Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012

Mật ong


Mật ong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Một chai mật ong

Một tấm tổ ong
Mật ong được tạo thành từ chất ngọt do ong thu thập được trong các bông hoa. Theo quy định của Hội đồng Ong mật Quốc gia Mỹ và nhiều quy định về thực phẩm quốc tế khác quy định rằng "mật ong là một sản phẩm thuần khiết không cho phép thêm bất kỳ chất gì vào...bao gồm nhưng không giới hạn trong, nước và các chất ngọt khác". Bài này chỉ đề cập về mật ong do ong mật (chiApis) tạo ra; mật do các loài ong khác hay các loài côn trùng khác có các đặc tính rất khác biệt.[1]

[sửa]
Sơ lược

Một con ong mật
Mật ong có nhiều chất ngọt hơn đường kính và có các tính chất hóa học hấp dẫn cho việc làm bánh.[2] Mật ong có hương riêng biệt nên nhiều người thích ăn mật ong hơn đường và các chất ngọt khác.
Phần lớn các vi sinh vật không sống trong mật ong vì mật ong có hoạt tính nướcthấp of 0,6[3]. Tuy nhiên, điều quan trọng là mật ong thường xuyên chứa các nội bào tử các vi khuẩn không hoạt động Clostridium botulinum mà có thể nguy hiểm cho trẻ nhỏ do các nội bào tử này có thể chuyển hóa thành các vi khuẩn tạo ra chất độctrong ruột trẻ nhỏ và dẫn đến bệnh tật và thậm chí tử vong[4](See "Precautions" below).

[sửa]Quá trình lấy mật ong

Việc nghiên cứu các phấn hoavà các bào tử trong mật thô (melissopalynology) có thể xác định các nguồn phấn làm mật[5]. Bởi vì ong mật mang một điện tích tĩnh điện và có thể hút các vật khác, kỹ thuật tương tự như các kỹ thuật của melissopalynology có thể sử dụng trong việc nghiên cứu các chất phóng xạ của môi trường khu vực, hoặcbụi, hay ô nhiễm[6][7].
Tác dụng thêm của việc ong lấy mật là sự thụ phấn cần thiết cho các cây có hoa[8].
Người nuôi ong khuyến khích việc sản xuất dư thừa lượng mật ong trong tổ ong và có thể lấy bớt mà không gây hại cho đàn ong. Khi nguồn thực phẩm cho ong bị thiếu, người nuôi ong có thể bổ sung dinh dưỡng cho ong [9].

[sửa]Dinh dưỡng

Mật ong
Giá trị dinh dưỡng 100 g (3,5 oz)
Năng lượng1.272 kJ (304 kcal)
Carbohydrat82.4 g
Đường82.12 g
Chất xơ thực phẩm0.2 g
Chất béo0 g
Protein0.3 g
Nước17.10 g
Riboflavin (Vit. B2)0.038 mg (3%)
Niacin (Vit. B3)0.121 mg (1%)
Axit pantothenic (Vit. B5)0.068 mg (1%)
Vitamin B60.024 mg (2%)
Axit folic (Vit. B9)2 μg (1%)
Vitamin C0.5 mg (1%)
Canxi6 mg (1%)
Sắt0.42 mg (3%)
Magie2 mg (1%)
Phospho4 mg (1%)
Kali52 mg (1%)
Natri4 mg (0%)
Kẽm0.22 mg (2%)
Tính cho 100 g
Tỷ lệ phần trăm theo lượng hấp thụ hàng ngàycủa người lớn.
Nguồn: Cơ sở dữ liệu USDA
Mật ong là hỗn hợp của các loại đường và một số thành phần khác. Về thành phần carbohydrat, mật ong chủ yếu là fructose (khoảng 38,5%) và glucose (khoảng 31,0%)[2]. Các carbohydrat khác trong mật ong gồm maltose, sucrose vàcarbohydrat hỗn hợp[2]. Trong mật ong, các vitamin và chất khoáng chỉ xuất hiện ở dạng vết[10][11] Mật ong cũng chứa một lượng rất nhỏ các hợp chất chức năng nhưchất chống ôxy hóa, bao gồm chrysinpinobanksinvitamin Ccatalase vàpinocembrin[12][13]Bản mẫu:Vague. Thành phần cụ thể của mật phụ thuộc vào hoa mà ong hút mật[10].
Thành phần của mật ong thông dụng[14]:
Chỉ số glycemic của mật ong là từ 31 đến 78[15].
Khối lượng riêng của mật ong là 1,36 kg/lít (nặng hơn nước 36%)[16].
cũng bởi những cấu tạo đặc biệt về mặt dinh dưỡng trên mà mật ong còn được dùng để điều chỉnh trọng lượng cơ thể khá an toàn. Tuỳ theo cách sử dụng mà mật ong có thể khiến ta béo lên hay gầy đi. Cụ thể, nếu sử dụng mật ong pha với nước ấm (nếu pha với nước nóng thì sẽ làm mất các hoạt chất của mật ong) dùng để uống trước bữa ăn hay uống vào buổi sáng sớm hay thay thế luôn bữa ăn tối thì bạn có thể giảm cân mà không thấy mệt mỏi bởi vì năng lượng được cung cấp bởi mật ong là rất lớn, đủ đáp ứng nhu cầu năng lượng của cơ thể. Theo một số nhà khoa học thì trong mật ong có chứa những chất giúp đánh tan mỡ và làm giảm tiết dịch vị của dạ dày, khiến bạn không chỉ cảm thấy no lâu mà các mô mỡ cũng bị tiêu diệt một cách âm thầm. Với người muốn tăng cân thì chỉ cần ăn hoặc uống mật ong sau bữa ăn, thì mật ong giúp ăn ngon miệng hơn và do năng lượng lớn nên sẽ làm tăng cân. Tuy nhiên mật ong làm giãn mạch nên trước khi sử dụng mật ong như một thực phẩm lâu dài hay khoái khẩu thì nên tham khảo ý kiến bác sĩ.

CÁCH PHÂN BIỆT MẬT ONG THẬT - MẬT ONG GIẢ


Lấy một tờ giấy trắng sạch và bôi mật ong lên đó. Mật tốt sẽ thấm rất chậm, còn loại giả thì chỉ vừa phết lên là thấm ướt ngay.


Mật ong giả là loại mật đã bị hoà lẫn với nước đường, muối ăn, đạm hoá học, tinh bột, đường mạch nha... Mùi thơm của nó nhạt, có thể có mùi lạ, khi nuốt thấy có cảm giác hơi vướng cổ. Còn mật ong nguyên chất thì khi nhấm có vị ngọt đậm, mùi thơm đậm, ngọt nhưng không ngấy.

Mật ong nguyên chất thì khi khuấy thấy rất mềm, thò ngón tay vào không thấy cảm giác sạn, bỏ vào miệng nếm thì thấy tan rất nhanh. Còn mật ong “chế biến” thì khi quấy có cảm giác cứng, khó tan.

Mật ong thật đặc quánh, độ kết dính cao, thơm, có các màu trắng, vàng nhạt hay hồng nhạt, trông rất trong.

Tuy nhiên, rất khó phân biệt mật ong giả và thật bằng mắt thường. Sau đây là vài cách thử:

Dùng chiếc đũa tre sạch khêu một ít mật ong rồi kéo thành sợi. Sợi kéo dài sẽ đứt; nếu sau đó mật co lại thành cục tròn thì đó là loại tốt.

Dùng một que tre sạch khuấy đều lên, nếu trong mật ong có trộn lẫn các chất khác thì bạn sẽ thấy màu đục hiện lên, còn mật ong chính hiệu thì không có hiện tượng ấy.

Dùng một sợi thép hơ nóng đỏ lên chọc vào mật ong, nếu thấy sủi bọt phả hơi lên thì đó là mật ong giả, người ta đã trộn lẫn khá nhiều nước.

Lấy một phần mật ong và 5 phần nước quấy đều rồi đậy lại, để một ngày, nếu không thấy có chất lắng xuống thì đó là mật ong tốt.

Lấy một phần mật ong, 2 phần nước cơm, 4 phần cồn 95%, đem khuấy đều lên, đậy lại để trong một ngày đêm. Nếu có chất tạp lắng xuống thì đó không phải mật ong tinh khiết, tạp chất lắng càng nhiều chất lượng càng kém.
Theo vtv



Thuốc từ ong mật

Ong mật thuộc loài côn trùng cánh màng, cơ thể chỉ dài khoảng 1-1,5cm. Ong mật tạo ra hàng loạt các sản phẩm có giá trị, được con người tận dụng làm các dược liệu phục vụ cho sức khoẻ của mình. Quen thuộc hơn cả phải kể đến mật ong và sữa ong chúa, ngoài ra sáp ong, keo ong, nọc ong cũng được sử dụng làm thuốc.
- Mật ong, một sản phẩm được tạo ra từ ong thợ, sau khi hút mật từ các loại hoa, rồi qua công đoạn tinh luyện mà thành. Mật ong quả là một thứ thuốc hoàn chỉnh; nó không những bổ sung một nguồn năng lượng rất dồi dào có thể dùng dưới dạng mật ong tươi, có vị thơm, ngọt và bổ: 100g mật ong, có thể cung cấp tới 335 calo, còn bổ sung một lượng vitamin và các nguyên tố vi lượng Ca, Fe, P, Mg đáng kể. Theo YHCT, mật ong có vị ngọt, tính bình, không độc, vào 5 kinh: tâm, phế, tỳ, vị và đại tràng có  tác dụng kiện tỳ, nhuận phế, kháng khuẩn. Dùng trong các trường hợp tiêu hoá kém, trẻ em chậm lớn, biếng ăn, người lớn cơ thể yếu mệt, mới ốm dậy ngày 1-2 thìa cà phê, pha loãng với nước ấm. Uống nhiều ngày trong tuần. Mật ong có khả năng làm giảm độ acid của dịch vị và đưa nó trở lại điều kiện bình thường, có thể dùng trị viêm loét dạ dầy, tá tràng tốt. Có thể  dùng riêng hoặc đem pha vào nước sắc của các vị thuốc kiện tỳ: bạch truật, hoàng kỳ, hoài sơn, đảng sâm để uống. Còn dùng trị ho, ho khan, nhất là với trẻ sơ sinh, dùng mật ong, với các lát quất, hoặc  lát chanh hay quất hồng bì, hấp lên mặt nồi cơm vừa cạn. Gạn lấy dịch cho uống. Dùng ngoài, bôi lên các vết bỏng (nhẹ) sẽ giảm đau và nhanh lên da non.
GacKeoOngKienGiangGacKeoOng1
 Ong mật và sáp ong mật.
- Sữa ong chúa
là chất sánh, mầu trắng hoặc hơi vàng, là một chất dinh dưỡng, rất bổ để nuôi các ấu trùng. Sữa ong chúa rất giàu acid amin, trong đó có nhiều loại acid amin cần thiết, như cystein, còn có các vitamin nhóm B, acid hữu cơ, các kích thích tố, các enzym. Sữa ong chúa có vị ngọt hơi chua, có tác dụng bổ dưỡng rất cao, còn có tác dụng tăng trọng. Do đó nó có tác dụng bồi bổ cơ thể rất tốt, có thể dùng cho trẻ em suy dinh dưỡng, người già yếu mệt, nhất là với những cơ thể mới ốm dậy, người gầy, da xanh xao. Do có các chất kích thích tố, sữa ong chúa có thể dùng cho các trường hợp sinh lý suy giảm, phụ nữ kinh nguyệt không đều, nam giới, khả năng sinh tinh kém…
- Sáp ong có thể chất mềm, có màu từ trắng đến vàng ngà, được tách ra từ tầng sáp của  tổ ong. Sáp ong chứa nhiều vitamin A, các acid béo no và không no. Sáp ong có vị ngọt, hơi ấm, không độc. Có tác dụng tiêu độc, làm se, cầm máu, chống loét. Có thể dùng sáp ong 20g, uống với rượu ấm để chữa băng huyết, hoặc dùng sáp ong 10g, câu đằng 20g, bồ kết 2 quả. Tất cả tán nhỏ, trộn đều, đốt xông khói, trị viêm ống tai.  Sáp ong  còn là thành phần của cao dán nhọt, cao hút mủ hoặc dùng làm vỏ bao để bảo quản các viên tễ (quy tỳ hoàn, sâm nhung bổ thận… ).
keo-ong
 Keo ong.
- Keo ong
còn gọi là phong giao, là sản phẩm được các con ong thợ tạo thành từ nhựa của các loài cây, luyện với chất sáp ong mà thành. Keo ong có tới 55% dầu nhựa, 10% tinh dầu và khoảng 30% chất sáp, 5% phấn hoa. Là sản phẩm có thể chất khô, mùi thơm khi hơ nóng hơi mềm ra. Trong keo ong còn có nhiều thành phần flavonoid. Do có tác dụng kháng khuẩn tốt, keo ong được dùng trị các thể chàm và một số bệnh ngoài da. Còn có tác dụng ức chế khối u, ung thư tuyến tiền liệt, hoặc dùng rượu keo ong 10 % cho những người bị nhiễm phóng xạ, cho kết quả tốt.
- Nọc ong là chất lỏng rất sánh không màu. Dùng nọc ong làm chất để thuỷ châm vào các huyệt vị trên cơ thể, trị nhiều chứng bệnh như đau dây thần kinh, đau cơ nhục, đau xương khớp. Thường người ta dùng cái panh kẹp con ong, rồi cho ong châm trực tiếp vào các huyệt. Phương pháp châm bằng nọc ong cho hiệu quả rất cao.
Vĩnh Bảo sưu tầm 7/9/2012

Không có nhận xét nào: