyết thống di truyền
.
Còn một thứ chất đạm béo, tỷ trọng rất thấp, thường là mang chất béo triglyceride nhiều hơn là Cholesterol. Trước kia người ta không rõ vai trò của triglyceride, nhưng ngày nay thì thấy rằng nhiều triglyceride cũng là một rủi ro sinh bệnh tim mạch. Chất đạm béo nầy tiếng Anh tên là "Very Low Density Lipoprotein", gọi tắt là VLDL. Như vậy, VLDL cũng là một thứ xấu.
Cholesterol tốt
Một thứ chất đạm béo nữa vận chuyển Cholesterol về gan cho gan phá huỷ đi. Chất đạm béo nầy nặng, có tỷ trọng cao, tiếng Anh gọi là "High Density Lipoprotein", tên tắt là HDL. HDL có khả năng lấy bớt Cholesterol từ các mảng bám vào thành mạch máu để mang về gan huỷ đi. Cho nên người có nhiều HDL thì giảm dược nguy cơ đứng tim và tai biến mạch máu não. Nếu HDL ít quá, thì rủi ro đứng tim và tai biến mạch máu não nhiều lên.
Vì vậy, HDL có tên là "cholesterol tốt”. HDL trong máu bị thấp, có thể là do di truyền, nhưng nếu tập luyện thể lực nhiều, thì HDL sẽ tăng cao.
Đo Cholesterol trong máu
Cholesterol trong máu bao nhiêu là tốt ? Tài liệu cua Hội Tim Hoa Kỳ xếp hạng như sau :
- Lượng cholesterol (mg/dl) ítt hơn 200, hoặc ít hơn 5,2 nếu tính ra mmol/dl* , thì được xếp hạng tốt.
- Lượng cholesterol (mg/dl) t&ừ 200 đến 239, hoặc từ 5,2 đến 6,2 mmol/dl, có thể bị tăng rủi ro bệnh tim mạch.
- Lượng cholesterol nhiề;u hơn 240, hoặc nhiều hơn 6,2 mmol/ dl, thì nhiều rủi ro bệnh tim mạch.
- Lượng cholesterol (mg/dl) ítt hơn 200, hoặc ít hơn 5,2 nếu tính ra mmol/dl* , thì được xếp hạng tốt.
- Lượng cholesterol (mg/dl) t&ừ 200 đến 239, hoặc từ 5,2 đến 6,2 mmol/dl, có thể bị tăng rủi ro bệnh tim mạch.
- Lượng cholesterol nhiề;u hơn 240, hoặc nhiều hơn 6,2 mmol/ dl, thì nhiều rủi ro bệnh tim mạch.
(* Ở Mỹ thường đo lượng cholesterol trong máu bằng con số mg trong 1 decilit máu (mg/dl). Các phòng thí nghiệm ở Việt Nam hay dùng đơn vị milimole/dL)
Dựa theo những kết quả khảo cứu gần đây, nhiều Bác Sĩ khuyên bệnh nhân nên giữ cholesterol ở mức dưới 180 mg/dL.
Nhưng ngày nay việc đo lượng cholesterol trong máu thường đi thêm vào chi tiết, cho biết lượng LDL và HDL, nên căn cứ vào hai thứ này thì chính xác hơn .
Nhưng ngày nay việc đo lượng cholesterol trong máu thường đi thêm vào chi tiết, cho biết lượng LDL và HDL, nên căn cứ vào hai thứ này thì chính xác hơn .
LDL nên ở mức dưới 100 mg/dl, nếu là người bình thường. Nếu , là người có những rủi ro khác về bệnh tim mạch, như là di truyền, hút thuốc, tiểu đường, mập phì, v.v thì nên giữ LDL ở mức dưới 70 mg/dL. Trẻ em nên có lượng LDL dưới 35 mg/dL.
Trái lại, HDL cao thì tốt. Nên giữ HDL ở mức trên 50 mg/dl.
Trái lại, HDL cao thì tốt. Nên giữ HDL ở mức trên 50 mg/dl.
Cũng có khi phòng thí nghiệm cho biết tỷ số cholesterol/HDL, gọi là ước lượng rủi ro tim mạch.
Thí dụ cholesterol là 200 mg/dl, HDL là 50 mg/dl, thì tỷ số là 200/50 hay là 4. Tỷ số này đừng để quá 5. Giữ ở mức 3,5 là tốt nhất. Tuy nhiên, có ý kiến cho là không cần biết tỷ số này, cứ căn cứ vào lượng cholesterol tổng quát và LDL, HDL là được rồi.
Năm Loại Thức Ăn Làm Giảm Cholesterol
BS Nguyễn Thị Nhuận
Trước giờ chúng ta nói rất nhiều về những loại thức ăn làm tăng cholesterol và được khuyên là nên tránh chúng. Đại khái thì những thức ăn như thịt đỏ, lòng, trứng, tôm có nhiều cholesterol. Những thức ăn này lại thường được dùng để chế biến nhiều món ăn khoái khẩu nên nói gì thì nói chúng ta khó mà cầm lòng để tránh khỏi ăn những thức ăn này.
Nhưng có những thức ăn nhiều cholesterol thì ngược lại, cũng có những thức ăn chẳng những đã không có cholesterol mà còn có tác dụng làm giảm mức cholesterol LDL tức loại cholesterol "xấu" và làm giảm nguy cơ bị bệnh tim. Những loại thức ăn này là gì và có thể chế biến thành những món ngon không ? Sau đây là 5 loại thức ăn có tác dụng tốt kể trên.
Nhưng có những thức ăn nhiều cholesterol thì ngược lại, cũng có những thức ăn chẳng những đã không có cholesterol mà còn có tác dụng làm giảm mức cholesterol LDL tức loại cholesterol "xấu" và làm giảm nguy cơ bị bệnh tim. Những loại thức ăn này là gì và có thể chế biến thành những món ngon không ? Sau đây là 5 loại thức ăn có tác dụng tốt kể trên.

1. Oatmeal và oat bran
Chúng ta đã biết là loại chất sợi tan được (soluble fiber) có tác dụng làm giảm cholesterol xấu LDL. Oatmeal chính là một loại ngũ cốc có chứa nhiều chất sợi tan được này. Chất này còn được tìm thấy nhiều trong đậu hình thận (kidney beans), mầm của bắp cải brussel (brusels sprouts), táo, lê, psyllium, barley và mận khô.
Chất sợi tan được làm giảm cholesterol xấu LDL bằng cách nào ? Bằng cách làm giảm sự hấp thụ của cholesterol từ ruột vào cơ thể. Chất sợi này giống như chất keo và có tác dụng kết hợp với mật (có chứa cholesterol) và cholesterol từ thức ăn rồi thải ra ngoài.
Chỉ cần ăn khoảng 1 cup rưỡi oatmeal mỗi ngày là sẽ thấy cholesterol giảm xuống. Nếu không thích ăn oatmeal, ta có thể ăn oat bran hay cereal ăn lạnh làm bằng oatmeal hay oat bran.
Nếu ta ăn 5 tới 10 gram chất sợi tan được mỗi ngày, lượng cholesterol xấu LDL sẽ giảm đi 5 %.
Chất sợi tan được làm giảm cholesterol xấu LDL bằng cách nào ? Bằng cách làm giảm sự hấp thụ của cholesterol từ ruột vào cơ thể. Chất sợi này giống như chất keo và có tác dụng kết hợp với mật (có chứa cholesterol) và cholesterol từ thức ăn rồi thải ra ngoài.
Chỉ cần ăn khoảng 1 cup rưỡi oatmeal mỗi ngày là sẽ thấy cholesterol giảm xuống. Nếu không thích ăn oatmeal, ta có thể ăn oat bran hay cereal ăn lạnh làm bằng oatmeal hay oat bran.
Nếu ta ăn 5 tới 10 gram chất sợi tan được mỗi ngày, lượng cholesterol xấu LDL sẽ giảm đi 5 %.
2. Đậu Nành (Mời đọc bài "Đậu Nành Chống Bịnh")
Người Mỹ thường ăn nhiều thịt và nguồn chất đạm chính của họ là từ thịt và từ những nguồn thức ăn động vật. Sách vở Mỹ thường cho rằng người Á Châu ăn ít thịt và nhiều chất đậu nành hơn họ nên ít bị nguy cô đau tim hơn người Mỹ. Tuy chúng ta cũng là người Á Châu nhưng khi qua sống ở Mỹ, nơi thức ăn rất rẻ so với đồng lương, thịt cá thì ê hề, chúng ta cũng tập ăn theo lối người Mỹ, tức là ăn thịt rất nhiều. Như vậy vô tình chúng ta đã bỏ đi một lối ăn uống tốt để theo một chế độ ăn uống nguy hiểm.
Chất đạm từ đậu nành hay những thức ăn chế biến từ đậu nành như đậu hũ, hột đậu nành, sữa đậu nành, có thể làm giảm mực cholesterol xấu LDL và chất béo triglycerides, nhất là khi ăn để thay thế nguồn chất đạm động vật.
Ăn 25 tới 50 grams chất đạm đậu nành mỗi ngày sẽ làm giảm cholesterol xấu LDL 4 tới 8 %. Tuy nhiên, chuyện này không dễ gì thực hiện được vì 25 tới 50 grams đậu nành rất nhiều, khó có người nào có thể ăn nổi trong 1 ngày, huống gì trong mỗi ngày đều ăn như thế. Những người có mực cholesterol rất cao sẽ được lợi nhiều nhất nếu theo phương pháp ăn đậu nành này.
Việc đậu nành làm giảm cholesterol có lẽ có liên hệ tới những chất amino acids của nó. Ngoài ra, đậu nành còn chứa một hợp chất tên là phytoestrogen. Chất nầy có thể làm giảm bệnh tim bằng cách làm nở động mạch vành tim.
Tuy nhiên phụ nữ bị ung thư vú hay có nhiều nguy cơ ung thư vú (thí dụ như có mẹ hay chị bị ung thư vú) thì nên hỏi lại bác sĩ của mình trước khi ăn đậu nành với số lượng lớn vì người ta chưa biết rõ chất estrogen thực vật chứa trong đậu nành có thể có tác dụng gì lên ung thư vú hay không.
Chất đạm từ đậu nành hay những thức ăn chế biến từ đậu nành như đậu hũ, hột đậu nành, sữa đậu nành, có thể làm giảm mực cholesterol xấu LDL và chất béo triglycerides, nhất là khi ăn để thay thế nguồn chất đạm động vật.
Ăn 25 tới 50 grams chất đạm đậu nành mỗi ngày sẽ làm giảm cholesterol xấu LDL 4 tới 8 %. Tuy nhiên, chuyện này không dễ gì thực hiện được vì 25 tới 50 grams đậu nành rất nhiều, khó có người nào có thể ăn nổi trong 1 ngày, huống gì trong mỗi ngày đều ăn như thế. Những người có mực cholesterol rất cao sẽ được lợi nhiều nhất nếu theo phương pháp ăn đậu nành này.
Việc đậu nành làm giảm cholesterol có lẽ có liên hệ tới những chất amino acids của nó. Ngoài ra, đậu nành còn chứa một hợp chất tên là phytoestrogen. Chất nầy có thể làm giảm bệnh tim bằng cách làm nở động mạch vành tim.
Tuy nhiên phụ nữ bị ung thư vú hay có nhiều nguy cơ ung thư vú (thí dụ như có mẹ hay chị bị ung thư vú) thì nên hỏi lại bác sĩ của mình trước khi ăn đậu nành với số lượng lớn vì người ta chưa biết rõ chất estrogen thực vật chứa trong đậu nành có thể có tác dụng gì lên ung thư vú hay không.
3. Walnuts
Chữ walnuts được tự điển dịch là hạt "óc chó" có lẽ vì quả walnut cứng và lồi lõm giống như một bộ óc. Đập vỡ quả này ra, ta sẽ có hạt walnuts trông như hình quả thận nối lại nhưng lồi lõm chứ không phẳng như quả thận. Hạt walnut ăn bùi và ngon, có lẽ chứa nhiều chất béo không bão hoà. Hạt walnuts có thể làm giảm mức cholesterol trong máu một cách đáng kể. Nhờ chứa nhiều chất béo không bão hoà, hạt walnut còn có thể giúp các mạch máu đàn hồi dễ dàng chứ không cứng nhắc.
Nếu ăn nhiều hạt walnuts đến mức 20 % năng lượng của một ngày, mực cholesterol LDL có thể hạ xuống 12 %. Hạt hạnh nhân almonds cũng có tác dụng tương tự.
Tuy nhiên, bạn nên để ý là các loại hạt đều chứa nhiều chất béo - dù là chất béo tốt - nên có nhiều chất calories. Nếu ăn nhiều hạt quá, ta có thể bị lên cân. Tốt hơn hết là thay vì dùng những chất béo khác có hại như cheese, bơ, thịt mỡ ... ta thay thế chúng bằng hạt walnuts.
Nếu ăn nhiều hạt walnuts đến mức 20 % năng lượng của một ngày, mực cholesterol LDL có thể hạ xuống 12 %. Hạt hạnh nhân almonds cũng có tác dụng tương tự.
Tuy nhiên, bạn nên để ý là các loại hạt đều chứa nhiều chất béo - dù là chất béo tốt - nên có nhiều chất calories. Nếu ăn nhiều hạt quá, ta có thể bị lên cân. Tốt hơn hết là thay vì dùng những chất béo khác có hại như cheese, bơ, thịt mỡ ... ta thay thế chúng bằng hạt walnuts.
4. Cá có nhiều mỡ
Những khảo cứu vào thập niên 70 cho thấy người Eskimo ỡ Greenland có mức bệnh tim thấp hơn những giống dân khác ở Greenland vào cùng một thời kỳ. Khi phân tích thức ăn của các giống dân, người ta thấy dân Eskimo ăn ít chất mỡ bão hoà và rất nhiều mỡ omega-3 lầy từ cá, cá voi hay hải cẩu.
Những khảo cứu khác càng ngày càng cho thấy ích lợi của việc ăn cá. Những nguồn chất omega-3 fatty acids là flaxseed, walnuts, dầu canola hay dầu đậu nành.
Chất omega-3 fatty acids làm giảm chất béo triglycerides. Ngoài ra nó còn giúp tim bằng cách giảm huyết áp, giúp tim đập đều nhịp và giảm nguy cơ bị đông máu trong mạch. Ở những người đã từng bị heart attack, dầu cá làm giảm nguy cơ chết bất thình lình.
Nên ăn ít nhất là 2 phần cá mỗi tuần. Những loại cá sau đây chứa nhiều chất omega-3 fatty acids nhất: mackerel, trout ở hồ, herring, sardines, albacore tuna và cá hồi salmon.
Tuy nhiên, nên nhớ cá chỉ có lợi cho tim khi ta ăn cá nướng lò hay nướng vỉ, không phải cá chiên hay cá làm sandwich.
Những khảo cứu khác càng ngày càng cho thấy ích lợi của việc ăn cá. Những nguồn chất omega-3 fatty acids là flaxseed, walnuts, dầu canola hay dầu đậu nành.
Chất omega-3 fatty acids làm giảm chất béo triglycerides. Ngoài ra nó còn giúp tim bằng cách giảm huyết áp, giúp tim đập đều nhịp và giảm nguy cơ bị đông máu trong mạch. Ở những người đã từng bị heart attack, dầu cá làm giảm nguy cơ chết bất thình lình.
Nên ăn ít nhất là 2 phần cá mỗi tuần. Những loại cá sau đây chứa nhiều chất omega-3 fatty acids nhất: mackerel, trout ở hồ, herring, sardines, albacore tuna và cá hồi salmon.
Tuy nhiên, nên nhớ cá chỉ có lợi cho tim khi ta ăn cá nướng lò hay nướng vỉ, không phải cá chiên hay cá làm sandwich.
5. Thức ăn có cho thêm chất plant sterols hay stanolls
Hiện nay, nhiều nhà chế biến thức ăn có cho thêm một chất lấy từ thực vật ra là sterols hay stanols. Những chất nầy có công thức hoá học rất giống cholesterol, do đó, có thể ngăn chặn việc hấp thụ cholesterol từ ruột vào máu khiến mức này giảm xuống.
Hai thứ có cho thêm chất sterols này là magarine và nước cam. Nhờ vậy, chúng ta có thể giúp giảm cholesterol LDL khoảng 10 % mỗi ngày.
Những chất này không có ảnh hưởng lên chất mỡ triglycerides hay chất cholesterol "tốt" HDL. Nó cũng không có ảnh hưởng lên sự hấp thụ các loại vitamins tan trong mỡ được như A, D, K, và E.
Hai thứ có cho thêm chất sterols này là magarine và nước cam. Nhờ vậy, chúng ta có thể giúp giảm cholesterol LDL khoảng 10 % mỗi ngày.
Những chất này không có ảnh hưởng lên chất mỡ triglycerides hay chất cholesterol "tốt" HDL. Nó cũng không có ảnh hưởng lên sự hấp thụ các loại vitamins tan trong mỡ được như A, D, K, và E.
Chuyên đề 3: Mức độ cholesterol có lợi cho sức khỏe
Cholesterol cần thiết để cơ thể chúng ta hoạt động bình thường, nhưng mức cholesterol trong máu quá cao sẽ làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch và động mạch vành, vì vậy bạn phải duy trì mức cholesterol trong giới hạn có lợi cho sức khoẻ.
Bạn phải duy trì mức cholesterol trong giới hạn có lợi cho sức khỏe.
Biết mức cholesterol thích hợp là cần thiết nhưng quan trọng là bạn phải duy trì mức cholesterol trong giới hạn có lợi cho sức khoẻ. Nếu bạn thuộc nhóm có nguy cơ cao như bị bệnh tim, bạn lại càng phải thận trọng hơn nữa.
Phân loại cholesterol
Cholesterol có hại (LDL) có thể tích luỹ trong thành động mạch, kết hợp với việc tắc nghẽn động mạch dẫn đến bệnh tim.
Mức độ cholesterol xấu (LDL) càng cao càng gây rủi ro nhiều. Ngược lại, mật độ lipoprotein (cholesterol có lợi – HDL) cao lại giúp ngăn ngừa sự tắc nghẽn động mạch.
Phân tích mẫu máu để kiểm tra các mức độ cholesterol – được gọi là panel lipit hoặc profile lipit – có những loại điển hình sau:
- Cholesterol tổng số
- Cholesterol có lợi (HDL)
- Cholesterol có hại (LDL)
- Triglycerides – một loại chất béo thường được tạo ra bởi đồ ngọt và rượu
Để kiểm tra được chính xác, bạn không nên ăn hay uống bất cứ thứ gì (ngoài nước) từ 9 – 12 tiếng trước khi thử máu.
Chỉ số chung Cholesterol
Dưới 200 mg/dl Mức độ tốt nhất
200 – 239 mg/dl Hơi cao
Từ 240 mg/dl trở lên Cao
Cholesterol có hại(LDL)
Dưới 70 mg/dl Tốt nhất cho những người có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch
Dưới 100 mg/dl Tốt nhất cho người có khả năng mắc bệnh tim
100 – 129 mg/dl Gần tốt nhất
130 – 159 mg/dl Hơi cao
160 – 189 mg/dl Cao
Trên 190 mg/dl Rất cao
Cholesterol có lợi(HDL)
Dưới 40 mg/dl ít
40 – 59 mg/dl Tốt hơn
Trên 60 mg/dl Tốt nhất
Triglycerides
Dưới 150 mg/dl Tốt nhất
150 – 199 mg/dl Hơi cao
200 – 499 mg/dl Cao
Trên 500 mg/dl Rất cao
Nhóm nguy cơ cao
Có thể là bạn nếu bạn mắc bệnh tim hoặc bạn bị tiểu đường. Hơn nữa, hai hoặc nhiều nhân tố dưới đây có thể đẩy bạn vào danh sách nhóm nguy cơ cao:
- Hút thuốc
- Huyết áp cao
- Mức độ cholesterol có lợi thấp
- Tiền sử gia đình có người mắc bệnh tim
- Trên tuổi 45 đối với nam và hơn 55 đối với nữ.
Thay đổi lối sống
Nếu mức độ cholesterol xấu (LDL) cao, điều đầu tiên các bác sĩ thường khuyên là thay đổi lối sống:
- Ăn nhiều đồ ăn dễ tiêu, ít chất béo bão hoà và cholesterol có thể cải thiện mức độ cholesterol.
- Thừa cân và lười hoạt động sẽ tạo ra nhiều cholesterol xấu và làm giảm cholesterol có lợi, chính xác là tạo ra những điều ngược lại mong muốn.
Tập thể dục và giảm cân có thể giúp đảo ngược lại tình thế. Đặc biệt cần thiết với những nam giới có vòng eo lớn hớn 100cm và hơn 88cm đối với phụ nữ vì những người này rất dễ mắc bệnh tim mạch.
Khi những thay đổi trong sinh hoạt hằng ngày không đủ để đưa mức độ cholesterol xuống mức tiêu chuẩn, bác sĩ có thể kê đơn thuốc làm giảm cholesterol của bạn xuống. Tuy nhiên, thuốc không thể thay thế cho việc thay đổi lối sống của bạn. Vì vậy hãy kiên trì với chế độ ăn uống thích hợp điều độ và năng tập thể dục.
Rối loạn bên trong
Cholesterol cao không có các triệu chứng gì nhưng đặc tính chung là thường gặp ở những người có tiền sử gia đình có người mắc cholesterol cao hoặc bệnh tim, cũng có thể về điều kiện sống, thậm chí chế độ ăn uống của bạn hợp lí và tập thể dục đều đặn hàng ngày.
Điều đó chỉ ra rằng tại sao quan trọng nhất vẫn là kiểm tra mức độ cholesterol ít nhất 5 năm một lần. Tìm ra những vấn đề đó để giúp bạn có những biện pháp thích hợp trước khi quá muộn.
Chuyên đề 4: Thuốc và ăn uống khi cholesterol cao
DS. Bùi Văn Uy, Sức khoẻ & Đời sống
Với người bị cholesterol máu cao, điều trị bằng thuốc không phải lúc nào cũng tốt; chưa nói đến các thuốc này thường đắt, không phải ai cũng đủ khả năng mua lâu dài. Các chuyên gia tim mạch đã đưa ra giải pháp hợp lý và hiệu quả, đó là kết hợp điều trị bằng thuốc và... thức ăn.
Bình thường cholesterol là chất cần thiết và có lợi, vì nó là thành phần cấu tạo chủ yếu của màng, sợi thần kinh, hormone (như hormone sinh dục nam, nữ), vitamin (như vitamin D), giúp gan sản xuất ra acid mật, có lợi cho tiêu hóa.
Người ta chia cholesterol thành hai loại:
- Loại có lợi: Là loại phức hợp giữa cholesterol với lipoprotein phân tử lượng cao, có chức năng mang cholesterol tích trong mạch máu ra ngoài.
- Loại có hại: Là loại phức hợp giữa cholesterol với lipoprotein phân tử lượng thấp, có chức năng làm cho chất béo bám vào thành mạch gây xơ mỡ động mạch.
Bình thường lượng cholesterol toàn phần nhỏ hơn 200mg%. Khi lớn hơn 240mg% là cao. Tuy nhiên chỉ khi nào loại cholesterol có hại quá cao (lớn hơn 180mg%) và loại cholesterol có lợi quá thấp (dưới 35mg%) thì lúc đó mới có sự rối loạn cân bằng cholesterol. Thầy thuốc căn cứ vào sự rối loạn cân bằng này và tiền sử bệnh tật của người bệnh mới quyết định có dùng thuốc hay không. Ðừng vì hiểu không thấu đáo, quá lo lắng, tự ý mua thuốc dùng.
Điều trị bằng thuốc

Thuốc làm hạ cholesterol thường có 4 nhóm chính, nhưng thường dùng nhất là nhóm fibrat và statin
.
- Nhóm fibrat: biệt dược thông dụng là lypanthyl (viên 100mg, 300mg), làm giảm loại cholesterol có hại, tăng cholesterol có lợi, lập lại cân bằng bình thường về hai loại này. Nhờ thế làm giảm hẳn lượng cholesterol trong máu (nếu dùng lâu dài) và từ đó làm giảm nguy cơ xơ mỡ động mạch.
Tuy nhiên thuốc loại này thường làm tổn thương cơ (thường xảy ra hơn đối với người bị đau cơ lan tỏa), ảnh hưởng xấu đến thận và gan (làm tăng chỉ số transaminnaza). Vì thế không được dùng cho người suy gan thận, với người bình thường khi dùng cũng phải định kỳ kiểm tra chức năng gan (đo chỉ số transaminaza).
- Nhóm statin: Biệt dược thông dụng là lescol (viên 20mg). So với nhóm trên, thì nhóm này làm giảm cholesterol có hại và tăng cholesterol có lợi với mức mạnh hơn, do đó ngăn ngừa tốt hơn nguy cơ xơ mỡ động mạch và một số bệnh tim khác.
Một ưu điểm khác là thuốc được hấp thu nhanh và hoàn toàn (khoảng 98%). Thuốc có những tác dụng độc như nhóm trên nên cũng có khuyến cáo tương tự. Ngoài ra chưa có các thông tin đầy đủ cho trẻ dưới 18 tuổi nên không nên dùng cho đối tượng này.
- Nhóm niacin: biệt dược thông dụng niacin (viên nén 5, 50, 100, 150 và 500mg, ống tiêm 1ml chứa 0,17% niacin). Thuốc làm giãn nở các động mạch nhỏ, mao mạch, giảm cholesterol máu. Thường dùng phối hợp với nhóm statin.
Cần thận trọng khi dùng cho phụ nữ có thai, cho con bú, không dùng cho trẻ em, hết sức thận trọng khi dùng cho người sỏi mật, người có bệnh mạch vành. Theo dõi cẩn thận người bệnh có tiền sử vàng da, có bệnh gan hay loét tiêu hóa nếu phải dùng thuốc. Cấm dùng với người rối loạn chức năng gan, loét tiêu hóa, chảy máu động mạch.
- Nhóm resin: biệt dược thông dụng là cholestyramin hoặc cholestipal. Thuốc làm giảm loại lipoprotein phân tử lượng thấp (tức gián tiếp làm giảm cholesterol có hại) và từ đó làm giảm lượng cholesterol toàn phần xuống 25-30%, làm giảm sự tích tụ lipít ngoài thành mạch.
Tuy nhiên bản chất của thuốc là nhựa trao đổi ion, không bị hấp thu qua đường tiêu hóa, sau 3-6 tuần không dùng thuốc, lượng lipoprotein phân tử lượng thấp và cholesterol toàn phần lại tăng lên. Thuốc có thể gây táo bón và tiêu chảy, nôn, nhưng sẽ tự mất đi khi ngừng dùng.
Hiện nay, người ta còn dùng một loại thuốc mới có tên là lipotropic, thực chất là một hỗn hợp gồm các mở, vận chuyển mỡ. Hỗn hợp này làm tăng việc sản xuất ra lecithin do đó giúp hòa tan cholesterol, giảm lượng cholesterol thành mạch, ngăn ngừa nguy cơ xơ mỡ động mạch...
Những thuốc nói trên thường đắt, khó dùng. Thầy thuốc chỉ cho khi có sự rối loạn mất cân bằng cholesterol thực sự và khi tiền sử người bệnh không có bệnh tim mạch, tiểu đường.
Phòng chữa bệnh bằng ăn uống
Trong các trường hợp còn lại, thầy thuốc thường khuyên điều trị bằng cách không dùng thuốc mà thực hiện chế độ ăn thích hợp, cụ thể là:
- Phần năng lượng do chất béo cung cấp hàng ngày chỉ được chiếm dưới 30% (khoảng 700Kcalo) so với tổng năng lượng cần dùng hàng ngày (khoảng 2.200 Kcalo). Cơ cấu chất béo phải thay đổi. Giảm các chất béo bão hòa (thịt mỡ, bơ, pho-mát, margarin...). Nên ăn các loại chất béo chưa bão hòa (dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu vừng...) vì chúng làm giảm cholesterol toàn phần và giảm cholesterol có hại.
- Không ăn nhiều các thức ăn có cholesterol cao. Nhu cầu hàng ngày là 300mg cholesterol. Một lòng đỏ trứng có trung bình 215mg cholesterol. Thực phẩm hàng ngày không chỉ có trứng mà còn có các loại chứa cholesterol khác (như thịt, sữa, gan, bơ, lòng súc vật...). Mỗi tuần chỉ nên ăn ba quả trứng là vừa. Trong 100g tôm có 195mg cholesterol nhưng ít ai ăn tới 100g tôm một ngày nên người ta không đề cập đến việc kiêng tôm. Thịt có màu đỏ (bò, trâu, lợn...) có nhiều cholesterol và acid béo hão hòa và sự hiện diện cả 2 chất này là không lợi cho bệnh tim mạch.

- Ăn nhiều rau quả (vì chúng làm hạ lượng cholesterol) như các loại táo, bưởi, cam, quýt, bắp cải, cải củ, cải bẹ, cải xanh, cà rốt, cà chua, cà tím, đu đủ, tỏi, hành ta, hành tây, gừng ớt. Mỗi ngày nên ăn 200 gam rau lá 100 gam củ, quả non, 200 gam quả chín.
- Ăn cá nhiều hơn ăn thịt, nên chọn loại cá béo, loại chất béo omega-3 có trong mỡ cá béo sẽ làm giảm lipit máu, giảm cholesterol máu.
-
Như vậy, người bị cholesterol cao không nên kiêng khem quá; nếu biết cách ăn, vẫn có thể béo khỏe. Ngoài chế độ dinh dưỡng nói trên, người bệnh còn cần vận động thường xuyên kiên trì (như dọn dẹp, lên xuống cầu thang, tập thể dục, chăm sóc cây cảnh...) để giảm mập.
Chuyên đề 5: 7 nguyên nhân khiến mức cholesterol cao trong cơ thể
Thanh Hiếu
Hãy tìm hiểu nguyên nhân gây, cách làm thế nào bạn có thể giảm cholesterol và phân biệt sự khác biệt giữa cholesterol tốt và cholesterol xấu đây?
Rượu
Uống nhiều hơn lượng rượu được khuyến cáo có thể làm tăng thêm mức độ của một loại chất béo trong máu, gọi là chất béo trung tính, điều này làm tăng mức cholesterol xấu trong cơ thể bạn.
Nhưng một ly rượu vang đỏ đã được chứng minh để giúp bạn tăng mức cholesterol tốt và làm giảm đi những cholesterol xấu.
Tuổi tác và giới tính
Mức cholesterol xấu thường tăng theo tuổi tác và nam giới có nhiều nguy cơ có mức cholesterol cao hơn phụ nữ. Khi ngày một cao tuổi, bạn cần uống thức ăn ít chất béo và cố gắng tập thể dục nhiều hơn nữa.
Thêm nữa, nếu mức độ cholesterol trong cơ thể đã ở mức tương đối hay bạn là người có tiền sử gia đình mắc cholesterol cao, thì bác sĩ có thể kê đơn thuốc hoặc khuyến khích bạn ăn một số loại thực phẩm để giảm mức độ cholesterol xấu.
Thừa cân
Đây là một lý do khác để bạn thực hiện việc giảm cân! Khi trọng lượng cơ thể dư thừa làm tăng nguy cơ cholesterol cao, đặc biệt chất béo thường tụ tập ở bụng của bạn thay vì ở phần ngực, hông và đùi.
Thiếu tập thể dục
Không tập thể dục đầy đủ có thể làm tăng mức cholesterol xấu, nhưng những hoạt động nhẹ nhàng có thể nâng cao mức độ cholesterol tốt.
Các chuyên gia tin rằng nếu bạn thực hiện 30 phút các động tác tăng cường nhịp hô hấp và nhịp tim (đi bộ, chạy, bơi lội) trong vòng 5 ngày/ tuần bạn có thể tăng cholesterol có lợi cho cơ thể thêm 5% chỉ trong vòng 2 tháng.
Các vấn đề về sức khỏe
Đôi khi mức cholesterol cao là một phần báo hiệu của những bệnh tật khác như bệnh tiểu đường, suy giáp và các vấn đề với tuyến tụy. Nhưng những căn bệnh này chỉ chiếm khoảng 10-20% của mức cholesterol cao.
Thực phẩm béo
Không phải cứ thừa cân thì mới mắc bệnh cholesterol cao. Nếu bạn ăn nhiều thức ăn rán giòn, sôcôla, bánh ngọt, bánh nướng và bánh bích quy, thì sau đó mức độ cholesterol xấu trong cơ thể bạn có thể sẽ tăng khá cao.
Thậm chí, bạn ăn các loại thực phẩm với số lượng lớn như trứng, phó mát, bơ, thịt đỏ gồm thịt bò, thịt lợn và thịt cừu có thể gây ra mức cholesterol cao.
Những nhà nghiên cứu về lĩnh vực dinh dưỡng khuyên bạn nên ăn không quá 500g thịt đỏ mỗi tuần và hãy lựa chọn các loại bánh mì kẹp thịt, xúc xích và các loại thực phẩm tiện lợi có ít chất béo hơn.
Stress
Stress có vẻ là nguyên nhân gây ra rất nhiều loại bệnh hiện nay và cholesterol cao là một trong những bệnh có nguyên nhân từ thủ phạm này.
Khi mệt mỏi, hay khi gặp phải những áp lực lớn trong cuộc sống, bạn thường có xu hướng ăn đồ ăn nhanh nhiều hơn, tập thể dục ít hơn và uống rượu nhiều hơn nữa. Nhưng bạn có biết tất cả những điều này sẽ làm tăng nồng độ cholesterol xấu trong cơ thể không?
- Mọi người đều có ít hay nhiều triglycerides trong cơ thể.
- Nếu như ăn nhiều calories hơn sức tiêu thụ của cơ thể một cách thường xuyên thì mức triglycerides có thể gia tăng rất cao.
Cholesterol và triglycerides cả hai đều là chất mỡ trong máu. Cholesterol được sử dụng để cấu tạo nên các tế bào và một số kích thích tố. Cholesterol được tìm thấy tự nhiên trong cơ thể và trong thức ăn cho dù chỉ ăn một lượng nhỏ. Cả hai đều rất nguy hại đối với sức khỏe khi ở mức độ cao.
Tìm Hiểu Về Triglycerides
Nguyễn Quang Đạt
Triglycerides, chất mỡ trung tính, là một trong những dạng mỡ được tìm thấy trong máu khi làm thử nghiệm về Lipid (Lipid bao gồm cholesterol, triglycerides, lipoprotein mật độ cao (HDL) và lipoprotein mật độ thấp (LDL)).
Triglycerides được tạo ra trong cơ thể phần lớn từ các thức ăn. Khi ăn, một số calorie tiêu thụ được sử dụng cho năng lượng, và một sốkhác được chuyển đổi thành chất mỡ trung tính (triglycerides) và được lưu trữ trong các tế bào mỡ. Chúng được sử dụng khi cơ thể cần đến năng lượng.
Trong những năm gần đây, qua kết quả của các nghiên cứu, mọi người đã được khuyến cáo nên lưu ý về lượng triglycerides trong cơ thể. Khi có quá nhiều chất triglycerides trong máu, nếu không chữa trị có thể gây ra những biến chứng nguy hại đến sức khỏe sau này.
Những điều cần biết về Triglycerides:
- Mọi người đều có ít hay nhiều triglycerides trong cơ thể.
- Nếu như ăn nhiều calories hơn sức tiêu thụ của cơ thể một cách thường xuyên thì mức triglycerides có thể gia tăng rất cao.
- Nếu như bị bệnh tiểu đường, thì có thể có nguy cơ với mức triglycerides rất cao.
- Những người có mức triglycerides cao thường có nguy cơ khác như cao LDL cholesterol (mỡ xấu) và thấp lượng HDL cholesterol (mỡ tốt cần thiết cho cơ thể).
Triglycerides và cholesterol có liên quan như thế nào?
Cholesterol và triglycerides cả hai đều là chất mỡ trong máu. Cholesterol được sử dụng để cấu tạo nên các tế bào và một số kích thích tố. Cholesterol được tìm thấy tự nhiên trong cơ thể và trong thức ăn cho dù chỉ ăn một lượng nhỏ. Cả hai đều rất nguy hại đối với sức khỏe khi ở mức độ cao.
Một điểm hơi khác biệt là người có mức triglycerides cao chưa hẳn có mức cholesterol cao, nhưng ngược lại người có mức cholesterol cao thường có mức triglycerides cao.
Bảng đánh giá về mức độ cholesterol và triglycerides trong cơ thể:
1. Tổng số Cholesterol (mg / dL):
- Nếu ít hơn 200: bình thường
- 200-239: cao- Từ 240 trở lên: quá cao
- 200-239: cao- Từ 240 trở lên: quá cao
2. LDL Cholesterol (mg / dL):
- Nếu ít hơn100: bình thường
- 100-129: hơi cao hơn mức bình thường
- 130-159: tương đối cao
- 160-199: cao- Từ 200 trở lên được xem là quá cao
- Nếu ít hơn100: bình thường
- 100-129: hơi cao hơn mức bình thường
- 130-159: tương đối cao
- 160-199: cao- Từ 200 trở lên được xem là quá cao
3. HDL Cholesterol (mg / dL)
- Nam giới nếu ít hơn 40: thấp
- Nữ giới nếu ít hơn 50: thấp
- Từ 60 trở lên: tốt
- Nam giới nếu ít hơn 40: thấp
- Nữ giới nếu ít hơn 50: thấp
- Từ 60 trở lên: tốt
4. Triglycerides (mg / dL)
- Ít hơn 150: bình thường
- 150-199: cao- 200-499: quá cao
- Ít hơn 150: bình thường
- 150-199: cao- 200-499: quá cao
* Công thức để tính tổng số Cholesterol và LDL:
Tổng số Cholesterol = HDL+ LDL+ (Triglycerides x 0.20)
LDL = Tổng số Cholesterol - HDL - (Triglycerides x 0.20)
Tổng số Cholesterol = HDL+ LDL+ (Triglycerides x 0.20)
LDL = Tổng số Cholesterol - HDL - (Triglycerides x 0.20)
LDL(Low –density lipoprotein): mật độ lipoprotein thấp. Lượng LDL cao sẽ góp phần làm gia tăng nhưng mảng bám trong thành động mạch, có thể gây tắc nghẽn dẫn đến đau tim và đột quỵ.
HDL(High –density lipoprotein): mật độ lipoprotein cao giúp loại bỏ cholesterol khỏi cơ thể, do đó được xem là chất mỡ tốt.
Khi triglycerides cao sẽ tác hại đến cơ thể như thế nào?
Mức triglycerides được xem là bình thường khi ít hơn 150mg.dL. Từ 500mg/dL trở lên thì được xem là quá cao và cần phải điều trị nếu không sẽ dễ mắc phải những chứng bệnh khác về sau.
Các triệu chứng
“Mức triglycerides cao không gây ra triệu chứng có thể nhìn thấy ở bên ngoài cơ thể, tuy nhiên nếu đây là nguyên nhân gây ra bởi yếu tố ditruyền, bệnh nhân có thể nhìn thấy lớp mỡ đóng dưới da gọi là xanthomas.
Trong một số trường hợp hiếm hoi, những người có mức triglyceridesrất cao có thể phát triển viêm tuyến tụy (viêm tụy) khiến cho có thể bị đau bất ngờ, nặng bụng, buồn nôn, chán ăn, ói mửa và sốt.”
Trong một số trường hợp hiếm hoi, những người có mức triglyceridesrất cao có thể phát triển viêm tuyến tụy (viêm tụy) khiến cho có thể bị đau bất ngờ, nặng bụng, buồn nôn, chán ăn, ói mửa và sốt.”
Nguyên nhân gây ra triglycerides cao:
“Thông thường khi khám bệnh nhân có mức triglycerides cao, thì bác sĩ cũng sẽ kiểm tra và tìm hiểu xem bệnh nhân có những bệnh liên quan khác như tiểu đường, cholesterol cao, cao huyết áp, bệnh mậpphì, suy giáp (hypothyroidism), bệnh thận, và hội chứng chuyển hóa(metabolic syndrome) khác hay không để điều trị, vì đây cũng là những nguyên nhân làm tăng triglycerides ở mức rất cao.Theo tài liệu trên webmd thì một số loại thuốc sau cũng có thể làm tăng chất triglycerides trong máu: Tamoxifen, steroids, Beta-blockers, thuốc lợi tiểu (diuretics), thuốc ngừa thai, estrogen.
Ngoài ra ăn uống cũng ảnh hưởng rất cao đến mức triglycerides nếu như:
• Thường xuyên ăn nhiều calories hơn sự cần thiết của cơ thể.
• Ăn hoặc uống nhiều chất ngọt (đường)
• Uống rượu nhiều.
• Uống rượu nhiều.
Trong một vài trường hợp, triglycerides cao cũng có thể là do yếu tố di truyền trong gia đình.”
Phương pháp điều trị:
Có hai phương pháp được áp dụng để điều trị triglycerides cao trong máu:
· Thuốc
· Thay đổi cách sống (ăn uống, vận động)
1. Thuốc
Thông thường trước khi ghi toa thuốc cho bệnh nhân, bác sĩ thường tìm hiểu thêm về nguyên nhân gây ra của căn bệnh:
- Tiểu sử bệnh lý của bệnh nhân
- Đang uống những loại thuốc nào
- Yếu tố di truyền trong gia đình
- Cân lượng của bệnh nhân
- Cách thức ăn uống của bệnh nhân
Trên thị trường ngày nay có rất nhiều loại thuốc tuy nhiên vì thuốc có thể gây nhiều phản ứng phụ không tốt đối với cơ thể nhất là hại đến gan, nên bác sĩ thường đề nghị bệnh nhân nên thử máu lại sau 3 tháng để xem kết quả như thế nào sau khi dùng thuốc. Nhất là ảnh hưởng của thuốc đối với gan để thay đổi thuốc cho thích hợp.
Cũng chính vì lý do này nên đôi khi bác sĩ cần phải cân nhắc lợi hại trước khi cho bệnh nhân dùng thuốc. Nếu trong trường hợp bệnh nhân có nhiều nguy cơ đến động mạch vành (CAD: coronary artery disease), thì bác sĩ có thể tìm cách làm hạ thấp mức LDL (xấu) cholesterol và nâng cao mức HDL ("tốt") cholesterol trước khi cho bệnh nhân uống thêm thuốc để giảm chất triglycerides.
Ngoài ra bác sĩ có thể cũng sẽ điều chỉnh hoặc tạm ngưng cho bệnh nhân uống bất kỳ loại thuốc nào có thể làm tăng cao mức triglycerides.
2. Thay đổi lối sống
Nói tóm lại, triglycerides là một dạng chất mỡ cung cấp năng lượng cho cơ thể khi cần đến. Nếu như ở mức độ thấp ít hơn 150 mg/dl thì được xem là tốt nhưng nếu ở mức độ cao sẽ ảnh hưởng nguy hại đến sức khoẻ.
Nếu như thử nghiệm với kết quả cao trên 500 mg/dl thì cũng không nên quá lo sợ, bởi vì mức triglycerides có thể giảm khá nhanh trong một thời gian ngắn nếu như biết điều trị đúng cách.
Nên dùng thuốc để giúp hạ thấp mức triglycerides trước tiên nếu như có mức độ quá cao, nếu không nó có thể ảnh hưởng đến gan, lá mía và tim mạch.
Những phương pháp sau nếu được áp dụng thường xuyên cũng có thể giúp hạ thấp mức triglycerides trong cơ thể:
- Điều quan trọng nhất là phải kiêng cử rượu trong thời gian điều trị.
- Bớt ăn đồ ngọt.
- Nên kiêng ăn thịt heo, thịt bò (thịt đỏ nói chung) và thay thế bằng thịt gà.
- Nên ăn cá thay cho thịt.
- Nên ăn thêm rau cải cũng như trái cây tươi.
Lưu ý: ăn trái cây cũng nên ăn vừa phải vì đường của trái cây là fructose, nếu dư nhiều cũng biến thành triglycerides.
- Thay gạo trắng bằng gạo lức và cũng nên áp dụng phương pháp thực dưỡng Osawa (ăn gạo lức với muối mè) trong một thời gian.
- Tránh ăn thức ăn có nhiều chất mỡ và tinh bột
- Ăn uống chừng mực và áp dụng phương pháp 2-3-1. Sáng ăn tương đối, trưa ăn nhiều và ăn ít vào buổi tối.
- Nên vận động nhẹ như tập thể dục, dưỡng sinh khí công, đi bộ nhanh…ít nhất là 30 phút mỗi ngày.
- Có thể tập thêm phất thủ liệu pháp từ 30 – 60 phút vào mỗi tối trước khi ngủ. để giúp cơ thể đốt bớt calories thặng dư sau buổi ăn.
Chỉ số Triglyceride trong máu có liên quan mật thiết tới tim mạch
Nếu bạn đang ở lứa tuổi trung niên và bạn không biết mức Triglyceride-huyết của mình, có thể bạn đang mang nguy cơ về tim mạch mà không biết.
Có thể nhiều người đã biết thế nào là “bad cholesterol” (LDL) và “good cholesterol” (HDL) và vai trò của cholesterol như thế nào trong bệnh tim, nhưng triglyceride cũng có vai trò rất quan trọng.
Có thể nhiều người đã biết thế nào là “bad cholesterol” (LDL) và “good cholesterol” (HDL) và vai trò của cholesterol như thế nào trong bệnh tim, nhưng triglyceride cũng có vai trò rất quan trọng.
Triglycerides là gì?
Triglyceides là những hợp chất hóa học cung cấp cho cơ thể năng lượng cẩn thiết cho sự chuyển hóa (metabolism). Tryglerides là dạng chất béo thông thường nhất mà chúng ta tiêu thụ và là thành phẩn chính yếu cùa các dẩu thực vật cũng như mỡ động vật ( animal fats)
Phân tử triglyceride là một dẫn xuất của hoá chất glycerol có chứa ba acid béo (tri = ba phân tử acid béo + glyceride = glycerol) . Các thành phần này khi vào ruột non sẽ phân tách ra để rổi sau đó tái kết hợp vớicholesterol để tạo thành chylomicrons. Đây là nguổn năng lượng của các tế bào trong cơ thể. Các tế bào mỡ và tế bào gan (liver cells) được dùng làm kho tổn trữ và sẽ phóng thích chylomicrons mỗi khi cơ thể cẩn tới năng lượng.
Mức triglyceride trong máu cao thì có hại ra sao?
Mức triglyceride cao là một yều tố rủi ro gây bệnh vữa xơ động mạch (atherosclerosis), và sự tạo thành các mảng mỡ làm các động mạch hẹp lại có thể dận tới đột quỵ (stroke ) hoặc cơn đau tim (heart attack) . Mức triglyceride cao một cách rõ rệt cũng có thễ gây bệnh gan mỡ (fatty liver disease) , bệnh viêm tụy (pancreatitis.)
Mức triglyceride trong máu cao cũng có thể có liên quan đến nhựng nguyên nhân khác như
v bệnh tiểu đường khó điểu chỉnh ( poorly-controlled diabetes)
v bệnh thận (kidney disease)
v thuốc men ( như beta blockers, thuốc lợi ti ểu, thuốc ngừa thai)
Uống rượu có thể làm tăng mức triglyceride trong máu vì kích thích gan sản xuất thêm acide béo. Tuy nhiên uống rượu có điều độ ( một ly rượu vang, một lon bia hay một ounce rượu mạnh mỗi ngày) có thể quân bịnh sự gia tăng này của mức triglyceride-huyết. Thật vậy uống rượu điều độ có thể tăng nhẹ mức cholesterol tốt (HDL) trong máu và rượu vang đỏ có nhiểu chất chống oxi hoá có thễ giảm nguy cơ bị bệnh tim(heart disease) Nhưng không phải vì điểu này mà chúng tôi khuyên các bạn nên bắt đầu uống rượu.
Làm sao biết mức triglyceride trong máu cao?
Muốn kiểm tra mức triglyceride-huyết thì phải lấy máu đem thủ nghiệm. Thường ra khi thử máu người ta đo cùng một lúc mức triglyceride, cholesterol HDL và cholesterol LDL (cả ba gộp trong bảng lipoprotein-lipoprotein panel). Trước khi thử máu bệnh nhân phải nhịn ăn 12 tiếng đồng hổ .
Mức triglycride-huyết được xem là bình thưởng nếu dưới 150mg mỗi decileter 150mg/dL)
Từ 150 tới 200mg/dL là mức biên giới (bordeline)
Từ 200mg/dL trở lên là mức cao (rủi ro bị vữa xơ động mạch tăng và do đó dễ bị bệnh động mạch vành và đột quỵ)
Trên 500mg/dL là mức quá cao ( có thể gây viêm tụy)
Làm sao hạ thấp mức triglyceride
Tiến sĩ Ozner nói: “Tin đáng mừng là có những chiến lược phòng ngừa rất hữu hiệu mà bạn có thể theo để hạ thấp mức triglyceride-huyết”.
Tiến sĩ Ozner nói: “Tin đáng mừng là có những chiến lược phòng ngừa rất hữu hiệu mà bạn có thể theo để hạ thấp mức triglyceride-huyết”.
Đầu tiên là thực phẩm giàu chất béo omega-3 và các loại cá sống ở vùng nước lạnh là tốt nhất, đặc biệt như cá hồi, cá thu, herring, cá mòi…”Các loại hạt và đậu như đậu óc chó (walnuts), hạt gai (flaxseed) , pecans, hazenut, đậu nành đều dồi dào chất béo omega-3 và bạn cũng có thể hỏi ý kiến bác sĩ để dùng thêm các loại dinh dưỡng bổ sung (supplements).
Các chuyên gia khuyên bạn nên tập trung vào kiểu ăn uống của người dân Địa Trung Hải như cá và gà, ngũ cốc nguyên hạt, đậu, rau quả tươi, nhiều tỏi, dầu ô-liu và uống rượu vang đỏ ở mức vừa phải trong các bữa ăn.
Cần tránh các loại thực phẩm chứa nhiều chất béo trans fat có nhiều trong các thứ thực phẩm làm sẵn đóng gói, nhất là bánh kẹp ( cookies) và bánh qui dòn (crackers). Trái lại loại xô-côla đen, phó-mát Parmesan thì nên dùng nhưng không đươc lạm dụng.Trans fat là thứ chất béo nguy hiểm nhất vì chẳng những làm giảm lượng HDL (tốt) mà còn làm gia tăng hàm lượng LDL (xấu).
Các chuyên gia khuyên bạn nên tập trung vào kiểu ăn uống của người dân Địa Trung Hải như cá và gà, ngũ cốc nguyên hạt, đậu, rau quả tươi, nhiều tỏi, dầu ô-liu và uống rượu vang đỏ ở mức vừa phải trong các bữa ăn.
Cần tránh các loại thực phẩm chứa nhiều chất béo trans fat có nhiều trong các thứ thực phẩm làm sẵn đóng gói, nhất là bánh kẹp ( cookies) và bánh qui dòn (crackers). Trái lại loại xô-côla đen, phó-mát Parmesan thì nên dùng nhưng không đươc lạm dụng.Trans fat là thứ chất béo nguy hiểm nhất vì chẳng những làm giảm lượng HDL (tốt) mà còn làm gia tăng hàm lượng LDL (xấu).
Tránh uống rượu mạnh, các thứ nước ngọt có đường.
Khi mua thực phẩm bạn nên tập thói quen nhìn vào bảng chất cấu thành thực phẩm (ingredients list) ghi trên bao bì và hạn chế việc mua nhiểu những thực phẩm mà bảng nói trên có ghi những chữ như sau: sucrose, glucose, fructose, corn syrup, high-fructose corn syrup, maltose, honey or molasses.
Nên tập thể dục thường xuyên vì đây là con đường đúng đắn để làm giảm cân. Nếu bạn không có thì giờ cũng nên tập mội tuần 3 lần, mỗi lần từ 30 đến 45 phút. Bạn nên tập cho đến khi đổ mồ hôi và nếu bạn “cảm thấy nhịp tim’” tăng nhanh một chút là dấu hiệu tốt.
Và theo NHLBI (National Heart, Lung and Blood Institute ) thì bạn phải bỏ thuốc lá, nếu đang nghiện.
Và sau hết nếu mức triglyceride vẫn còn cao, bạn sẽ phải gặp bác sĩ để có các thứ thuốc giảm mỡ như fibrates, statins và niacin …Khi mua thực phẩm bạn nên tập thói quen nhìn vào bảng chất cấu thành thực phẩm (ingredients list) ghi trên bao bì và hạn chế việc mua nhiểu những thực phẩm mà bảng nói trên có ghi những chữ như sau: sucrose, glucose, fructose, corn syrup, high-fructose corn syrup, maltose, honey or molasses.
Nên tập thể dục thường xuyên vì đây là con đường đúng đắn để làm giảm cân. Nếu bạn không có thì giờ cũng nên tập mội tuần 3 lần, mỗi lần từ 30 đến 45 phút. Bạn nên tập cho đến khi đổ mồ hôi và nếu bạn “cảm thấy nhịp tim’” tăng nhanh một chút là dấu hiệu tốt.
Và theo NHLBI (National Heart, Lung and Blood Institute ) thì bạn phải bỏ thuốc lá, nếu đang nghiện.
.
Vĩnh Bảo sưu tầm 25/9/2012

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét